|
LTS.
Bài học Anh ngữ nói chung chủ yếu là bàn về tiếng Anh thời sự,
đã đọc được trên báo chí, nghe được trên đài phát thanh truyền
hình, với các độc giả trong tinh thần “Tôi học, Anh học, Chị
học, Em học, Chúng ta cùng học!”. Các từ vựng, đoản ngữ, tục
ngữ, thành ngữ, châm ngôn... tiếng Anh, tiếng Việt sẽ được lồng
vào những mẩu chuyện vui, cà kê dê ngỗng, cốt là giúp cho người
học dễ nhớ, vui mà học được. Những lời bàn tán ở đây nhất định
không thể được coi là những lời “thánh phán”, mà các độc giả,
tất nhiên có những người biết chuyện, sẽ được mời đóng góp ý
kiến của mình hoặc đặt câu hỏi để chúng ta có dịp cùng nhau tìm
hiểu, đồng thời chia xẻ niềm vui chung là học hỏi lẫn nhau. Bài
học còn có thêm phần liệt kê những kết hợp ngữ (collocations)
trong tiếng Anh, tiếng Việt để người học tham khảo.
Mai ta vào
chùa trong
Gần 50 năm trước, tôi có một anh bạn rất thân,
cùng mê chơi bóng bàn như nhau, là Võ Thanh Duyên, người gốc Bến
Tre, phụ trách “Chương trình Nhạc Ngoại quốc Yêu cầu” cuả Đài
Phát thanh Sài Gòn. Chương trình này được phát đi vào trưa Thứ
Bảy hàng tuần. Anh thường bỏ tên tôi vào đó mà bảo là bài hát do
Trịnh Nhật yêu cầu. Trong vô số các bài hát thịnh hành thời tôi
còn ở tuổi học trò, có một bài tôi thường được nghe là bài “Put
your head on my shoulder!” (Vai anh em hãy tựa đầu!) do Paul
Anka hát. Đại loại lời ca là như thế này:
Put your head on my shoulder
Hold me in your arms, baby!
Nói về “vai tựa đầu”, thì mới đây, trong phần
cuối bài tạp ghi “Làm sông” (serving as a river), nhà văn nữ
Nguyễn Ngọc Tư có viết:
“… Càng nhìn chị anh càng nhói, đuôi mắt kia đã
hằn vết chân chim (crow’s-feet), chưa từng được hôn, mái tóc kia
giờ chớm bạc, chưa một lần nào, chưa người đàn ông nào vuốt nó,
âu yếm chải nó trong những chiều phai. Và những lúc mỏi mệt
(moments of fatigue), cũng không có bờ vai rộng (a broad
shoulder) nào cho chị tựa vào (to lean on)…”
Nữ bác sĩ họ Lâm, một thân hữu trong bushwalking
group (nhóm đi bộ xa trong rừng thưa, trên những đoạn đường
hoang vắng, gập ghềnh) của chúng tôi, cũng đã có lần viết đâu
đó:
Mượn tạm anh bờ vai,
Nghe đời nghiêng một thoáng.
(Mì ăn liền)
Bờ vai anh nào thì “Bố ai mà biết được?” Này!
Anh Tấn, anh Nhẫn, anh Minh, anh Nhật …chớ vội tưởng bở! Gái
Miền Nam nhiều khi họ “nói dzậy mà không phải dzậy” đâu nghe mấy
cha nội!
Tôi đã có lần “chôm chỉa” cái “tứ thơ” của vị y
sĩ có bút hiệu (pen name) “Mì ăn liền” (instant noodles), mà vì
lúc đặt bút viết thì lại chỉ nhớ mang máng, thành thử khi gửi
lên mạng nhắn nhủ mấy cô em gái phương xa đã bị “thất bổn” như
thế này:
Cho em mượn tạm bờ vai
Để thấy đời nghiêng nghiêng bóng.
Bờ vai này, nếu có cho mượn, chắc “bờ vai” phải
vượt đại dương (cross the ocean) mới mong các em lấy đó mà tựa
vào được. Trong một cảnh cuốn băng do Thuý Nga phát hành đã khá
lâu, khán giả Việt Nam trên toàn cầu đã thấy người em gái
“Nguyễn Cao Kỳ Duyên” ngả đầu, tựa trên bờ vai của “Nguyễn Ngọc
Ngạn”, tôi chắc người em gái họ Nguyễn này lúc đó hẳn thấy đời
mình “nghiêng nghiêng bóng” đến độ nào. Lại nữa, cả hai nhân vật
trong cuốn băng nhạc đều đã ở vào giai đoạn, nói theo Nguyễn
Ngọc Tư là, “Cuối mùa nhan sắc”, thì lại càng đáng quí biết là
nhường bao!
Nhưng thôi, tạm gác chuyện Emcee (người giới
thiệu chương trình) này lại cái đã, người em gái “lương y như từ
mẫu” mà đôi lúc tôi còn gọi là Golden Phoenix (Kim Loan) mới đây
có viết meo (email) hỏi tôi như sau:
Chào anh Nhật.
Bây giờ ... ra Giêng rồi anh mới lì-xì. Thôi thì, có còn hơn
không. Có người hỏi Loan: chồng qua đời gọi là “goá phụ”.
Còn “thôi chồng”, “thôi vợ” hoặc “chết
vợ” có từ ngữ nào không? Nếu các anh chị khác có câu trả lời,
xin cho biết. KL.
Sau một đôi lời hứa hẹn hoãn binh, tôi nay xin
được trả lời:
Trong ngôn ngữ học, người ta có nói đến cái gọi
là “lexical gap” (lỗ hổng/kẽ hở/ô trống từ vựng) là để chỉ
trường hợp trong ngôn ngữ tự nguyên thuỷ không có từ mà lẽ ra
phải có, theo lối người ta suy luận. Ví dụ như trong tiếng Việt
chúng ta khi nói “tiền bối” (người có danh vọng về lớp trước mà
đã qua đời), thì theo suy luận phải có từ trái nghĩa là “hậu
bối” (= người có danh vọng về lớp sau mà đã qua đời). Ấy vậy mà
trong cuốn Việt Nam Từ Điển cuả Đào Duy Anh, do NXB Hanoi
Imprimérie Trung Bắc Tân Văn phát hành năm 1931, khi liệt kê từ
“hậu bối” này thì lại chỉ có nghiã là “ung nhọt ở lưng” (=
anthrax in the back, “bệnh than”). Như thế cho ta thấy một cái
“ô trống từ vựng” đối nghiã với từ “tiền bối”.
Ở thời điểm đó, từ “hậu duệ” [= con cháu đời
sau, con ông cháu cha, thường thuộc loại dòng dõi (descendants,
scion)] cũng chưa thấy được liệt kê trong từ điển của Đào Duy
Anh. Còn Đại Từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB
Văn hoá Thông tin ở Việt Nam phát hành năm 1998, thì tìm mỏi mắt
cũng không thấy cả hai từ “hậu bối” và “hậu duệ”. Các từ điển
khác sau này như từ điển Việt-Anh cuả Nguyễn Văn Tạo, xuất bản
tại Sài Gòn trước năm 1975 thì ‘chua’ nghĩa “hậu bối” là
“younger generations/future generations, posterity” (= thế hệ
trẻ sau này/thế hệ tương lai/con cháu nối dõi” và nghiã “hậu
duệ” là “descendants, posterity” (= con cháu thuộc dòng dõi ai
đó/con cháu nối dõi).
Một thí dụ nữa có thể là từ ngữ “đại tiện” (to
have a dump/to pass a stool/to have a bowel movement), và từ
“tiểu tiện” (to urinate/to make water), thường được dùng rất
thông dụng, nhưng đã có thời kì người ta tưởng như có một cái
“khe hở từ vựng” (lexical gap) trong tiếng Việt khi nói đến tình
huống “không đại”, “không tiểu” mà cái gì “trung trung ở giữa”
thì chẳng hiểu có từ để dùng không? Tôi khá chắc chắn là nhiều
người mà tiếng bản ngữ là tiếng Việt, kể cả tôi, đã tưởng là
không có “từ”, cho đến khi đọc truyện “Ly Thân” của Trần Mạnh
Hảo (người đã có thời được đồng bào hải ngoại xưng tụng là nhà
văn phản kháng), thì mới vỡ nhẽ ra là có từ trung tiện (= fart)
để chỉ cái thế “trung dung” đó, khi ông tả về một buổi ngắm
trăng của các đồng chí:
Trong không khí ngắm trăng tập thể nghiêm trang
tới mức tôn giáo, thì không hiểu kẻ phá hoại, tên phá bĩnh nào
ẩn núp như sâu bọ trong hàng ngũ, kẻ liên minh với giai cấp bóc
lột như tiếng gọi thời đó, bỗng bất ngờ phóng ra một cái trung
tiện kêu ngang pháo lép. Như một cơn thọc lét tập thể, ngay sau
khi tiếng rắm mất lịch sự đầy chất đế quốc phong kiến kia, mọi
người bỗng phá ra cười sằng sặc. (Ly Thân, NXB Quê Mẹ, Paris 90,
trang 84)
Biết là có rồi, nhưng tôi cũng tò mò tra lại chữ
“trung tiện” trong Việt Nam Từ Điển cuả Đào Duy Anh cho chắc,
thì thấy cụm từ này được giải nghiã là “cái rắm” (= fart) và tác
giả họ Đào còn cho thí dụ: “Đánh trung tiện” (= to break wind).
Sách thì nói vậy, chứ người đời chẳng có ma nào “nói chữ” đến
thế. Nôm na thì Bắc-kì gọi hành động đó là “đánh rắm” (= to blow
a fart), còn Nam-kì thì kêu bằng “đánh địt”. Eo ơi! Sao cái
“cụm từ” này tôi nghe thấy hãi quá!
Kể cũng phải nói thêm ở đây, có những tình huống
mà ngôn ngữ tự nó có “lỗ hổng từ vựng”, người sử dụng ngôn ngữ
thấy có khuynh hướng muốn phản kháng lại, tìm cách “lấp lỗ hổng”
(fill in the gap) ấy bằng cách tạo từ mới (coin a word) hay dùng
từ có nghĩa tương đương để tạo một thành ngữ mới (coin a
phrase). Tỉ dụ như trong tiếng Việt khởi thuỷ chỉ nói đến “lên
xe hoa” (to get married) dùng để chỉ “người con gái đi lấy
chồng”. Ai cũng biết “hoa”(flower) dùng theo tiếng Bắc, còn
tiếng Nam thì kêu bằng “bông”, như thế “hoa” đồng nghiã với
“bông”, nên người sử dụng ngôn ngữ đã giễu chơi, bông đuà mà nói
đến chuyện cô này, cô nọ “lên xe bông”. Cũng chính vì chuyện
“bông đuà” mà rồi chẳng mấy hồi thành ngữ “lên xe bông” này sẽ
chính thức đi vào Việt ngữ.
Giải thích “vòng vo tam quốc” như trên cũng chỉ
cốt để tôi dẫn đến chuyện trả lời cho câu hỏi của chị Kim Loan:
“Chồng qua đời gọi là “goá phụ”. Còn “thôi chồng”, “thôi vợ”
hoặc “chết vợ” có từ ngữ nào không?” Cứ theo như cái í mà chị
muốn hỏi thì là: “Có từ ngữ Hán-Việt nào để thay cho những từ
ngữ nôm na “thôi chồng”, “thôi vợ” hoặc “chết vợ” hay không?”
Tôi có thể nói ngay tiếng Việt có “goá phụ” mà
không có “goá phu*” (= người đàn ông chết vợ/goá vợ) cho thấy
đây là trường hợp “ô trống từ vựng”. Tiếng Anh thì có cả hai:
widow (= goá phụ) còn widower (= goá vợ). Trong lúc “trà dư tửu
hậu” với nhà thơ Trần Thiện Hiếu, một vị trưởng lão trong cộng
đồng người Việt ở Sydney này, tôi còn được bác cho hay rằng văn
hoá Việt Nam của mình vốn chủ trương: “Trai năm thê bẩy thiếp”,
thì làm gì có chuyện ông nào là “goá phu*” (= người đàn ông chết
vợ/ goá vợ). Cụ Hiếu hình như muốn khẳng định với tôi rằng làm
sao mà “goá vợ” được khi mà “vợ cả vợ hai đều là vợ cả”?
Còn trường hợp “thôi chồng”, “thôi vợ” thì tôi
xin chịu, mà chỉ có thể giải thích bằng “ô trống từ vựng”, một
đặc trưng của ngôn ngữ. Tiếng Anh có từ luật pháp để chỉ cả hai
trường hợp thôi chồng/thôi vợ (= divorcee) mà tiếng nửa Hán nửa
Việt thì kêu bằng “người li dị chồng/li dị vợ”.
Nói chuyện vợ chồng “bỏ nhau, thôi nhau, xù
nhau” thì nói bao giờ cho dứt. Các cụ đã bảo “Tình chỉ đẹp khi
còn dang dở” mà sao chúng ta không chịu nghe. Nhưng Quí Vị, Quí
Bạn ơi! Bài học Anh ngữ tuần này là chuyện “Đi lễ chùa” cơ!
Nghe Phan Bách rổn rảng, trên Đài SBS Radio
Sydney, một buổi sáng sau Tết Đinh Hợi, phỏng vấn Phật tử đi lễ
chùa, một ngôi chùa cách Sydney chừng 60 cây-số về phiá Tây Bắc,
lòng tôi lại mang mang nhớ đến cảnh trai gái đi chùa Hương trẩy
hội qua bài thơ của Nguyễn Nhược Pháp, do Trần Văn Khê phổ nhạc,
và cảm tình e ấp, mới chớm của cô gái tuổi “tuy em mới mười lăm
mà đã lắm người thăm” ấy.
Phật tử đi lễ chùa thường có những ước nguyện
nào đó mang theo. Người nghèo đến để cầu “cuả”, kẻ hiếm muộn đến
để cầu “con”, còn trai gái lâu rồi mà vẫn “phòng không một bóng”
thì tới để cầu Trời khấn Phật cho sớm được “se mối duyên đời”.
Nói chung là họ xin Trời Phật phù hộ độ trì cho nguyện ước của
mình được thành tựu.
Cô cháu gái, người đang giúp tôi trong dự án từ
điển song ngữ, vừa tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân [chuyên
về công nghệ thông tin (information technology)] tại Hà Nội, có
lẽ cũng không nằm ngoài thành phần Phật tử nêu trên. Xin lỗi nếu
tôi nói oan cho cháu! Cách nay 2 tuần lễ, khi tôi gọi điện thoại
về Việt Nam hỏi về kết quả công việc chỉnh sửa
(editing/correcting) các mẫu tự cháu đã quét (scanned) trước đây
cho tôi, thì đúng là lúc cháu đang bon bon chạy xe ‘Honda’ đi
lên chuà, trên Núi Yên Tử. Sau đó ít hôm, cháu viết meo (email)
tả sự tích về ngôi chùa (mà tôi đã viết tóm tắt lại sang tiếng
Anh) như sau:
Yen Tu is a big Buddhist Pagoda (ngôi Chuà lớn)
in Vietnam. It is in Quang Ninh Province, about 30 kilometres
from Haiphong. Above the Pagoda is a smaller one made entirely
of copper (bằng đồng thật). There are no flat areas (không có
chỗ đất bằng phẳng) in the vicinity for people to sit down and
rest (ngồi nghỉ), as there are many big boulders all around
(toàn là những tảng đá), and it is covered all year round in
white cloud (mây trắng phủ quanh năm). At its peak it is over
1000 metres above sea level with steep slopes (dốc cheo leo),
and surrounded by mountain ranges. The path towards the Pagoda
is winding (quanh co).
Many years ago, there lived a King who abdicated
his throne (đã truyền ngôi báu lại), went up to the Pagoda and
became a monk (đi tu). Legend has it that (tục truyền rằng) the
Royal Court sent beautiful courtesans (cung tần mỹ nữ) to try
and entice him back, but he would not return. So, all of the
courtesans tried to drown themselves in the stream (bèn trầm
mình xuống suối). The King set up a shrine in honour of (lập
lăng thờ) those who had drowned, and then accompanied the
survivors (những người còn sống) back down the mountain to help
them to marry (gả chồng cho các nàng).
As for the King, he returned to the mountain to
continue his life as a monk. According to another legend (còn có
tích nói rằng), when the King was walking back up the mountain,
as he was passing by the stream, he threw his walking stick into
the water (ném cây gậy xuống nước), and said: “If this stick
floats down the stream (chảy xuôi dòng suối), then I will return
to be the King, but if it floats up the stream (chảy ngược dòng
suối), I will continue to be a monk.”
When he threw the stick into the water, it well
and truly floated upstream (cây gậy chảy ngược dòng nước thật),
so he decided to stay in the monastery (ở lại tu viện). Later
on, people built the Copper Pagoda (Chuà Đồng) at the top of the
mountain in order to worship him (để thờ ông).
Hi vọng bài học tuần này thoả mãn được phần nào
người đã nêu câu hỏi và đem lại được đôi chút gọi là niềm vui
học cho bà con cô bác. Nói theo văn chương bình dân của anh Chủ
Bút Tuần Báo Dân Việt thì đúng là “buồn ngủ lại gặp chiếu manh”.
Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là: Ai là người chịu ngủ trên chiếc
chiếu manh (torn mat)? Khi nào ngủ? Ngủ ở đâu?, và Ngủ chuà nào?
thì “chỉ có Đức Phật mới biết được” (Lord Buddha only knows) mà
thôi!
Trịnh Nhật
Sydney, 20 tháng 3, 2007
Kết hợp
ngữ
(Collocations)
shoulder noun
1 vai, bờ vai
ADJ dislocated, frozen bị sai khớp, bị trật
khớp His frozen shoulder has stopped him playing tennis Vai
hắn bị sai khớp làm hắn phải ngưng chơi quần vợt .
SHOULDER + NOUN injury bị thương, thương tích
| blade, bones xương (vai/bả vai), joint khớp, muscle bắp thịt,
socket hốc The bullet hit him squarely between the shoulder
blades Viên đạn bắn trúng ngay giữa hai bả vai. | height, level
chiều cao, mức cao (đến vai/ngang vai) | width chiều rộng,
chiều ngang | harness, sling, strap dây cương | injury thương
tích
PREP over your ~ qua ~ He slung the sack over
his shoulder and set off Hắn quăng cái bao bố/bao tải lên vai
rồi đi khỏi/lên đường.
PHRASE a pat on the shoulder một cái vỗ vai an
ủi He gave me a reassuring pat on the shoulder Hắn vỗ vai trấn
an tôi shoulder to shoulder vai kề vai The route of the
procession was lined with police officers standing shoulder to
shoulder Lộ trình của cuộc diễu hành/đám rước có cảnh sát đứng
sát nhau vai kề vai dọc theo tuyến đường, tap sb on the shoulder
lấy tay đập vào/trên vai I tapped the man on the shoulder and
asked him to move Tôi đập tay lên vai người đàn ông đó và bảo
hắn đi chỗ khác.
2 bả vai
ADJ big, broad, great, huge, manly,
massive lớn, rộng, muscled, muscular gân guốc, powerful, strong
mạnh, khoẻ, wide rộng | delicate, shapely, slim mảnh, mảnh mai,
gầy | narrow, thin hẹp, mỏng | square vuông, vuông vắn | round
tròn, tròn trịa | bony xương xẩu | bowed cong | bare trần |
tense, tight căng, cứng | tired mỏi
VERB + SHOULDER shrug nhún When I asked him why
he'd done it he just shrugged his shoulders. Khi tôi hỏi hắn tại
sao hắn lại làm điều đó thì hắn chỉ nhún vai (không trả lời). |
hunch co vai rụt cổ He hunched his shoulders against the cold
wind Hắn co vai rụt cổ tránh gió lạnh.
SHOULDER + VERB be bent, be bowed, be stooped
cong, gập, cúi xuống She was crouched with her head forward and
her shoulders bent Cô ta khom người xuống đầu gục về phía trước
còn hai vai thì cong gập lại. | droop, drop, sag, slump buông
thõng, xệ, sụp xuống My shoulders dropped with relief Hai vai
tôi thõng xuống nhẹ nhõm cả người. | lift, shrug co, nhún Her
shoulders lifted in a vague shrug Hai vai cô nhô lên trong một
cái nhún nhẹ | heave, shake, twitch giật mạnh, rung, co mạnh His
enormous shoulders heaved with sobs Hai vai to lớn của hắn run
rẩy với tiếng khóc nức nở. | stiffen, tighten đau cứng | relax
(để) tự nhiên, thoải mái
PREP on your ~s trên ~ của bạn/mình The child
sat on her father's shoulders to watch the parade go by Đứa bé
ngồi trên vai cuả cha nó để xem đoàn diễn hành đi qua.
shoulder verb
1 nhận lấy trách nhiệm
VERB + SHOULDER have to, must phải She had to
shoulder the burden of child care. | be willing/unwilling to
muốn/không muốn; sẵn lòng/không sẵn lòng He was unwilling to
shoulder this responsibility alone Hắn không muốn nhận lãnh
trách nhiệm này một mình.
2 lấy vai hích vào ai/cái gì
ADV roughly We were shouldered roughly out of
the way. | aside, out of the way
PHRASE shoulder your way past/through sb/sth
di chuyển bằng cách dùng vai đẩy/hích tới mà đi qua ai/người
nào/vật gì She shouldered her way through the crowd Cô ấy dùng
vai đi lách qua đám đông.
stream noun
1 (dòng, con) suối
ADJ little, small nhỏ | shallow cạn | clear
trong | fast-flowing chảy xiết | bubbling róc rách We
picnicked beside a bubbling stream Chúng tôi tổ chức đi
píc-níc (cuộc chơi ngoàì trời) bên cạnh một dòng suối nước chảy
róc rách. | mountain trên núi underground ngầm dưới đất
VERB + STREAM cross băng qua
stream + VERB flow, run chảy The stream flows
through a narrow valley Con suối chảy xuyên qua một thung lũng
hẹp .
STREAM + NOUN bed đáy
PREP across a/the ~ băng qua, bên kia,down
a/the ~ dưới, suôi dòng ~ in a/the ~ trong There are small fish
in the stream Có nhiều cá nhỏ trong con suối on a/the ~ trên a
leaf floating on the stream mộc hiếc lá trôi trên dòng suối up
a/the ~ ngược dòng ~
PHRASE the side/edge of the stream bờ/ven suối
dòng chảy/luân lưu liên tục của chất
lỏng/khí đốt/ánh sáng
ADJ thin loãng, mỏng | air không khí, gas khí
đốt, hơi ga
VERB + STREAM let in cho vào
stream + VERB flow chảy A stream of blood flowed
from the wound Một dòng máu chảy từ vết thương ra.
PREP ~ of
dòng liên tục người/xe cộ/đồ vật
adj constant, continuous, endless,
never-ending, steady liên tục, không ngừng a constant stream of
letters một luồng thư từ tới liên tục o Cars filed past in an
endless stream Xe hơi/ô tô đi qua theo hàng một thành một dòng
bất tận/không dứt.
VERB + STREAM let loose/out nhả, xì ra, tuôn
ra, xổ ra, cho thả ga
PREP ~ of He let loose a stream of abuse Hắn xổ
ra một tràng những lời lăng mạ/sỉ nhục.
Trịnh Nhật
Sydney, 20 tháng 3, 2007
Trở về Trang Chính |