|
LTS. Mục “Tiếng Anh Tiếng Em” nhằm tạo cơ hội cho độc giả nâng
cao trình độ Anh ngữ qua những mẩu chuyện tiếu lâm, mẩu tin vui
cười viết bằng tiếng Anh hay tiếng Việt liên quan đến tình yêu,
hôn nhân, thời trang, văn nghệ, giải trí, du lịch v.v… Độc giả
thường khi sẽ được hướng dẫn về mặt ngôn ngữ và văn hoá Anh-Úc,
Việt để có thể thưởng thức những điều mình đọc tới mức tối đa.
Bao nhiêu tấc đất, tấc
vàng bấy nhiêu!
Mở đầu bài viết kì này là
một sự “ôn cố tri tân”, liên quan tới “emails” của anh Nguyễn
Văn Sở, và của chị Trịnh Thanh Thuỷ, cả hai đều ở Hoa Kì. Anh
Sở viết cho tôi 3 đoạn ngắn và tôi xin được lần lượt đáp lời anh
như sau:1. Nhật ơi, ‘Moa’ có một
anh bạn Bắc Kỳ rất thân (Nguyễn Thanh Trang, dân luật, dạy môn
kinh tế ở Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam và Trường Chính Trị
Kinh Doanh, Đà Lạt, hồi trước 1975, và sáng tác khá nhiều bản
nhạc hay như Duyên Thề, Tình Khúc Mùa Đông...) vẫn
thư cho ‘moa’ với câu mở đầu "Ông Sở ơi..."). Có lẽ vì vậy mà
‘moa’ mới có lời mở đầu ‘e-mail’ tương tự như lần vừa rồi. Nghe
cũng thân lắm chứ!
Đáp: Đồng í với anh, tôi
nói xa lạ là vì nghe không quen với cách xưng hô anh đã dùng với
tôi khi trước là “toa/moa”. Thế thôi! Qua bài “Trăng đến rằm
trăng tròn”, đăng trong Mục “Ngôn Ngữ”, của Báo Mạng <
www.talawas.org >, ngày
2.8.2003, tôi đã viết đại loại như sau: “Chính tôi và bạn bè
cũng đã có khi gọi nhau bằng 'Moi' bằng 'Toi' trong tiếng Pháp,
khi nói chuyện hoặc viết thư cho nhau bằng tiếng Việt. Lúc còn
nhỏ ở miền Bắc, bạn bè chúng tôi thân nhau gọi nhau bằng ‘Tớ’ và
‘Đằng ấy’. Khi vào trong miền Nam, lại đổi thành ‘Già/Bồ’ và
‘Tôi’. Bây giờ ở Việt-Nam, lối xưng hô ‘Đằng ấy’ và ‘Tớ’ hoặc
‘Già/Bồ’ và ‘Tôi’ cũng đã bớt thịnh hành. Mà bạn bè đã thân
nhau, Bắc Nam gì cũng vậy, họ có thể xưng ‘Mày/Tao’ với nhau. Ở
Việt Nam hiện giờ, tôi đã được nghe các bạn gái Bắc kì xưng hô
với nhau là “Cậu’ với “Tớ”.
2. Cám ơn những thông tin
của ‘toa’ về Từ Điển. Nếu bình phục và sức khoẻ được 8/10 bình
thường trở lại, ‘moa’ sẽ cố gắng phụ ‘toa’ về "collocations." Về
loại từ điển này có lẽ ở Việt Nam mình chưa có.
Đáp: Loại từ điển
này cho tiếng Việt ở Việt Nam mình chắc chắn là chưa có. Từ đầu
thập niên 1980 khi còn làm việc với Đài BBC Luân Đôn tôi đã bắt
đầu nghĩ đến chuyện nghiên cứu về hiện tượng “collocation” (=
kết hợp ngữ) trong tiếng Anh, một phần cũng là vì mình không
phải là người bản ngữ tiếng Anh nên phải học lối nói kết hợp
từ/hợp ngữ của người ta. Từ lòng khao khát muốn biết, và sau khi
hết hợp đồng ngắn hạn 3 năm với ‘BBC World Service”, tôi đã về
Úc và bỏ công nghiên cứu “Tiếng Anh Tiếng Em” trong địa hạt này
và với lòng miệt mài, cùng với mối ưu tư canh cánh bên lòng
trong nhiều năm, tôi sau cùng đã hoàn thành luận án tiến sĩ:
“English and Vietnamese Collocations: A Contrastive Analysis”
tại Đại Học Macquarie University, NSW, Australia. Trong gần 2
năm qua tôi đã dựa vào cuốn Oxford Collocations Dictionary
(For students of English), Oxford University Press, 2002 và cuốn
The BBI Dictionary of English Word Combinations của
Morton Benson, Evelyn Benson, Robert Ilson, do John Benjamins
Publishing Company, 1986, phát hành, để soạn cuốn Từ-điển
Kết-hợp-ngữ từ Anh sang Việt, mà cho đến nay vẫn chắc chưa
được đến 20 phần trăm cuốn sách.
Tôi còn muốn soạn cuốn
Từ-điển Kết-hợp-ngữ từ Việt sang Anh, nhưng đó
chính là một thử thách cam go, vì mình chưa có cái gì làm ‘nền’,
cho nên phải “start it from scratch”, bắt đầu từ đầu, từ con ‘số
không’. Do đó, sự hợp tác của anh Sở hoặc của bất cứ ai về sức
lực và tài lực đều sẽ vô cùng quan trọng và cần thiết. Cám ơn
anh Sở trước và cầu mong anh sớm hồi phục sức khỏe, như anh đã
kể lể trong bài viết “Lại thêm một kinh nghiệm cận tử” gửi bạn
bè của anh.
3. Trong câu chuyện kỳ
này còn có "McNaughty but nice," có lẽ ‘toa’ nên viết
thêm vài lời bình về "naughty" (ngoài cockatoo) vì từ này cũng
có nhiều nghĩa: (1) mischievious, behaving badly; (2) indecent,
improper (connected with sex); và (3) wicked, evil. Bức tranh
quảng cáo có ý viết trại đi cũng là vì dụng ý “sexual
association” trong những nghĩa này. Rất thân. NVS.
Đáp: Anh nói đúng,
khẩu hiệu quảng cáo "McNaughty but nice," rất hay về
phương diện chơi chữ: Tên cô hoa hậu thế giới là McNaught mà lại
gọi người ta là McNaughty [naughty = hư; đốn (ám chỉ ‘hư/đốn’ về
tình dục, về chuyện ‘ấy’, có í mắng yêu)], như trong định nghĩa
(2) indecent, improper (connected with sex) [= lẳng lơ; đĩ
thoã], mà anh đã trích dẫn. Qua những lời giải thích trên, tôi
xin tạm dịch câu quảng cáo "McNaughty but nice," là:
“McNaught hư mà hay”).
Riêng chị Trịnh Thanh
Thuỷ, xuất hiện gần như không ngừng nghỉ từ nhiều năm nay trên
các báo giấy và báo mạng khắp nơi, đã viết gửi qua website
khoahoc.net góp í với tôi như sau:
Gửi
tác giả Trịnh Nhật. Thủy đọc được bài viết “Chữ tác đánh chữ tộ”
của ông rất thú vị. Tuy nhiên Thuỷ có chút ý kiến đóng góp trong
lời bàn của ông. Trong chuyện cười thứ nhất:
“A
little old lady was running up and down the halls in a nursing
home. As she walked, she would flip up the hem of her nightgown
and say 'Supersex.' She walked up to an elderly man in a
wheelchair. Flipping her gown at him, she said, 'Supersex.'
He sat silently for
a moment or two and finally answered, 'I'll take the soup.'”
Ông bàn trong câu
chuyện cười thứ nhất là:
“Bà già xí xoọng vén vội, tốc vội áo ngủ
lên khoe với ông già ngồi xe lăn trong nhà dưỡng lão là bà có
siêu ‘sex’, ‘hàng hoá/đồ đạc’ thuộc loại thượng hạng xem ông có
muốn không. Bà nói “supersex” nhưng ông già chắc là hơi nghễng
ngãng (= hard of hearing) lại tưởng bà nói “soup” or “sex” (=
sup-er-sex). Thành thử “bà nói gà, mà ông hiểu vịt.””
Theo Thuỷ ông lão trong câu chuyện cười này là người biết chơi
chữ thâm thúy chứ không phải ông ta nghe lầm chữ tác đánh chữ
tộ. Người viết câu chuyện cười này biết chơi chữ vì chữ
“supersex” cắt ra (sup-er-sex) có thể hiểu “sup = soup or sex” .
Ông già này giả bộ hiểu nhầm “supersex” thành “soup or sex” vì
hai chữ sup và “soup” viết khác nhau nhưng phát âm giống nhau
nên ông ta chọn
'I'll take the soup.'”
Bởi vì thứ nhất ông ta quá già không “take sex” nổi nữa và thứ
hai có thể ông ta chê bà cụ già xí xọn, già rồi còn sếch siếc
chi nữa mà khoe.
Do đó, người viết câu chuyện này là người chơi chữ rất hay.
Thuỷ
có một ví dụ vui vui kể các bạn nghe nha. Khi chọn “username”
cho hộp thư của mình. Thuỷ
rất thích con chim “canary” vàng của “cartoon” là con “tweety
bird” nên tính chọn tên “tweety bird” hay “tweetie bird” nhưng
khi “submit” tất cả đều được người ta lựa rồi,
Thuỷ
lấy “thuytybird” cũng bị lựa luôn. cuối cùng
Thuỷ
bèn đặt “thuytyburd” và tên này không ai đặt cả. Chữ “bird” được
viết thành “burd” tuy viết khác nhưng âm đọc giống nhau. Sau này
nhiều người tưởng
Thuỷ “spell
burd” không đúng và cứ nhắc nhở mỗi lần
Thuỷ
cho “email address”. Họ không biết chữ “burd này” được dùng với
chủ ý.
Đáp: Quả là chị Thuỷ nói
đúng như điều tôi nghĩ. Có điều khi viết tập trung vào chủ đề
“chữ tác đanh chữ tộ”, nên vô tình không bàn rộng về chuyện ông
lão ngồi xe lăn trầm ngâm nhìn bà lão vén áo ngủ lên khoe cái mà
ở Việt Nam bây giờ có khi còn được gọi là “sinh thực khí” (=
genitals; genitalia). Ông cố í hiểu sai đi: “Trông thế kia mà
“siêu sex” cái khỉ gió gì?” Vả lại, chúng ta ai cũng biết, lão
ngồi xe lăn thì còn “làm ăn” được cái nỗi gì nữa, nên chọn “súp”
đi cho rồi!!! Qua đề nghị của chị Thuỷ, tôi xin chỉnh lại câu
Thành thử “bà nói gà, mà ông hiểu vịt” bằng cách thêm
hai chữ “cố tình” vào trước hai chữ “hiểu vịt” để chị
Thuỷ và các bạn đọc được hài lòng.
Quí Vị Quí Bạn ơi! Câu
chuyện tuần này được chuyển ngữ từ một bản tin ‘tiếng Em’ của tờ
Văn Nghệ Tuần Báo ở Sydney có tựa đề: “Trên một triệu tấn
vàng đang nằm dưới lòng đất của vùng Cabramatta”. Chuyện “thật”
hay là “tin vịt”, xin mời Quí Bạn cùng tôi đọc bản dịch tóm lược
bằng tiếng Anh sau đây:
GOOD NEWS FOR AUSTRALIA
More than a million tonnes of gold are lying underground
in the Cabramatta area.
Land in this area will prove to be true with a Vietnamese
saying: “An inch of land is worth an inch of gold.”
Cabramatta: If
you previously noticed you would have seen that a Caltex Service
Station on the corner of Hill Street and Cabramatta Road (whose
owner is Vietnamese) was formerly a booming business and did a
roaring trade 24/7, then out of the blue the service station
closed, ceasing operations.
The
owner hesitantly let it be known that they were closing
temporarily for some renovations and then the business would
resume operations in the next few days. However, following this
revelation, the whole area was fenced off and undercover
security personnel have heavily guarded the site night and day.
Recently, families living in the close vicinity of the petrol
station have been approached one at a time by high-ranking
council officers from a Special Committee of Fairfield City
Council. The council officers have offered to buy the houses
and the plots of land adjacent to the petrol station at ten
times the current market value.
The
members of the Committee gave as explanation that the area was
to be part of a development project for a Big Supermarket and
the future Commercial Centre of Fairfield City. This was the
reason the Council had agreed to purchase the properties at such
high prices.
When
enquiring further, we got to the heart of the matter and found
the above story was completely untrue. In actual fact, the
female owner of the petrol station had accidently dropped her
diamond ring into one of the underground tanks. This diamond
was extremely valuable. The owner then ceased trading
temporarily in order for the tanks to be siphoned to try to find
the ring. But by doing this, the experts (who emptied the
tanks) had detected that a very strong and unusual magnetic
force from the bottom of the tanks. At the end of the day, they
were startled to find that the cause of this magnetic force was
the fact that the petrol station was sitting on a quite
significant gold field.
Dr.
Charlet Barclay, General Manager of Olympus Pacific Minerals
Inc. (Canada) has continued the exploration to find other new
gold fields in the Cabramatta area, West of Sydney. This gold
field makes up only a small percentage of “the total gold
field areas” of Australia that have never been completely
exploited.
Last
Tuesday a meeting was convened which included Mr. Kevin Rudd,
Australian Prime Minister, Mr. Morris Iemma, Premier of NSW,
and Mr. Nick Lalich, Mayor of Fairfield City. At the meeting,
Dr. Charlet Barclay let it be known that as a result of his
exploration, the whole content of the Cabramatta field is 3.85
grams per tonne of ore while the gold content in Africa is 3
times more. However, at Cabramatta the gold would be extracted
by underground mining facilities which would be very
conveniently linked to the headquarters of the company that had
already been located at Bankstown Airport.
One
can be assured of the prospect of an exciting and thrilling gold
exploration industry in Sydney’s West whose central point is the
Cabramatta area. It is anticipated that in the next ten years
Australia will become the main headquarters of the company and
towards the end of year 2009 the exploration body will have to
move its gold mining areas in Darwin, Tasmania and the desert
region of Western Australia to Sydney’s West.
It
should be remembered that in Australia amateur prospectors have
occasionally detected small gold mines or pure gold nuggets
weighing anything from 1 kg to tens of kg. However, the
detection of a huge gold mine in the Cabramatta area is a very
rare thing indeed.
According to informed sources close to the National Resources
Committee, the fact of the matter is that although the centre of
the gold mine is in the Cabramatta area, the Committee has
decided to relocate exploration headquarters to Bankstown
Airport to avoid the disruption of Cabramatta’s the normal
activities, particularly when it is a typical tourist
attraction. From here an underground tunnel is planned to
include four lanes of traffic, leading to the gold field area.
Pipelines 1 to 2 metres in diameter will also be installed.
Modern equipment will be transported underground by the trucks
travelling day and night to and from the Olympus Pacific
Minerals Inc. Pure gold in the liquid form will flow through the
pipelines to the refinery area and refined within the parameters
of the airport. Afterwards it will be cast on the spot into
ingots. Each ingot will weigh one kg and will be transported by
plane every day to be stored at the Central Treasury.
With
the above amount of gold (which is all pure gold, old enough for
exploration), Australia will collect tens of thousand billion
dollars. In the meantime, the housing prices in the Cabramatta
area will spiral, exactly as the literal meaning of the
Vietnames expression, “an inch of land is an inch of gold”.
Lời bàn:
Theo
lời của người viết bản tin này thì câu chuyện trên là một câu
chuyện “phịa”. Theo thông lệ hàng năm, số báo vào đầu tháng Tư
Dương lịch, họ đều in một bản tin thuộc loại “Cá tháng Tư” để
mua vui cho Quí Bạn đọc. Và năm nay Toà soạn Văn Nghệ Tuần
Báo cũng gửi tặng bạn đọc tin tức loại này để hi vọng Quí
Bạn đọc sẽ cười xòa vui vẻ sau khi đọc xong bản tin.
Thông
lệ có bản tin “Cá tháng Tư” này theo chỗ tôi mới tìm hiểu thì
được biết là phát xuất từ nước Pháp, gọi là “Poisson d’Avril”.
Tháng Tư là tháng mà cá con được sinh nở ra rất nhiều, chúng bơi
loạn cả lên khắp mọi nơi, không biết đúng hướng nào, chiều nào
mà bơi. Bản tin thuộc loại “tin vịt” này có lẽ cũng từ í nghĩ
“loạn” đó mà ra. Tiếng Anh thì gọi “Poisson d’Avril” là “April
Fools’ Day”, được diễn nghĩa là “Ngày mồng 1 Tháng Tư tha hồ kể
chuyện phịa”. Vào ngày này ai có kể chuyện tào lao, bá láp, chọc
quê, chơi xỏ ai cũng đều được tha thứ, không bị khiển trách, tội
vạ gì hết. Chuyện kể về trò chọc quê, chơi xỏ (= hoax) của Úc
là trong nhiều năm trước đây Dick Smith [=
an
Australian
entrepreneur (= nhà doanh
nghiệp Úc),
businessman (= doanh
gia/thương) and
aviator (= phi công), known
for his qualities as an Australian patriot (= người yêu nước)
and
philanthropist (= người có
từ tâm)]
tuyên bố sẽ kéo
tảng băng khổng lồ/núi băng trôi (= iceberg) từ vùng Nam Cực về
Sydney Harbour để giải quyết nạn thiếu nước trầm trọng vào lúc
đó.
Trịnh Nhật, PhD
Sydney, 25.4.2008
Chú thích từ vựng
1) An inch of land
is worth an inch of gold = một tấc đất là (= đáng giá
là) một tấc vàng [nên hiểu “inch” (= 2.5 cm), nhưng một tấc
(= 10 cm) trong lối nói của tiếng Việt].
2) booming business
= buôn bán phồn thịnh.
3) out of the blue
the service station closed, ceasing operations = tự
nhiên cây xăng đóng cửa, ngưng hoạt động.
4) they were
closing temporarily for some renovations = họ tạm đóng
cửa nghỉ để sửa chữa.
5) the whole area
was fenced off = cả khu đất này được rào kín.
6) undercover
security personnel = nhân viên an ninh chìm.
7) heavily guarded
the site night and day = đã bảo vệ/canh gác cẩn mật ngày
đêm.
8) petrol
station/service station = cây xăng [tiếng Anh-Mĩ gọi
“xăng” là “gasoline” hay nói tắt là “gas”, nên
“cây xăng” họ gọi là “gas station”].
9) high-ranking
council officers = giới chức cao cấp của hội đồng thành
phố.
10) plots of land
= những thửa đất.
11) the current
market value = giá thị trường hiện thời.
12) diamond ring
= cà-rá/nhẫn kim cương/hột xoàn.
13) for the tanks
to be siphoned = để cho hút hết xăng trong hầm.
14) a very strong
and unusual magnetic force = một lực từ trường rất lạ và
rất mạnh.
15) a quite
significant gold mine = một mỏ vàng với trữ lượng khá
lớn.
16) the gold
content = hàm lượng vàng.
17) the prospect of
an exciting and thrilling gold exploration industry =
viễn cảnh một ngành công nghiệp khai thác vàng rộn ràng, sôi
nổi.
18) amateur
prospectors = những người đi tìm vàng tài tử.
19) exploration
headquarters = bản doanh khai thác (dầu).
20) lanes of
traffic = làn xe [ở Việt Nam nay họ gọi là “tuyến đường”
(xe chạy)].
21) pipelines 1 to
2 metres in diameter = nhưng ống dẫn có đường kính từ 1
đến 2 mét.
22) the refinerery
area = khu nhà máy tinh lọc.
23) within the
parameters of the airport = trong khuôn viên của phi
trường.
24) to cast into
ingots = đúc thành từng thỏi (vàng).
25) the housing
prices will spiral = giá cả nhà cửa sẽ tăng vọt.
26) literal meaning
= nghĩa đen.
Trở về Trang Chính
|