|
Chuyến đi Việt Nam của tôi vừa rồi có một
tiết mục khá thú vị là được dịp hội thảo ba buổi, vào cuối tháng
10 và đầu tháng 11, 2005, mỗi buổi chừng 2 ½ giờ đồng hồ, với
các giảng viên Anh ngữ và một số sinh viên Khoa Anh của Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội về những đề tài do tôi đề nghị là:
(1) Học và dạy
Anh-Ngữ tại Việt-Nam và tại Úc: Kinh nghiệm hiếm quí để đời.
(2) Biên dịch và
phiên dịch Anh-Việt tại Úc: Kinh nghiệm thượng vàng hạ cám.
(3)
Dịch thuật Anh-Việt bằng máy: Niềm mơ ước còn hoài.
Trong khi loay hoay soạn sửa, viết dàn bài
cho các bài nói chuyện trong Khu Nội trú dành cho người nước
ngoài, trong những đêm khuya thanh vắng, tôi cũng đã nghĩ ngay
đến việc chuyển ngữ đề tài nói chuyện trên sang tiếng Anh, vì
cuộc hội thảo, trao đổi kinh
nghiệm, theo dự kiến là sẽ diễn ra bằng song ngữ.
Trong chủ đề (1) “Học và dạy Anh-Ngữ tại
Việt-Nam và tại Úc: Kinh nghiệm hiếm quí để đời,” tôi đã
nghĩ cái khó nó nằm trong cụm từ “Kinh nghiệm hiếm quí để
đời”. “Hiếm quí” hay “Quí hiếm” thì ai đã học
chút tiếng Anh mà chả biết là “precious” nhưng còn “để
đời” đã khiến tôi phải dành chút ít suy nghĩ. Cụm từ “để
đời” theo tôi có nghĩa là “khó quên và có giá trị lâu
bền”. Nghĩ thế thì mình lại tự hỏi mình, đặt mình vào
trường hợp của người bản ngữ tiếng Anh, thì một cái tựa đề như
thế nên chọn chữ gì, câu gì. Nói thế nào thì nghe mới kêu, mới
hấp dẫn. Sau cùng tôi đã đi đến quyết định và đã hài lòng với
kết quả câu dịch là: “An invaluable and unforgettable
experience”. Và như thế chủ đề toàn bộ đã được dịch là:
“Learning and Teaching EFL/ESL in Vietnam and Australia: “An
Invaluable and Unforgettable Experience”.
Trong chủ đề (2), “Biên dịch và phiên dịch
Anh-Việt tại Úc: Kinh nghiệm thượng vàng hạ cám,” cái khó
tôi nghĩ nó nằm trong cụm từ “Kinh nghiệm thượng vàng hạ
cám.”
Từ
ngữ
“kinh nghiệm” thì không có gì đáng nói, nhưng thế
còn thành ngữ “thượng vàng hạ cám” thì sao? Trước tiên
tôi tự hỏi: “Đã đành trong tiếng Việt chúng ta có nói “kinh
nghiệm” và cũng nói “thượng vàng hạ cám”, nhưng liệu
chúng ta có nói, có kết hợp hai cụm từ đó lại với nhau thành
“kinh nghiệm thượng vàng hạ cám” không?”
Sau một hồi suy nghĩ, và với khả năng của một người bản ngữ
tiếng Việt, tôi cho là nếu có nói, có kết hợp chúng như thế thì
cũng được, cũng tự nhiên thôi.
Cho dù đã hiểu nghĩa tiếng Việt “thượng
vàng hạ cám” là gì rồi, tôi cũng muốn tra cứu xem sách tự
điển Việt-Anh xuất bản ở trong nước giảng nghĩa sang tiếng Anh
ra sao, và liệu sách có dịch được “ý” tương đương sang Anh ngữ
chăng. Vì không sẵn có cuốn từ điển Việt-Anh nào trong tay khi
ở Sài Gòn lúc đó, tôi bèn gọi điện thoại ra Hà Nội cho tác giả
Bùi Phụng để hỏi thăm ông, và nhân đó hỏi xem từ điển của ông có
liệt kê cụm từ cố định đó
hay không. Giáo sư Bùi Phụng
là người vốn vui tính,
mà tôi đã từng quen
thuộc, đã thăm viếng
ông tại tư gia ở Phố
Mai Hắc Đế, Hà Nội và đã từng ngồi uống bia
tán gẫu thoải mái với
nhau ngoài đường phố, gần nhà ông từ nhiều năm trước đây.
Tác giả cuốn Từ-điển
Việt-Anh (Vietnamese-English Dictionary), dầy cộp, với ấn
bản mới nhất chứa có đến 500.000 mục từ, nặng gần 5 kí-lô,
đã vui mừng đề nghị tôi ra một hiệu sách nào đó ở Sài Gòn, chẳng
cần phải mua, cứ việc lật từ điển của ông ra là có, là tìm thấy
liền.
Tôi đã ra hiệu sách Fahaxa là hiệu sách lớn
tại Đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn, lật sách từ điển của Bùi Phụng
thì không thấy. Tiện tay tôi cũng lật nhiều từ điển Việt-Anh
khác, kể cả những quyển của Lê Khả Kế, Trịnh Xuân Hùng, hoặc
Quang Hùng-Ngọc Ánh, nhưng đều ngạc nhiên là không thấy sách nào
liệt kê mục từ này.
Sau đó, tôi chợt nhớ ra cuốn Chữ Nho và
Đời Sống Mới của tác giả Nguyễn Ngọc Phách, mà cháu Trần
Đình Phước ở cùng nhà tại Sydney, đã mua tặng tôi cách đó mấy
tháng. Tôi cũng xin nói thêm
ở đây là cuốn Chữ Nho và Đời Sống Mới, theo tôi,
là một công trình to lớn, đáng quí, để đời.
Giáo sư Đàm Trung Pháp, Tiến
sĩ Ngôn Ngữ học, tại một đại học ở Texas, Hoa kì, đã không tiếc
lời để nói lên sự trân quí đó:
“Chữ Nho & Đời Sống Mới, tóm lại, là một kho tàng kiến
thức đầy hoa thơm cỏ lạ trong các lãnh vực ngôn ngữ, văn chương,
triết học, và chính trị đang chờ đón những nhà thám hiểm trí
tuệ. Mặc dù cuốn sách quý này được tác giả nhắm vào giới trẻ
Việt Nam sinh trưởng tại phương Tây cho nên không giỏi tiếng
Việt, sự ích lợi của nó không có biên giới. Ai ai muốn trau
giồi tiếng Việt đều cần cuốn sách tra cứu này. Phải chăng vì đức
khiêm tốn mà Nguyễn quân đã đặt tên phụ cho cuốn sách là
Thành-ngữ Hán-Việt Thông-dụng? Theo tôi, gọi nó là Thành-ngữ
Hán-Việt Tinh-túy cũng không phải là quá đáng đâu.”
Nghĩ đến sách nói
trên, tôi bèn “email” về Úc nhờ cháu
Phước tra cứu xem sách đã giải nghĩa và dịch sang tiếng Anh ra
sao? Câu trả lời của cháu, sau một thời gian chờ đợi, là sách
của ông chỉ giảng nghĩa tiếng Việt là: “đủ mọi mặt hàng”,
trong một tiểu mục của mục từ “thượng bất chính, hạ tác
loạn”, trong đó chữ “thượng” và chữ “hạ” được
giảng nghĩa là “trên” và “dưới” (trang 495). Về
sau, có dịp tra Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, tôi
được biết sách đã ‘chua’ nghĩa như sau: “Đủ các thứ, từ cái
quý nhất đến cái tầm thường nhất. (trang 978).
Vấn đề chuyển dịch chủ đề (2) “Biên dịch
và phiên dịch Anh-Việt tại Úc: Kinh nghiệm thượng vàng hạ cám,”
thì qua việc tham khảo từ điển ở thời điểm đó như thế là vẫn
chưa được giải quyết. Thật ra khi điện thoại hỏi Giáo sư Bùi
Phụng, tôi đã có nghĩ tới dịch “ý”
thay vì dịch “lời”, đề
tài nói trên, nhưng chưa tiện cho ông biết. Tôi không dịch
“vàng” là “gold” hoặc “cám” là “rice bran”;
“thượng” là “high above” hoặc “at the
upper end” hay “at best”; “hạ” là “down
below” hoặc “at the lower end”, hay “at worst’
mặc dù hiểu nghĩa đen là như vậy. Tôi trộm nghĩ, khi chọn đề
tài nói về kinh nghiệm làm nghề thông ngôn và phiên dịch tại Úc,
tôi có ý định là sẽ viết lên, nói lên những “cái tốt”,
“cái hay”, “cái đẹp” mà người hành nghề được hưởng và
những “cái xấu”, “cái dở”, “cái tệ” mà
người hành nghề phải hứng chịu. Và vì thế, trong đầu tôi thoáng
hiện cụm từ trong tiếng Anh mà tôi đã nghe đâu đó: “The good,
the bad and the ugly” để dịch “Kinh nghiệm thượng vàng hạ
cám.” Sau này, khi hỏi ra
thì biết cụm từ cố định tiếng Anh này đã là tựa đề của một cuốn
phim Mĩ, trong đó có mấy anh hùng xạ thủ, mấy tay súng bắn nhau
chí chạp, nổ súng đùng đùng. Phim đã thể hiện cho khán giả thấy
“cái thiện”, “cái ác”, “cái xấu xa”
trong đó.
Kết quả chủ đề (2) “Biên dịch và phiên
dịch Anh-Việt tại Úc: Kinh nghiệm thượng vàng hạ cám” đã
được tạm dịch là:
“English-Vietnamese Translation and Interpreting Work in
Australia: The Good, the Bad and the Ugly”.
Nay xin đề cập đến
chủ đề (3) “Dịch thuật Anh-Việt bằng máy: Niềm mơ ước còn
hoài”. Chủ đề này thật ra đã được tôi suy nghĩ từ trước khi
về Việt Nam. Cái khó ở đây là cụm từ “còn hoài” nghĩa là
“mãi mãi”, “không dứt”, thì dịch là
“everlasting”, “endless” được không? Còn
“niềm mơ ước”
nghĩa là “điều mong muốn”, “niềm ao ước” dịch là
“wish”, là “desire” , là “dream” thì đi cùng
với tính từ nào? Sự kết hợp hai cụm từ này trong tiếng Anh
mang ý nghĩa gì? Có tự nhiên, có hài hòa không? Khi có dịp
bàn thảo với người bản ngữ tiếng Anh, tôi đã có những đề nghị để
dịch “ý” như sau: “my
lifelong ambition” [tham vọng trọn đời (của tôi)], “my
ultimate objective” (mục tiêu tối hậu), “my eternal
passion”(ước muốn muôn thuở), “my burning desire” (ao
ước sôi sục/nóng bỏng), “my unquenchable thirst”(khát
vọng khôn nguôi), “my insatiable quest” (nỗi niềm day dứt
kiếm tìm).
Sau cùng, cũng vì hai chữ “còn hoài”,
có nghĩa là “từ lâu đã có mà đến nay, hoặc trong tương lai
cũng vẫn còn” nên tôi đã quyết định dịch là “A
long-held dream.” Và kết quả phần dịch toàn thể chủ đề là:
“English-Vietnamese Machine
Translation: A Long-held Dream”.
Cách dịch này đã được dùng làm tựa đề cho bài
viết bằng tiếng Anh của tôi
trên một Trang Nhà ở California, Mĩ quốc.
Có điều từ bài viết về chuyện máy dịch, tôi
chợt nhớ ra phần kết luận của bài viết đó như sau:
“Chừng nào chuyện dịch bằng máy trở thành hiện thực thì việc
dịch thuật nhất định phải là một cái nghề cho giới trẻ, một cái
nghề quí hiếm trong tay, mà cho dù có “ruộng bề bề ” cũng không
bằng.
Cổ
nhân ta đã chẳng bảo “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” đấy sao?”
Cái khó cần phải tra cứu để dịch ở phần kết
luận này nằm ở câu cuối: “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”.
Thông thường muốn dịch, trong trường hợp này ra tiếng Anh, thì
trước hết phải hiểu nghĩa cụm từ chữ Hán-Việt đó nghĩa là gì
trong tiếng Việt cái đã. Với kiến thức Hán-Việt không đến nỗi
ăn đong của tôi, tôi cũng có thể giải nghĩa không cần tra cứu
sách vở nào cả là: “Nếu mình thật giỏi, thành thạo về một
nghề nào đó, thì mình sẽ khá giả, sẽ có được đủ mọi thứ trên đời
này.” Và khi hiểu như thế, tôi đã dịch ra là:
“A
well-skilled trade will bring you many great returns.”
Thế nhưng, khi tra cứu cuốn “Chữ Nho và
Đời Sống Mới”, của tác giả Nguyễn Ngọc Phách,
xuất bản tại Melbourne,
Australia, năm 2004, thì được biết ông giảng nghĩa như
sau (tất nhiên có cả chữ Nho,
nhưng xin được miễn ghi ở đây):
[nhất,
một, nghệ, nghề, tinh, giỏi, thân,
thân-thể, vinh, tươi tốt].
Chỉ làm
một nghề thì tay nghề ắt giỏi và sống độc-thân thì sướng cái
thân--một lời khuyên người mới lớn đến nay còn chứng-tỏ là rất
đúng: Keep to the trade and you will be good at it and
refrain from falling in love too soon, and your life will run
smoothly. (trang 324) [Tôi xin tạm dịch: Hãy giữ lấy nghề
mình có, thì rồi sẽ giỏi nghề. Chớ vội yêu đương quá sớm, thì
đời mình mới suôn sẻ, đâu vào đó được.]
Nghi ngờ chính sự
hiểu biết của mình, tôi đã hỏi ít nhất
là 5 người có thẩm quyền tiếng Việt, hay đúng hơn là Hán-Việt,
thì họ đều đồng ý với tôi. Có người còn cho rằng theo quan niệm
nhà Nho, đâu có ai khuyên mình chỉ nên sống độc thân cho sướng
cái thân? Đâu có ai dạy mình, chỉ sống cho mình mà không sống
cho đời đâu?
Đại Từ điển tiếng Việt
của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung Tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt
Nam, Nguyễn Như Ý, Chủ biên, do Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin
phát hành năm 1999, thì đã định nghĩa như thế này: “Có một
nghề chắc chắn, thật tinh thông thì có thể sống sung sướng cả
đời, còn hơn có nhiều nghề mà dang dở, không nghề nào thành
thạo, điêu luyện cả.” (trang 1244).
Ngôn ngữ theo tôi được hiểu là có tính
động (dynamic), thay vì tĩnh (static), nghĩa là có
biến hóa, thay đổi theo thời gian, chứ không nhất thiết đứng
dừng, chết cứng ở một thời điểm nào đó. Chính vì vậy, tôi phân
vân tự hỏi không hiểu Giáo sư Nguyễn Ngọc Phách,
người tôi đã từng quen biết
hơn 30 năm nay, đã định nghĩa cho cụm từ “nhất nghệ
tinh, nhất thân vinh” theo quan điểm “tĩnh” hay
“động” đây?
Trịnh Nhật
Sydney, Tháng 12, 2005
Trở về Trang Chính
|