|
LTS.
Bài học Anh ngữ nói chung chủ yếu là bàn về tiếng Anh thời sự,
đã đọc được trên báo chí, nghe được trên đài phát thanh truyền
hình, với các độc giả trong tinh thần “Tôi học, Anh học, Chị
học, Em học, Chúng ta cùng học!”. Các từ vựng, đoản ngữ, tục
ngữ, thành ngữ, châm ngôn... tiếng Anh, tiếng Việt sẽ được lồng
vào những mẩu chuyện vui, cà kê dê ngỗng, cốt là giúp cho người
học dễ nhớ, vui mà học được. Những lời bàn tán ở đây nhất định
không thể được coi là những lời “thánh phán”, mà các độc giả,
tất nhiên có những người biết chuyện, sẽ được mời đóng góp ý
kiến của mình hoặc đặt câu hỏi để chúng ta có dịp cùng nhau tìm
hiểu, đồng thời chia xẻ niềm vui chung là học hỏi lẫn nhau. Bài
học còn có thêm phần liệt kê những kết hợp ngữ (collocations)
trong tiếng Anh, tiếng Việt để người học tham khảo.
Như cánh vạc bay
“Xuân vừa về trên bãi cỏ non,
Gió
Xuân đưa lá vàng xuôi nguồn,
Hoa
cười cùng tia nắng vàng son,
Lũ
ong lên đường cánh tung tròn…”
(Hoa
Xuân, Nhạc và lời Phạm Duy)
“Bãi cỏ
non”, “hoa cười”, “tia nắng vàng son”, “lũ ong lên đường”, tất
cả những hình ảnh ấy báo hiệu Xuân về trên vùng đất Miệt Dưới
(Down Under) của những người Việt tị nạn đã xin nhận nơi
này làm quê hương (Vietnamese refugees have called it home).
Đối với đa số người Việt hải ngoại hiện giờ, theo tôi, quê
hương, hay nói rõ hơn là "mái ấm" (home), là nơi họ cảm
thấy thoải mái, có bạn bè và những người thân yêu của mình ở đó…
Nói theo lời của một kí giả người Mĩ gốc Việt, Andrew Lâm, con
trai của Tướng Lâm Quang Thi, đã rời Việt Nam năm từ 11 tuổi,
thì Việt Nam đối với anh nay chỉ còn là "một điểm xuất phát,
một chốn đi về, chứ không còn là quê hương nữa" (my country
of birth has become a point of departure, an occasional
destination, but no longer home.)
Qua bài
viết tuần trước tôi nhận được phản hồi (feedback) của bạn
bè và đồng nghiệp từ Hoa-kì, Gia-nã-đại,Việt-Nam, và
Anh-cát-lợi.
Từ Oklahoma, USA:
“Đã
nhận được bài #28. Vui lắm. Cám ơn nhiều. Nhưng không phải ai
nghe chuyện “vagina” cũng thích đâu đấy. Có đứa nghe xong phát
khóc vì đã bị bịnh “erectile disfunction” từ khuya rồi.”
Nghe
anh bạn này viết tôi bật “cười sằng sặc”. Chính anh chàng này,
hơn hai chục năm trước đây, cũng đã cho bạn bè/đồng nghiệp chúng
tôi một “mẻ” cười. Ai đời nhan đề một cuốn phim của người ta ở
Luân Đôn thuở đó là “Dressed to kill” (= ăn diện/mặc quần
áo cho đẹp vào để hấp hồn/quyến rũ người khác), thế mà cha nội
này cả gan đổi lại, bảo rằng phim có tựa đề là “Undressed to
kill” (= Thoát y/Cởi hết/Tụt hết để cho thiên hạ một phen
“từ chết đến bị thương”)? Nghe thế, Bố ai mà không muốn đi
xem “xi-nê” [go to the cinema (Anh)/pictures (Úc)/movies
(Mĩ)]. Bây giờ anh lại có thêm dịp sửa lưng tôi:
“…không
phải ai nghe chuyện “vagina” (= âm hộ/âm đạo) cũng thích
đâu đấy. Có đứa nghe xong phát khóc vì đã bị bịnh “erectile
disfunction” (= rối loạn/tai biến cương cứng dương vật/chứng
xìu xìu ển ển) từ khuya rồi.”
Cám ơn
anh bạn đã có lời khen, cùng lời cảnh giác. Hi vọng anh không
một chút mảy may nói chuyện về mình.
Từ Florida, USA:
“Bài
này thật hay và dí dỏm ngay từ 2 câu thơ “tếu” dạo
đầu. Nhận xét của anh về hỏi (?), ngã (~) đối với dân Trung
thật đúng.”
Anh bạn này còn cho biết thêm là anh có một
người bạn nói tiếng Trung khá nặng, nên hôm vào nhà hàng đặt món
ăn với cô hầu bàn (waitress) người Nam, nói tiếng Nam,
thoạt đầu cô không hiểu anh muốn nói gì, ăn gì. Hai câu thơ
“tếu” dạo đầu cuả tôi, nếu Quí Vị nào không nhớ, thì nó là:
Ven-cu-vơ (Vancouver) em vui ‘nghêu sò’ phơi mình trong nắng hạ,
Sờ-xịt-nầy (Sydney) anh buồn‘công ngủ’ thu mình dưới trời đông…
Từ Hà Nội, Việt-Nam:
“Cảm ơn
anh thăm hỏi và cảm ơn về bài học tiếng Anh (và cả tiếng Việt)
thú vị và rất hữu ích cuả anh. Hiện chúng tôi đang tích cực
chuẩn bị để sớm đưa hệ thống lên Mạng, lúc đó sẽ báo ngay cho
anh. Được những người như anh tham gia thì đó là diễm phúc của
chúng tôi.”
Người
viết lá thư trên cho tôi là anh Lê Khánh Hùng, Trưởng Phòng Công
nghệ Phần mềm Máy tính, Viện Nghiên cứu Ứng dụng Công nghệ, Bộ
Khoa học Công nghệ và Môi trường ở C6 Thanh Xuân Bắc, Hà Nội, mà
tôi đã có dịp thăm viếng 2 lần. Trong lần gặp anh vào cuối năm
2006, tôi được anh cho biết là vào cuối năm 2007, cái “hệ thống”
mà anh nói ở trên là
chương trình từ điển đa-ngữ trên Mạng, chủ yếu là các ngôn ngữ
chưa được yểm trợ mạnh về mặt từ điển “online”,
mà đa số là ngôn ngữ Châu Á (Asian languages), trong đó
có tiếng Việt. Anh Hùng cho tôi biết là ai muốn tham gia có thể
cứ vào mạng, “chua” nghĩa, giảng nghĩa, thêm thắt những điều gì
mình biết vào cho cuốn từ điển ngôn ngữ mục tiêu (target
language) của mình. Sự đóng góp nhiều ít trên Mạng sẽ được tính
toán theo phần trăm (percentage) để trả thù lao
(remuneration) cho người đóng góp/cộng tác (contributor).
[Quí Vị Quí Bạn, nếu thích, có thể vào < www.talawas.org > để
đọc bài “Đi tìm phần mềm dịch tiếng Việt” của tôi, lên Mạng năm
2006.]
Sau đó là thư từ Toronto, Canada:
“Happy
birthday, mate!
You're
really in good mood these days, writing endlessly.”
Cám ơn
bạn hiền. Ngày sinh nhật của tôi là 25-9. Tôi vẫn nói đùa trong
đám bạn bè là ngày sinh nhật của rốn lồi (protruding
navel/belly-button). Muốn biết rốn có lồi hay không, chắc cần
phải thử!!! Người bạn viết thư trên cho tôi là một đệ tam
tham vụ ngoại giao (third secretary) tại Toà Đại sứ Việt Nam
Cộng Hoà ở Đại Hàn, trước khi “vật đổi sao rời/đổi đời”
(the shake-up/so-called metamorphosis). Trong nhiều năm nay, anh
làm nghề gõ đầu di dân tráng niên Canada
(teaching English to Canadian adult immigrants)—công việc tương
tự như tôì đã làm tại Úc vào cuối thập niên 1970 [Adult Migrant
Education Service (AMES)], trước khi được tuyển sang BBC Luân
Đôn làm việc, cuối năm 1979. Tôi mới gặp anh bạn này tại Việt
Nam cuối năm 2006 vừa rồi, sau hơn 15 năm không gặp. Lần gặp anh
và gia đình vợ con anh trước đó ở Toronto là đầu thập niên 1990.
Từ Luân
Đôn, England:
Khoe với Thầy tí, “website” bọn em
mỗi tháng có từ 10-12 triệu “hits”, bài của Thầy sẽ được nhiều
người đọc. Thầy thu xếp sao với
khoahoc.net
cho em biết, còn anh Lưu Dân em nghĩ chắc không phiền đâu vì
Dân Việt chính là báo viết. Em thì tin là kiến thức phổ biến
càng rộng càng tốt. Thầy có muốn đăng mấy bài viết này lên
bbcvietnamese.com
không hả Thầy? I'm sure
many would appreciate them. Nếu Thầy muốn thì gửi hết qua cho
em, kể cả những bài từ trước.
Người
viết thư này là anh Hoàng Quốc Vinh, con của bác Hoàng Quốc
Cung, khá quen thuộc với cộng đồng Việt Nam tại Sydney. Anh Vinh
đã được bà Judy Stowe tuyển sang làm cho Ban Việt Ngữ, BBC Luân
Đôn từ 15 năm trước đây. Tôi đã gửi trước cho anh một số bài
viết, và hứa sẽ gửi tiếp tục.
Nói đến
BBC là tôi lại muốn trở lại phần cuối cuả bài học lần trước,
trong đó tôi có đề cập đến thông tin nhận được từ Ban Việt
Ngữ (Vietnamese Section) về cái chết của bà Judy Stowe. Nay,
qua kí giả người Anh, Derek Tonkin, tôi được biết thêm tin tức
như sau:
Judith Ann Stowe, broadcaster, writer and diplomat: born London
19 October 1934; staff, Foreign Service (Bộ Ngoại giao)
1952-69; staff, BBC 1974-94, Head of Thai and Vietnamese
Sections (Trưởng ban Thái ngữ và Việt ngữ) 1986-94; (one
son); died London 13 September 2007.
Judith
Ann Stowe, broadcaster, writer and diplomat Judy Stowe led an
eventful and dedicated life. Judith Stowe was born in London in
1934, the elder of two daughters. Although she was much tempted
to go to university, her father thought she might not be
bright enough (không đủ xuất sắc/giỏi/thông minh) to win
a scholarship (tranh được một học bổng) and encouraged her
instead to take the Civil Service examination. Faced with
a choice between depending on her father for a subsidy
(trợ cấp) at university, or starting to earn her own living
(tự kiếm sống), Stowe chose financial independence. This choice
was in the event to give her invaluable experience (kinh
nghiệm vô cùng quí báu) in the virtue of self-reliance
(đức tính tự túc), not least because she battled throughout her
life against nystagmus (rung giật nhãn cầu), a rare
disease of the optical nerve (thần kinh thị giác) which
was to impair her vision seriously (làm cho bà bị khiếm
thị nặng).
Although never short of male friends (không hề thiếu bạn
trai) and indeed ardent admirers (nhiều người nhiệt tình
ái mộ), Stowe had not married (chưa bao giờ lập gia
đình/kết hôn/lấy chồng) – in those days to do so would have
meant her resignation from the service (phải từ nhiệm)
and the abandonment of her career overseas (từ bỏ công
việc làm ở hải ngoại). At 34 years of age, Stowe returned to
Britain to have a baby son, Michael.
The
going was not easy (cuộc sống
không phải là dễ dàng), and it was not until late 1972 that the
BBC Far Eastern Service (Viễn Đông Vụ Đài BBC) gave her a
contract to write commentaries (viết các bài bình luận)
on South-east Asian affairs (các vấn đề xẩy ra tại
Đông-nam Á). These were exciting times in South-east Asia:
Kissinger was working to secure the withdrawal of US troops from
Vietnam.
In
March 1975 Stowe left for Saigon, but the tour of the
provinces (chuyến du hành đến các tỉnh) she had planned was
sharply curtailed (bị cắt giảm/bỏ bớt rất nhiều) when the
North Vietnamese launched their all-out, final offensive
(mở cuộc tổng tấn công ồ ạt, dứt điểm của họ) in the South. In
April 1975 she was summoned back (được triệu về) to
London, where she arrived with only days to spare (chỉ có
vài ngày) before Saigon fell (Sài Gòn thất thủ) on 30
April.
Stowe
was then appointed a full-time commentator (bình luận gia
toàn thời) and talks writer (người viết bài nói nhận
định) in the BBC, specialising in South-east Asian and Far
Eastern Affairs. By 1984 Stowe was back again in Vietnam, but
found the country depressing (quá thất vọng/nản lòng). In
1986 Stowe was in charge of both the Thai and Vietnamese
sections of the BBC. She set about restructuring (cải tổ)
and modernising (hiện đại hoá) both, recruiting
journalists (kí giả) rather than translators (phiên
dịch viên), and inspiring colleagues with her vitality, the
breadth and depth of her experience and her contacts throughout
the region.
Her
greatest journalistic coup, which earned the wrath (sự
phẫn nộ/tức giận) of the Vietnamese government, was persuading
Col Bui Tin, who had decided to stay in France following a visit
in 1990, to publish his memoirs (xuất bản hồi kí cuả ông)
and give a series of interviews (một loạt bài phỏng vấn).
Bui Tin had been Deputy Editor (Phó Tổng biên tập) of
Nhan Dan, the Communist Party daily and so was close to the
Vietnamese leaders. Bui Tin's memoirs, Following Ho Chi Minh:
memoirs of a North Vietnamese colonel (1995), were adapted
and translated into English by Stowe and Do Van, a senior
producer in the BBC Vietnamese Service.
Stowe
retired (về hưu) from the BBC in 1994, but maintained
close contact (vẫn giữ liên lạc mật thiết) with her many
Thai and Vietnamese friends. She also continued to lecture
widely on South-east Asian affairs, and she was the principal
obituary writer (người chính yếu viết những bài ai khải) in
recent years for The Independent (Độc lập) on leading
Vietnamese, Thai and Filipino personalities (các nhân vật
lãnh đạo Việt Nam, Thái Lan và Phi-Luật-Tân). Although
diagnosed with cancer (chẩn bệnh cho biết là bị ung thư) in
2003, she led a full and scholarly life until the end.
Chuyện
liên hệ đến Judy Stowe, tôi còn nhớ là vào đầu năm 1980, khi Chủ
tịch Nhà nước Cộng sản Việt Nam Tôn Ðức Thắng từ trần, thì bà
Judy Stowe, bỉnh bút Ðài BBC, có viết bài ai khải
(obituary) nói về công đức và sự nghiệp của ông này để cho phát
thanh về Việt Nam. Trong bài viết, nữ kí giả người Anh này có
dùng chữ "figure-head" để mô tả vị Chủ tịch họ Tôn. Từ
"figure-head" này đã được một người bạn đồng nghiệp của tôi
thời đó là anh Vĩnh Phúc, dịch là "bù nhìn", thì bị một đồng
nghiệp khác, là anh Trần Minh, phản đối, cho rằng dịch như thế
là không đúng, vì "bù nhìn" nghĩa là "puppet". Tôi không nhớ là
anh đồng nghiệp tố giác bạn mình dịch sai đã đề nghị chữ nào mới
là dịch đúng, mà chỉ còn nhớ là nội vụ sau đó được đem ra trình
với anh Trưởng Ban Việt Ngữ (Vietnamese Programme
Organiser) Matthew Salisbury, người Ăng-lê. Tưởng cũng nên nhắc
lại ở đây là Chính phủ Hà-Nội đã gọi Chính phủ Việt Nam Cộng hòa
trước kia là "Chính phủ Nguỵ" mà tiếng Anh đã được dịch ra là
"Puppet Government", có nghĩa là "Chính phủ bù nhìn". Nếu gọi
Ông Tôn Ðức Thắng là "bù nhìn", dịch từ chữ "figure-head"
ra, thì có đúng không? [Trích trong phần “kết luận” bài viết “Đi
tìm cái tương đương trong phiên dịch” của tôi trên Báo Mạng <
www.talawas.de
>, 2004]
Tiện
dịp này tôi xin bàn thêm để được rộng đường dư luận. Theo Tân
Đại Từ Điển Anh-Việt của Nguyễn Văn Tạo, NXB Tân Văn, in lại
tại Đông Kinh, Nhật Bản, 1986, thì “figure-head” được
giảng nghĩa là: “nhân vật bồ nhìn, ngồi cho có vị, chỉ có hư
danh.” Từ điển Anh-Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà-Nội,
1975 thì bảo “figure-head” là: “bù nhìn, bung xung (người
ở điạ vị cao, nhưng không có thực quyền).” Còn Từ-điển
Anh-Việt (English-Vietnamese Dictionary), Viện Ngôn
Ngữ Học, NXB TP Hồ Chí Minh, 1993 thì cho hay: “người ở vị trí
cao nhưng không có thực quyền; bù nhìn (nghĩa bóng).”
Tôi
cũng xin bàn thêm ở đây là từ “obituary” được dịch là
“bài ai khải”, là từ đã được một vị dịch giả có uy tín ở Nam Bán
Cầu này sử dụng. Theo Từ-điển Anh-Việt
(English-Vietnamese Dictionary), Viện Ngôn Ngữ Học, NXB
TP Hồ Chí Minh, 1993 thì: “obituary = thông cáo in
(thí dụ trên một tờ báo) về cái chết cuả một người, thường có
kèm theo tóm tắt tiểu sử và công lao của người đó; lời
cáo phó.” Hai cuốn từ điển Anh-Việt khác mà tôi tra cứu cũng
không có ý kiến gì mới mẻ hơn, đại khái là “mục cáo phó” trên
báo, “lời cáo phó” hay “sơ lược tiểu sử người chết.”
Trước
khi kết thúc bài học tuần này, tôi xin trở lại nói thêm về bà
Judy Stowe và chuyến Úc du của bà. Sau khi hết hợp đồng ngắn
hạn 3 năm (three-year short-term contract) với BBC Luân Đôn
vào cuối năm 1982, tôi về lại Sydney vào đầu năm 1983, và được
tuyển dụng làm Lecturer in Vietnamese (Giảng viên Việt
ngữ) tại Trường Cao Đẳng Milperra [Milperra College of
Avanced Education (MCAE)]. Đến năm 1992, thì tôi gặp lại bà Judy
Stowe tại Sydney khi bà sang Úc tuyển nhân viên cho Chương trình
Việt Ngữ, trong đó có việc phỏng vấn Hoàng Quốc Vinh, một sinh
viên ngành thông-ngôn phiên-dịch (interpreting and
translation), cuả tôi tại University of Western Sydney (hậu thân
của MCAE và Macarthur Institute of Higher Education), trước khi
chính thức nhận Vinh sang Anh Quốc làm việc.
Khi bà Judy Stowe
có mặt tại Sydney, tôi đã sắp xếp để anh Nguyễn Anh Tuấn
(chết/không còn nữa = deceased), chị Tô Châu (phụ trách Đài Quê
Mẹ thời đó, tiền thân của SBS Radio), cùng bà xã Anh Thư và cháu
Pamela, hẹn gặp ăn tối (dinner) với bà tại Sydney Tower
Restaurant, trước khi dẫn bà lên Đài Quê Mẹ cho chị Tô Châu làm
một cuộc phỏng vấn (interview).
Nhớ tới
bà Judy Stowe, nay “như cánh vạc bay” về trời… Vào một buổi tối
hồi tôi còn làm việc ở Anh Quốc, trong lúc tiệc tùng, trà dư tửu
hậu, có lẽ tại nhà anh Đỗ Văn, với đầy đủ mặt văn võ bá quan Ban
Việt Ngữ và bạn bè, bà Judy cũng đã cho chúng tôi một “mẻ” cười
lúc bà nói về người ta nhận xét về người Mĩ, khi họ ồ ạt kéo
quân sang giúp Miền Nam Việt Nam chống Cộng sản: “They are
over-paid, over-sexed and over-here!” (Mấy thằng chả làm
lương quá tải, làm tình quá cỡ, qua đây nhiều quá xá ể!)
Trịnh Nhật
Sydney, 3.10.2007
Kết
hợp ngữ
(Collocations)
wing
noun
1 cánh chim, cánh gà/vịt, côn trùng (ve/kiến)
-
ADJ
left trái,
right phải | fore, front trước
The beetle's fore wings are small and are not used in
flight. | back, hind
sau | broad rộng, long dài, narrow hẹp,
pointed nhọn, short ngắn, stubby cụt
lủn | delicate mỏng manh, mảnh mai |
leathery da thuộc, membranous màng mỏng
| broken gẫy, damaged bị thương
a bird with a broken wing
| outspread, outstretched trải
rộng, dang ra, giuơng ra, duỗi ra | butterfly bướm,
chicken gà, etc.
the patterns on butterfly
wings, First, fry the chicken wings in the oil until they
begin to brown.
-
QUANT
pair
đôi
-
VERB +
WING
extend, open, spread,
stretch, unfold
mở, trải rộng, vươn ra, xoè ra |
close, fold đóng, khép, gấp/gập lại | flap, flutter
vỗ, đập It flapped its wings and flew off. |
clean làm sạch, rửa sạch | clip lấy mấy, chặt
đứt, bẻ gẫy (thường dùng nghĩa bóng) Pete felt he had had
his wings clipped when his driving licence was confiscated.
| grow, sprout mọc ra I wish I could sprout
wings and fly away Tôi ước gì mọc được cánh để mà bay
đi..
-
WING +
VERB beat, flap, flutter đập, vỗ
-
WING +
NOUN
tip ngọn, đầu | feathers lông vũ
-
PREP
on a/the ~
trên It had white markings on its wings. under
a/the ~ dưới The young birds were under the mother
bird's wing, (nghĩa bóng) Simon's uncle had taken him
under his wing Chú/Cậu/Bác của thằng Simon đã ra tay che
chở/bảo bọc nó.
2 (cánh)
của máy bay/phi cơ
-
ADJ
aircraft
máy bay, phi cơ | left
trái, port cửa bên trái mạn tàu | right
phải , starboard mạn phải | fixed cố định |
folding gập/gấp
-
WING + VERB stick out
nhô ra, chồi ra
-
WING + NOUN tip
đầu, mũi
3 (cánh)
của toà nhà/cao ốc
-
ADJ
north
bắc, south nam,
etc. | private riêng | hospital bệnh/bịnh viện
| maternity hộ sinh, hộ sản | maximum security an
ninh chặt chẽ/nghiêm ngặt/tối đa (của nhà tù/khám đường)
-
VERB +
WING add thêm vào,
build xây dựng | demolish, destroy, pull down phá
huỷ, huỷ bỏ, kéo sập xuống A bomb destroyed the
east wing Một trái/quả đã phá huỷ cánh hướng đông (của
toà nhà).
-
PREP
in a/the ~
ở bên Our
rooms were in the west wing.
4
(cánh/cửa) của xe hơi/ô tô
-
ADJ
nearside
phiá bên trái, offside phiá bên phải | front
trước, rear sau
-
VERB +
WING damage làm hư,
bị hư, dent bị móp, làm móp/bẹp/lõm
The nearside wing was damaged in the accident Cánh cửa
bên trái xe đã bị hư hại trong tai nạn ấy. | mend,
repair, replace sửa chữa, thay thế
-
WING + NOUN mirror
gương, kiếng/kính
-
PREP
in a/the ~
There was a dent in one wing
Một bên cánh
cửa bị móp.
5
(cánh) của một tổ chức
-
ADJ
left
trái, tả, right
phải, hữu | conservative bảo thủ | liberal tự
do, progressive cấp tiến, tiến bộ, reformist
cải cách | extreme, radical cực đoan, quá
khích | revolutionary cách mạng | moderate ôn
hoà | dissident bất đồng (chính kiến) |
political chính trị | military quân sự,
paramilitary bán quân sự
-
PREP
on a/the ~
bên, ở bên
They're on the left wing of the Labour Party.
commentator
noun
1
bình luận gia, bình luận viên về cái gì
-
ADJ
cricket
críc-kê,
khúc
côn cầu, football
bóng đá,
rugby
bóng bầu dục, sports,
thể thao
etc. | match
trận đấu,
race
cuộc chạy đua | radio
đài phát
thanh, television/TV
đài truyền hình
2
bình luận gia; người cho ý kiến về việc gì trên
hệ thống truyền thông
-
ADJ
influential
có
nhiều ảnh hưởng,
có thê/giá | independent
độc lập
| foreign
ngoại quốc,
nước ngoài | media
truyền thông
| cultural
văn hoá,
economic
kinh tế,
political
chính trị,
social
xã hội
Political commentators are predicting
that the minister will have to resig.
Các bình luận gia chính trị đang tiên đoán là
vị bộ trưởng kia sẽ từ chức.
-
PREP
~ on về
a commentator on current
affairs
một bình luận gia về thời sự
Trịnh Nhật
Sydney, 3.10.2007
Trở về Trang Chính |