Anh Ngữ Học Mà Vui:

Như cánh vạc bay



 

 LTS. Bài học Anh ngữ nói chung chủ yếu là bàn về tiếng Anh thời sự, đã đọc được trên báo chí, nghe được trên đài phát thanh truyền hình, với các độc giả trong tinh thần “Tôi học, Anh học, Chị học, Em học, Chúng ta cùng học!”.  Các từ vựng, đoản ngữ, tục ngữ, thành ngữ, châm ngôn... tiếng Anh, tiếng Việt sẽ được lồng vào những mẩu chuyện vui, cà kê dê ngỗng, cốt là giúp cho người học dễ nhớ, vui mà học được. Những lời bàn tán ở đây nhất định không thể được coi là những lời “thánh phán”, mà các độc giả, tất nhiên có những người biết chuyện, sẽ được mời đóng góp ý kiến của mình hoặc đặt câu hỏi để chúng ta có dịp cùng nhau tìm hiểu, đồng thời chia xẻ niềm vui chung là học hỏi lẫn nhau. Bài học còn có thêm phần liệt kê những kết hợp ngữ (collocations) trong tiếng Anh, tiếng Việt để người học tham khảo.

 

Như cánh vạc bay

 

“Xuân vừa về trên bãi cỏ non,

Gió Xuân đưa lá vàng xuôi nguồn,

Hoa cười cùng tia nắng vàng son,

Lũ ong lên đường cánh tung tròn…”

(Hoa Xuân, Nhạc và lời Phạm Duy)

 

“Bãi cỏ non”, “hoa cười”, “tia nắng vàng son”, “lũ ong lên đường”, tất cả những hình ảnh ấy báo hiệu Xuân về trên vùng đất Miệt Dưới (Down Under) của những người Việt tị nạn đã xin nhận nơi này làm quê hương (Vietnamese refugees have called it home). Đối với đa số người Việt hải ngoại hiện giờ, theo tôi, quê hương, hay nói rõ hơn là "mái ấm" (home), là nơi họ cảm thấy thoải mái, có bạn bè và những người thân yêu của mình ở đó… Nói theo lời của một kí giả người Mĩ gốc Việt, Andrew Lâm, con trai của Tướng Lâm Quang Thi, đã rời Việt Nam năm từ 11 tuổi, thì Việt Nam đối với anh nay chỉ còn là "một điểm xuất phát, một chốn đi về, chứ không còn là quê hương nữa" (my country of birth has become a point of departure, an occasional destination, but no longer home.)

 

Qua bài viết tuần trước tôi nhận được phản hồi (feedback) của bạn bè và đồng nghiệp từ Hoa-kì, Gia-nã-đại,Việt-Nam, và Anh-cát-lợi.

 

Từ Oklahoma, USA:

“Đã nhận được bài #28. Vui lắm. Cám ơn nhiều. Nhưng không phải ai nghe chuyện “vagina” cũng thích đâu đấy. Có đứa nghe xong phát khóc vì đã bị bịnh “erectile disfunction” từ khuya rồi.”

 

Nghe anh bạn này viết tôi bật “cười sằng sặc”. Chính anh chàng này, hơn hai chục năm trước đây, cũng đã cho bạn bè/đồng nghiệp chúng tôi một “mẻ” cười. Ai đời nhan đề một cuốn phim của người ta ở Luân Đôn thuở đó là “Dressed to kill” (= ăn diện/mặc quần áo cho đẹp vào để hấp hồn/quyến rũ người khác), thế mà cha nội này cả gan đổi lại, bảo rằng phim có tựa đề là “Undressed to kill” (= Thoát y/Cởi hết/Tụt hết để cho thiên hạ một phen “từ chết đến bị thương”)? Nghe thế, Bố ai mà không muốn đi xem “xi-nê” [go to the cinema (Anh)/pictures (Úc)/movies (Mĩ)]. Bây giờ anh lại có thêm dịp sửa lưng tôi:

“…không phải ai nghe chuyện “vagina” (= âm hộ/âm đạo) cũng thích đâu đấy. Có đứa nghe xong phát khóc vì đã bị bịnh “erectile disfunction” (= rối loạn/tai biến cương cứng dương vật/chứng xìu xìu ển ển) từ khuya rồi.”

 

Cám ơn anh bạn đã có lời khen, cùng lời cảnh giác. Hi vọng anh không một chút mảy may nói chuyện về mình.

 

Từ Florida, USA:

“Bài  này  thật  hay  và  dí dỏm  ngay  từ  2  câu  thơ  “tếu”  dạo  đầu. Nhận  xét  của  anh về  hỏi (?), ngã (~)  đối với dân Trung thật  đúng.”

 

Anh bạn này còn cho biết thêm là anh có một người bạn nói tiếng Trung khá nặng, nên hôm vào nhà hàng đặt món ăn với cô hầu bàn (waitress) người Nam, nói tiếng Nam, thoạt đầu cô không hiểu anh muốn nói gì, ăn gì. Hai câu thơ “tếu” dạo đầu cuả tôi, nếu Quí Vị nào không nhớ, thì nó là:

Ven-cu-vơ (Vancouver) em vui ‘nghêu sò’ phơi mình trong nắng hạ,

Sờ-xịt-nầy (Sydney) anh buồn‘công ngủ’ thu mình dưới trời đông…

 

Từ Hà Nội, Việt-Nam:

“Cảm ơn anh thăm hỏi và cảm ơn về bài học tiếng Anh (và cả tiếng Việt) thú vị và rất hữu ích cuả anh. Hiện chúng tôi đang tích cực chuẩn bị để sớm đưa hệ thống lên Mạng, lúc đó sẽ báo ngay cho anh. Được những người như anh tham gia thì đó là diễm phúc của chúng tôi.”

 

Người viết lá thư trên cho tôi là anh Lê Khánh Hùng, Trưởng Phòng Công nghệ Phần mềm Máy tính, Viện Nghiên cứu Ứng dụng Công nghệ, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ở C6 Thanh Xuân Bắc, Hà Nội, mà tôi đã có dịp thăm viếng 2 lần. Trong lần gặp anh vào cuối năm 2006, tôi được anh cho biết là vào cuối năm 2007, cái “hệ thống” mà anh nói ở trên là chương trình từ điển đa-ngữ trên Mạng, chủ yếu là các ngôn ngữ chưa được yểm trợ mạnh về mặt từ điển “online”, mà đa số là ngôn ngữ Châu Á (Asian languages), trong đó có tiếng Việt. Anh Hùng cho tôi biết là ai muốn tham gia có thể cứ vào mạng, “chua” nghĩa, giảng nghĩa, thêm thắt những điều gì mình biết vào cho cuốn từ điển ngôn ngữ mục tiêu (target language) của mình. Sự đóng góp nhiều ít trên Mạng sẽ được tính toán theo phần trăm (percentage) để trả thù lao (remuneration) cho người đóng góp/cộng tác (contributor). [Quí Vị Quí Bạn, nếu thích, có thể vào < www.talawas.org >  để đọc bài “Đi tìm phần mềm dịch tiếng Việt” của tôi, lên Mạng năm 2006.]

 

Sau đó là thư từ Toronto, Canada:

“Happy birthday, mate!

You're really in good mood these days, writing endlessly.”

 

Cám ơn bạn hiền. Ngày sinh nhật của tôi là 25-9. Tôi vẫn nói đùa trong đám bạn bè là ngày sinh nhật của rốn lồi (protruding navel/belly-button). Muốn biết rốn có lồi hay không, chắc cần phải thử!!! Người bạn viết thư trên cho tôi là một đệ tam tham vụ ngoại giao (third secretary) tại Toà Đại sứ Việt Nam Cộng Hoà ở Đại Hàn, trước khi “vật đổi sao rời/đổi đời” (the shake-up/so-called metamorphosis). Trong nhiều năm nay, anh làm nghề gõ đầu di dân tráng niên Canada (teaching English to Canadian adult immigrants)—công việc tương tự như tôì đã làm tại Úc vào cuối thập niên 1970 [Adult Migrant Education Service (AMES)], trước khi được tuyển sang BBC Luân Đôn làm việc, cuối năm 1979. Tôi mới gặp anh bạn này tại Việt Nam cuối năm 2006 vừa rồi, sau hơn 15 năm không gặp. Lần gặp anh và gia đình vợ con anh trước đó ở Toronto là đầu thập niên 1990.

 

Từ Luân Đôn, England:


Khoe với Thầy tí, “website” bọn em mỗi tháng có từ 10-12 triệu “hits”, bài của Thầy sẽ được nhiều người đọc. Thầy thu xếp sao với khoahoc.net cho em biết, còn anh Lưu Dân em nghĩ chắc không phiền đâu vì Dân Việt chính là báo viết. Em thì tin là kiến thức phổ biến càng rộng càng tốt.  Thầy có muốn đăng mấy bài viết này lên bbcvietnamese.com không hả Thầy? I'm sure many would appreciate them. Nếu Thầy muốn thì gửi hết qua cho em, kể cả những bài từ trước.

Người viết thư này là anh Hoàng Quốc Vinh, con của bác Hoàng Quốc Cung, khá quen thuộc với cộng đồng Việt Nam tại Sydney. Anh Vinh đã được bà Judy Stowe tuyển sang làm cho Ban Việt Ngữ, BBC Luân Đôn từ 15 năm trước đây. Tôi đã gửi trước cho anh một số bài viết, và hứa sẽ gửi tiếp tục.

 

Nói đến BBC là tôi lại muốn trở lại phần cuối cuả bài học lần trước, trong đó tôi có đề cập đến thông tin nhận được từ Ban Việt Ngữ (Vietnamese Section) về cái chết của bà Judy Stowe. Nay, qua kí giả người Anh, Derek Tonkin, tôi được biết thêm tin tức như sau:

Judith Ann Stowe, broadcaster, writer and diplomat: born London 19 October 1934; staff, Foreign Service (Bộ Ngoại giao) 1952-69; staff, BBC 1974-94, Head of Thai and Vietnamese Sections (Trưởng ban Thái ngữ và Việt ngữ) 1986-94; (one son); died London 13 September 2007.

Judith Ann Stowe, broadcaster, writer and diplomat Judy Stowe led an eventful and dedicated life. Judith Stowe was born in London in 1934, the elder of two daughters. Although she was much tempted to go to university, her father thought she might not be bright enough (không đủ xuất sắc/giỏi/thông minh) to win a scholarship (tranh được một học bổng) and encouraged her instead to take the Civil Service examination. Faced with a choice between depending on her father for a subsidy (trợ cấp) at university, or starting to earn her own living (tự kiếm sống), Stowe chose financial independence. This choice was in the event to give her invaluable experience (kinh nghiệm vô cùng quí báu) in the virtue of self-reliance (đức tính tự túc), not least because she battled throughout her life against nystagmus (rung giật nhãn cầu), a rare disease of the optical nerve (thần kinh thị giác) which was to impair her vision seriously (làm cho bà bị khiếm thị nặng).

Although never short of male friends (không hề thiếu bạn trai)  and indeed ardent admirers (nhiều người nhiệt tình ái mộ), Stowe had not married (chưa bao giờ lập gia đình/kết hôn/lấy chồng) – in those days to do so would have meant her resignation from the service (phải từ nhiệm) and the abandonment of her career overseas (từ bỏ công việc làm ở hải ngoại). At 34 years of age, Stowe returned to Britain to have a baby son, Michael.

The going was not easy (cuộc sống không phải là dễ dàng), and it was not until late 1972 that the BBC Far Eastern Service (Viễn Đông Vụ Đài BBC) gave her a contract to write commentaries (viết các bài bình luận) on South-east Asian affairs (các vấn đề xẩy ra tại Đông-nam Á). These were exciting times in South-east Asia: Kissinger was working to secure the withdrawal of US troops from Vietnam.

In March 1975 Stowe left for Saigon, but the tour of the provinces (chuyến du hành đến các tỉnh) she had planned was sharply curtailed (bị cắt giảm/bỏ bớt rất nhiều) when the North Vietnamese launched their all-out, final offensive (mở cuộc tổng tấn công ồ ạt, dứt điểm của họ) in the South. In April 1975 she was summoned back (được triệu về) to London, where she arrived with only days to spare (chỉ có vài ngày) before Saigon fell (Sài Gòn thất thủ) on 30 April.

Stowe was then appointed a full-time commentator (bình luận gia toàn thời) and talks writer (người viết bài nói nhận định) in the BBC, specialising in South-east Asian and Far Eastern Affairs.  By 1984 Stowe was back again in Vietnam, but found the country depressing (quá thất vọng/nản lòng). In 1986 Stowe was in charge of both the Thai and Vietnamese sections of the BBC. She set about restructuring (cải tổ) and modernising (hiện đại hoá) both, recruiting journalists (kí giả) rather than translators (phiên dịch viên), and inspiring colleagues with her vitality, the breadth and depth of her experience and her contacts throughout the region.

Her greatest journalistic coup, which earned the wrath (sự phẫn nộ/tức giận) of the Vietnamese government, was persuading Col Bui Tin, who had decided to stay in France following a visit in 1990, to publish his memoirs (xuất bản hồi kí cuả ông) and give a series of interviews (một loạt bài phỏng vấn). Bui Tin had been Deputy Editor (Phó Tổng biên tập) of Nhan Dan, the Communist Party daily and so was close to the Vietnamese leaders. Bui Tin's memoirs, Following Ho Chi Minh: memoirs of a North Vietnamese colonel (1995), were adapted and translated into English by Stowe and Do Van, a senior producer in the BBC Vietnamese Service.

Stowe retired (về hưu) from the BBC in 1994, but maintained close contact (vẫn giữ liên lạc mật thiết) with her many Thai and Vietnamese friends. She also continued to lecture widely on South-east Asian affairs, and she was the principal obituary writer (người chính yếu viết những bài ai khải) in recent years for The Independent (Độc lập) on leading Vietnamese, Thai and Filipino personalities (các nhân vật lãnh đạo Việt Nam, Thái Lan và Phi-Luật-Tân). Although diagnosed with cancer (chẩn bệnh cho biết là bị ung thư) in 2003, she led a full and scholarly life until the end.

Chuyện liên hệ đến Judy Stowe, tôi còn nhớ là vào đầu năm 1980, khi Chủ tịch Nhà nước Cộng sản Việt Nam Tôn Ðức Thắng từ trần, thì  bà Judy Stowe, bỉnh bút Ðài BBC, có viết bài ai khải (obituary) nói về công đức và sự nghiệp của ông này để cho phát thanh về Việt Nam. Trong bài viết, nữ kí giả người Anh này có dùng chữ "figure-head" để mô tả vị Chủ tịch họ Tôn. Từ "figure-head" này đã được một người bạn đồng nghiệp của tôi thời đó là anh Vĩnh Phúc, dịch là "bù nhìn", thì bị một đồng nghiệp khác, là anh Trần Minh, phản đối, cho rằng dịch như thế là không đúng, vì "bù nhìn" nghĩa là "puppet". Tôi không nhớ là anh đồng nghiệp tố giác bạn mình dịch sai đã đề nghị chữ nào mới là dịch đúng, mà chỉ còn nhớ là nội vụ sau đó được đem ra trình với anh Trưởng Ban Việt Ngữ (Vietnamese Programme Organiser) Matthew Salisbury, người Ăng-lê. Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây là Chính phủ Hà-Nội đã gọi Chính phủ Việt Nam Cộng hòa trước kia là "Chính phủ Nguỵ" mà tiếng Anh đã được dịch ra là "Puppet Government", có nghĩa là "Chính phủ bù nhìn". Nếu gọi Ông Tôn Ðức Thắng là "bù nhìn", dịch từ chữ "figure-head" ra, thì có đúng không? [Trích trong phần “kết luận” bài viết “Đi tìm cái tương đương trong phiên dịch” của tôi trên  Báo Mạng < www.talawas.de >, 2004]

 

Tiện dịp này tôi xin bàn thêm để được rộng đường dư luận. Theo Tân Đại Từ Điển Anh-Việt của Nguyễn Văn Tạo, NXB Tân Văn, in lại tại Đông Kinh, Nhật Bản, 1986, thì “figure-head” được giảng nghĩa là: “nhân vật bồ nhìn, ngồi cho có vị, chỉ có hư danh.” Từ điển Anh-Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà-Nội, 1975 thì bảo “figure-head” là: “bù nhìn, bung xung (người ở điạ vị cao, nhưng không có thực quyền).” Còn Từ-điển Anh-Việt  (English-Vietnamese Dictionary), Viện Ngôn Ngữ Học, NXB TP Hồ Chí Minh, 1993 thì cho hay: “người ở vị trí cao nhưng không có thực quyền; bù nhìn (nghĩa bóng).”

 

Tôi cũng xin bàn thêm ở đây là từ “obituary” được dịch là “bài ai khải”, là từ đã được một vị dịch giả có uy tín ở Nam Bán Cầu này sử dụng. Theo Từ-điển Anh-Việt  (English-Vietnamese Dictionary), Viện Ngôn Ngữ Học, NXB TP Hồ Chí Minh, 1993 thì: “obituary = thông cáo in (thí dụ trên một tờ báo) về cái chết cuả một người, thường có kèm theo tóm tắt tiểu sử và công lao của người đó; lời cáo phó.” Hai cuốn từ điển Anh-Việt khác mà tôi tra cứu cũng không có ý kiến gì mới mẻ hơn, đại khái là “mục cáo phó” trên báo, “lời cáo phó” hay “sơ lược tiểu sử người chết.”

 

Trước khi kết thúc bài học tuần này, tôi xin trở lại nói thêm về bà Judy Stowe và chuyến Úc du của bà. Sau khi hết hợp đồng ngắn hạn 3 năm (three-year short-term contract) với BBC Luân Đôn vào cuối năm 1982, tôi về lại Sydney vào đầu năm 1983, và được tuyển dụng làm Lecturer in Vietnamese  (Giảng viên Việt ngữ) tại Trường Cao Đẳng Milperra [Milperra College of Avanced Education (MCAE)]. Đến năm 1992, thì tôi gặp lại bà Judy Stowe tại Sydney khi bà sang Úc tuyển nhân viên cho Chương trình Việt Ngữ, trong đó có việc phỏng vấn Hoàng Quốc Vinh, một sinh viên ngành thông-ngôn phiên-dịch (interpreting and translation), cuả tôi tại University of Western Sydney (hậu thân của MCAE và Macarthur Institute of Higher Education), trước khi chính thức nhận Vinh sang Anh Quốc làm việc.

 

Khi bà Judy Stowe có mặt tại Sydney, tôi đã sắp xếp để anh Nguyễn Anh Tuấn (chết/không còn nữa = deceased), chị Tô Châu (phụ trách Đài Quê Mẹ thời đó, tiền thân của SBS Radio), cùng bà xã Anh Thư và cháu Pamela, hẹn gặp ăn tối (dinner) với bà tại Sydney Tower Restaurant, trước khi dẫn bà lên Đài Quê Mẹ cho chị Tô Châu làm một cuộc phỏng vấn (interview). 

 

Nhớ tới bà Judy Stowe, nay “như cánh vạc bay” về trời… Vào một buổi tối hồi tôi còn làm việc ở Anh Quốc, trong lúc tiệc tùng, trà dư tửu hậu, có lẽ tại nhà anh Đỗ Văn, với đầy đủ mặt văn võ bá quan Ban Việt Ngữ và bạn bè, bà Judy cũng đã cho chúng tôi một “mẻ” cười lúc bà nói về người ta nhận xét về người Mĩ, khi họ ồ ạt kéo quân sang giúp Miền Nam Việt Nam chống Cộng sản: “They are over-paid, over-sexed and over-here!” (Mấy thằng chả làm lương quá tải, làm tình quá cỡ, qua đây nhiều quá xá ể!)

 

Trịnh Nhật

Sydney, 3.10.2007

 

Kết hợp ngữ
(Collocations)

 

wing noun

1 cánh chim, cánh gà/vịt, côn trùng (ve/kiến)

  • ADJ left trái, right phải | fore, front trước The beetle's fore wings are small and are not used in flight. | back, hind sau | broad rộng, long dài, narrow hẹp, pointed nhọn, short ngắn, stubby cụt lủn | delicate mỏng manh, mảnh mai |  leathery da thuộc, membranous màng mỏng | broken gẫy, damaged bị thương a bird with a broken wing | outspread, outstretched trải rộng, dang ra, giuơng ra, duỗi ra | butterfly bướm, chicken gà, etc. the patterns on butterfly wings, First, fry the chicken wings in the oil until they begin to brown.
  • QUANT  pair đôi
  • VERB + WING extend, open, spread, stretch, unfold mở, trải rộng, vươn ra, xoè ra  | close, fold đóng, khép, gấp/gập lại | flap, flutter vỗ, đập It flapped its wings and flew off. | clean làm sạch, rửa sạch | clip lấy mấy, chặt đứt, bẻ gẫy (thường dùng nghĩa bóng) Pete felt he had had his wings clipped when his driving licence was confiscated. | grow, sprout  mọc ra I wish I could sprout wings and fly away Tôi ước gì mọc được cánh để mà bay đi..
  • WING + VERB beat, flap, flutter đập, vỗ
  • WING + NOUN tip ngọn, đầu | feathers lông vũ
  • PREP on a/the ~ trên It had white markings on its wings. under a/the ~ dưới The young birds were under the mother bird's wing, (nghĩa bóng) Simon's uncle had taken him under his wing Chú/Cậu/Bác của thằng Simon đã ra tay che chở/bảo bọc nó.

2          (cánh) của máy bay/phi cơ

  • ADJ aircraft máy bay, phi cơ | left trái, port cửa bên trái mạn tàu | right phải , starboard mạn phải | fixed cố định | folding gập/gấp
  • WING + VERB stick out nhô ra, chồi ra
  • WING + NOUN tip đầu, mũi

3          (cánh) của toà nhà/cao ốc

  • ADJ north bắc, south nam, etc. | private riêng | hospital bệnh/bịnh viện | maternity hộ sinh, hộ sản | maximum security an ninh chặt chẽ/nghiêm ngặt/tối đa (của nhà tù/khám đường)
  • VERB + WING add thêm vào, build xây dựng | demolish, destroy, pull down phá huỷ, huỷ bỏ, kéo sập xuống A bomb destroyed the east wing Một trái/quả đã phá huỷ cánh hướng đông (của toà nhà).
  • PREP in a/the ~ ở bên Our rooms were in the west wing.

4          (cánh/cửa) của xe hơi/ô tô

  • ADJ nearside phiá bên trái, offside phiá bên phải  | front trước, rear sau
  • VERB + WING damage làm hư, bị hư, dent bị móp, làm móp/bẹp/lõm The nearside wing was damaged in the accident Cánh cửa bên trái xe đã bị hư hại trong tai nạn ấy. | mend, repair, replace sửa chữa, thay thế
  • WING + NOUN mirror gương, kiếng/kính
  • PREP in a/the ~ There was a dent in one wing Một bên cánh cửa bị móp.

5          (cánh) của một tổ chức

  • ADJ left trái, tả, right phải, hữu | conservative bảo thủ | liberal tự do, progressive cấp tiến, tiến bộ, reformist cải cách | extreme, radical cực đoan, quá khích | revolutionary cách mạng | moderate ôn hoà  | dissident bất đồng (chính kiến)  | political chính trị | military quân sự, paramilitary bán quân sự
  • PREP on a/the ~ bên, ở bên They're on the left wing of the Labour Party.

 

commentator noun

1          bình luận gia, bình luận viên về cái gì

  • ADJ cricket críc-kê, khúc côn cầu, football bóng đá, rugby bóng bầu dục, sports, thể thao etc. | match trận đấu, race cuộc chạy đua | radio đài phát thanh, television/TV đài truyền hình

2                   bình luận gia; người cho ý kiến về việc gì trên hệ thống truyền thông

  • ADJ influential có nhiều ảnh hưởng, có thê/giá | independent độc lập | foreign ngoại quốc, nước ngoài | media truyền thông | cultural văn hoá, economic kinh tế, political chính trị, social xã hội Political commentators are predicting that the minister will have to resig. Các bình luận gia chính trị đang tiên đoán là vị bộ trưởng kia sẽ từ chức.
  • PREP ~ on  về a commentator on current affairs một bình luận gia về thời sự

 

Trịnh Nhật

Sydney, 3.10.2007

 

Trở về Trang Chính