|
Mùa Thu, mùa lãng mạn ở Úc đã lại
về! Mùa của những con nai vàng ngơ ngác, của tình yêu len lén vô tim, nhưng mùa
Thu cũng là của u buồn, của mất mát, giận dỗi, tủi hờn, của tháng Tư Đen, của
Nguyễn Công Hoan “Mẹ tôi sớm biệt một chiều thu’.
Ngày Giỗ Mẹ đã đến, lời Mẹ nhặn từ
Cõi Âm qua ‘đồng thiếp’ là những lời ngắn gọn, dễ hiểu, chính xác và tự nhiên,
nhưng vô cùng xúc động:
“Mẹ đã sụt sùi biết bao nhiêu năm tháng vì thương nhớ những
đứa con yêu. Mẹ vẫn lần mò ra trước ao mà chưa nắm được áo người xưa, nên Mẹ
vẫn còn chìm đắm trong giấc mơ—mơ ngày các con về, để nghe:
“Tiếng sáo mục đồng êm ả,
Tình quê hương tha thiết ngân nga,
Thay tiếng tiến quân ca,
Và
quốc tế ca,
Là
tiếng sáo diều trên trời xanh bao la!”
(Phạm Duy)
Ở dương trần ấy, các con đã về chung dưới mái nhà? Các con
vẫn thương yêu nhau đấy chứ? Vẫn cùng nhìn về một hướng? Vẫn giữ được tâm hồn
Việt Nam, vẫn nói, vẫn viết tiếng mẹ đẻ? Các con vẫn giữ tình “gà cùng một mẹ”?
Hỡi những cánh chim bạt gió, lạc bầy của Mẹ! Hẹn buổi đoàn viên.”
(Mẹ Việt Nam)
Mùa Thu lại khơi dậy trong tôi một
thời thơ ấu nơi quê nhà, nhớ đến lời văn mượt mà, nhung lụa:
“Thu năm nay tôi lại đi trên con đường vắng này, nghe từng
tiếng chiếc lá rơi bên bờ cỏ. Những cây liễu xanh đứng buồn như những nàng cung
nữ thời xưa, và trong vườn nhà ai, đóa hoa phù dung nở trắng như những linh hồn
trẻ. Tôi đem lòng về đây để gặp lại mùa Thu thương nhớ cũ và may cũng thấy thu
về để nước hồ xanh.” (Đinh
Hùng)
Mùa Thu lại vang vọng thảm cảnh
của một đất nước chìm trong binh lửa qua những lời tâm ca quyện trong tiếng
nhạc:
“ Sớm mai vừa thức dậy,
Nghe tin anh gục ngã
nơi chiến trường.
Nhưng trong vườn tôi...
vô tình,
Khóm tường vi lại nở
thêm một đóa.
Tôi vẫn sống
Tôi vẫn yêu
Và tôi vẫn thở…
Nhưng biết bao giờ
Biết bao lâu
Tôi mới nói được
Những điều tôi vẫn ước
mơ…” (Phạm Duy)
Mùa Thu lại nhắc nhở một cuộc
chiến gây niềm hoang mang cho lớp trai trẻ một thời:
Tôi với anh
Những người trai thế hệ
Một sớm ra đi không hẹn
ngày về
Chẳng biết mình hi sinh
vì lí tưởng
Hay đã lầm chân lạc
bước cõi mê!
Một chiến cuộc huynh đệ tương tàn,
chỉ thấy máu tanh hôi của thù hận tràn lan trên mảnh đất quê hương nhỏ bé thân
yêu:
Viễn ảnh cuộc đời,
Ôi tối đen!
Như đường xa miền địa
ngục không đèn
Chỉ thấy theo chiều hun
hút gió
Mùi máu tanh nồng nặc
bốc lên!
Một cuộc chiến đã khiến nhạc sĩ
Phạm Duy phải lên tiếng sót sa, châm biếm:
Kẻ thù ta đâu có phải
là người
Giết người đi thì ta ở
với ai?
Hay cũng như người bạn thân của
tôi đã có tự vấn:
Quân thù là ai? Và mi ở
đâu?
Trên khắp mặt địa cầu?
Ngơ ngác trong đêm
Tâm tư tìm kiếm
Quân thù là người
Thì ta là ai?
Hai đứa nhìn nhau
Buông tiếng thở dài!
Và để rồi anh đi đến kết luận:
Riêng tôi người Việt
Nam
Buồn cho đất nước Việt
Nam
Tiếc thương cho lòng
dũng cảm
Của tuổi xanh tuổi trẻ
chúng mình
Tôi xin nguyện cầu
Cho tất cả những linh
hồn đã trót hi sinh!
Mùa Thu của những linh hồn tuổi
trẻ “đã trót hy sinh”. Mùa Thu của hoang vắng, tan tác, đợi chờ, hờn tủi:
“Những con đường tôi đã đi qua,
Những con đường không
phố không nhà
Chỉ thấy mắt buồn em
gái đợi
Rưng rưng nước mắt mẹ
già!”.
Hơn ba mươi năm chiến tranh đã dứt
trên đất nước Việt Nam, tôi xin mượn lời của người bạn, nay đã đi vào cõi viên
miễn:
“Người Việt đã ra đi mang theo gót giầy, cát bụi và đau
thương của đất Việt, giống như đàn ong chân đầy phấn nhụy, bay đi châm hoa kết
trái ở các vườn cây trên mặt đất. Nếu không sống làm người Việt được, chúng ta
hãy tiếp tục sống để làm người. Mạnh bởi đau thương nơi đất tổ, người Việt bất
cứ ở nơi nào, cương vị nào, sẽ đóng góp hữu hiệu vào một xã hội nhân hòa trong
mai hậu…
Giáo sư Nguyễn Hoàng Cương, nguyên
Chủ tịch Hội đồng Văn hóa Giáo dục Cộng đồng Người Việt tại NSW, Úc-đại-lợi, đã
đột ngột từ giã chúng tôi 16 năm trước, không hiểu anh có dấn thân vào một cuộc
hành trình lãng mạn nào không, nhưng trước khi vĩnh viễn ra đi một sớm mùa Thu,
anh đã tâm sự:
Riêng phần tôi, trước khi chấm dứt cuộc sống, tôi đã giữ được
sự bình thản của tâm hồn. Một nguồn vui cao rộng hơn cả đại dương, đất trời,
đang thu hút tôi về phía bên kia của hiện sinh. Tôi ra đi, không hối tiếc,
không tuyệt vọng.
Là cựu sinh viên du học tại Pháp
về văn chương, triết lí, luật học, và tại Mỹ về kinh tế hoc, lại còn
là một cựu cố vấn kinh tế, một cựu Thứ trưởng Ngoại thương thuộc Chính phủ Đệ
nhất Cộng hòa Miền Nam, người anh kết nghĩa của tôi, đã vượt qua nghịch cảnh,
chuyển đổi tiêu cực thành tích cực, bi quan thành lạc quan, và từ đó nẩy sinh
một niềm tin tưởng mãnh liệt vào con người và đặc biệt là con người Việt:
Tôi cảm ơn cuộc sống đã đưa tôi vào lạnh lẽo để yêu thương,
vào khắt khe để cố gắng, vào tăm tối để mong tìm ánh sáng, và vào đau khổ để
giác ngộ. Tôi vẫn hi vọng ở loài người, và trước hết ở người Việt.”
(Nguyễn Hoàng Cương,
Con Người từ Việt Nam,
1984).
Ơi người ơi!
“Một cõi đi về!”
Mẹ Việt Nam ơi!
“Chúng con vẫn còn đây!”
Anh Cương ơi!
“Chờ em anh nhé!
Giết xong giặc* em về!”
Trịnh Nhật
_______________
*Giặc gây chia rẽ
Trở về Trang Chính |