|
LTS.
Bài học Anh ngữ nói chung chủ yếu là bàn về tiếng Anh thời sự,
đã đọc được trên báo chí, nghe được trên đài phát thanh truyền
hình, với các độc giả trong tinh thần “Tôi học, Anh học, Chị
học, Em học, Chúng ta cùng học!”. Các từ vựng, đoản ngữ, tục
ngữ, thành ngữ, châm ngôn... tiếng Anh, tiếng Việt sẽ được lồng
vào những mẩu chuyện vui, cà kê dê ngỗng, cốt là giúp cho người
học dễ nhớ, vui mà học được. Những lời bàn tán ở đây nhất định
không thể được coi là những lời “thánh phán”, mà các độc giả,
tất nhiên có những người biết chuyện, sẽ được mời đóng góp ý
kiến của mình hoặc đặt câu hỏi để chúng ta có dịp cùng nhau tìm
hiểu, đồng thời chia xẻ niềm vui chung là học hỏi lẫn nhau. Bài
học còn có thêm phần liệt kê những kết hợp ngữ (collocations)
trong tiếng Anh, tiếng Việt để người học tham khảo.
Biết ra sao ngày sau?
Khi còn
ở Hà Nội cuối tháng Chạp năm ngoái, tôi đã được xem trên TV câu
chuyện "bí quyết về tình yêu" (secrets of love) với nội
dung như sau:
“Nàng
là một cô gái trẻ đẹp, sẽ học ra làm cô giáo dạy tiếng Anh, có
quan hệ tình cảm (romance) với một anh chàng, nhưng khi
anh chàng hỏi cô làm vợ thì cô còn chần chờ, chưa chịu, chứ
không phải là không chịu. Thế mà, người yêu cô, rất có thể là
người cô yêu, trong một buổi tối bốc đồng, thiếu suy nghĩ
(without thinking), đã tạt 'át-xít' vào người cô (threw
acid on her) khi cô trên đường đi làm, đi học về nhà bằng xe
đạp, khiến cô bị mù hai mắt (blinded her) và mặt mũi,
thân mình cô cũng bị cháy bỏng (burned her face and body).
Sau
này, có một anh trai trẻ khác và gia đình anh không biết ở đâu
dọn đến sống cạnh nhà cô, rồi anh đem lòng thương yêu, yêu thật
tình, nhất định xin lấy cô làm vợ (to wed/marry her).
Thoạt đầu, cô không chịu vì nghĩ rằng không có ai dám hi sinh
cuộc đời để yêu mình, nói chi đến (let alone) chuyện lấy
mình, và cũng nghĩ rằng mình không dễ gì mang lại hạnh phúc cho
ai đó. Bố Mẹ cô cũng nghĩ vậy. Cả hai ngưòi đã phải chịu bao
nhiêu gian nan, khó khăn thuyết phục (to persuade) gia
đình bố mẹ cả đôi bên. Nhưng sau cùng thì họ cũng lấy được
nhau.”
Câu
chuyện vô cùng cảm động (touching
story) vì những lời lẽ cô kể và hình ảnh chiếu trên truyền
hình.Tôi thấy khán giả, nhất là mấy cô mấy bà ngồi xem cuộc
phỏng vấn mà lệ tuôn rơi lã chã (with tears
falling/rolling down their cheeks). Có điều trớ trêu, miả mai
thay (ironically) là cô này có tên Lê thị Ánh Dương
[= ánh sáng mặt trời (the sunlight)]. Cuộc sống cuả cô hiện giờ
là dạy chữ “Braille” cho các trẻ em khiếm thị (visually
impaired children) ở tỉnh Thanh Hoá.”
Vừa
viết tóm tắt xong câu chuyện tình buồn (sad love story)
này cho ANHMV, thì tôi nhận lá thư điện tử (e-mail) cuả
cô cháu gái quê Hải Phòng như sau:
“Hôm
trước cháu có nói chuyện với Chú về bạn trai cuả cháu, đã ở
trong cùng ký túc xá
(residential college/dormitory) 2 năm rồi.
Cháu đưa anh ấy về nhà hôm Chủ Nhật tuần trước nữa, sau đó cháu
có gọi điện về nhà hỏi thăm thì được biết là gia đình cháu không
đồng ý, vì nhà anh ấy ở Lạng Sơn, xa quá, mà công việc lại
không ổn định. (does not have a steady job). Quan điểm cuả
cháu thì lại khác. Chúng cháu cùng có mục đích chung, đều đã tốt
nghiệp Đại học và hiện có công ăn việc làm
trên Hà Nội.
Chỗ ở thì tụi cháu tự thu xếp được. Chúng cháu đều mong
muốn học tập thêm để sau này nếu có điều kiện sẽ ra nước ngoài,
có thể là đi học hoặc đi theo hình thức nào đó (whatever
comes). Chúng cháu cần hiểu được cuộc sống ở nơi đó thế nào.Tụi
cháu yêu nhau thực sự (love each other truly), hiểu và
chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống.
Có thêm được một người
cùng lo lắng và phấn đấu
với mình, cháu thấy vui vẻ và lạc quan, sống có mục
đích hơn (have more of a
purpose in life). Cuộc sống thấy nhẹ nhàng hơn. Đúng là trong
cuộc sống cần phải cởi mở tấm lòng
(open up your heart) và hạnh phúc sẽ đến. Nhưng gia
đình cháu không hiểu điều đó. Chắc cháu cũng phải mất một thời
gian nữa để thuyết phục gia đình. Cháu sẽ không bỏ cuộc
(will not give up) như lần trước nữa (as I did last
time). Vì bây giờ cháu thực sự cảm thấy đã tìm được một nửa
thứ hai cuả mình (my other half). Chú có ý kiến gì giúp cháu
tham khảo không?”
Trước
khi có ý kiến riêng giúp cháu, tôi xin Quí Vị Quí Bạn cùng tôi
ôn lại, “tham khảo” đôi điều trong triết lí nhập thế cuả Phật
giáo (tiếng Anh đã được tôi gài đặt cho bài học):
Thực
chất cuả đạo Phật là một học thuyết về nỗi khổ và sự giải
thoát [the doctrine of suffering and deliverance from
suffering]. Đức Phật đã từng nói: “Ta chỉ dạy con một
điều: Khổ và khổ diệt.” [To you I teach but one thing:
Suffering and the cessation of suffering]. Cơ bản cuả học thuyết
này là Tứ diệu đế (Bốn Chân lí Kì diệu) [Four Noble
Truths (the four marvellous points of truth):
1.
Khổ đế là chân lí về bản chất cuả nỗi khổ. Cuộc sống
quanh ta, trong thế giới hiện thực, đầy nỗi khổ. Khổ là gì?
(What is suffering?) Đó là trạng thái buồn phiền phổ biến ở
con người do sinh, lão, bệnh, tử (birth, aging, sickness,
death), do bất cứ nguyện vọng nào không được thoả mãn
(any unfulfilled aspiration).
2.
Nhân đế là chân lí về nguyên nhân cuả nỗi khổ
(the cause of suffering). Con người trong thế giới hiện thực này
khổ là vì đâu? Đó là do ái dục [= ham muốn = desire
(craving)] và vô minh [kém sáng suốt = ignorance (the
lack of wisdom)] do tham-sân-si [lòng tham, lòng giận dữ,
sự ngu dốt = greed, ill-will/anger, delusion/stupidity)]
thúc đẩy.
3.
Diệt đế là chân lí về cảnh giới diệt khổ (the
cessation of suffering). Nỗi khổ sẽ được tiêu diệt khi
nguyên nhân gây ra khổ (ái dục và vô minh) bị loại trừ. Sự tiêu
diệt khổ đau gọi là Niết bàn (Nirvana), nghĩa đen là “dập
tắt”, dập tắt ngọn lửa phiền não [extinguishment (of the
fire of bondage)]. Đó là thế giới lí tưởng cuả sự giác ngộ và
giải thoát.
4. Đạo đế là chân lí chỉ ra con
đường (biện pháp) diệt khổ [The path to the cessation of
suffering]. Con đường diệt khổ, giải thoát và giác ngộ
đòi hỏi phải rèn luyện đạo đức [giới = virtue], rèn luyện
tư tưởng [định = mindfulness], và khai sáng trí tuệ
[tuệ = wisdom].
(Tìm
về bản sắc văn hoá Việt Nam, Trần Ngọc Thêm, NXB TP. Hồ Chí
Minh, 1996)
Trong
cuốn The Art of Living (Nghệ thuật sống), Đức Đại-La
Lạt-Ma, Giáo chủ Phật giáo Tây Tạng, đã viết những ý kiến trên
như sau:
The
fundamental teaching (giáo lí cơ
bản) of the Buddha (Đức Phật) is the teaching on the Four
Noble Truths: (Tứ diệu đế) 1) That there is suffering; 2)
that suffering has cause; 3) that there is cessation of
suffering; and, 4) that there is a path to such freedom. The
underlying principle of this teaching is the universal
principle of causality (nguyên lí nhân quả). (The Art of
Living: A guide to contentment, joy and fulfillment, His
Holiness the Dalai Lama, HarperCollins Publishers, 2001)
Giáo sư
Bác sĩ Thái Minh Trung, Phân khoa Tâm thần học
(Department of Psychiatry), Trung tâm Y Khoa (Medical
Center), Đại học UCI, Hoa Kì đã viết về đạo Phật, mà tôi chỉ
xin trích vài đoạn liên quan tới “tu đạo và hành đạo” như sau:
“Tu là
tu sửa. Hành đạo, thực hiện đạo trong đời sống hàng ngày giúp ta
hiểu rõ được con người thật của ta. Khi ta học và hiểu được phải
dẹp bỏ “tham, sân, si” thì ta tưởng như khi ta hiểu được điều
này, “tham, sân, si” tự nó được dẹp. Sự thật không phải như vậy.
Chỉ khi ta thực hành bố thí (to give alms) mà trong bụng
còn cảm thấy hơi tiếc của thì lúc đó ta mới nhận thức được ta
tuy hiểu mà ta vẫn còn lòng “tham”, còn lo âu khi rời của cải
của ta. Chỉ khi nghe người khác chê hay nói xấu mình mà ta cảm
thấy có sự buồn phiền nổi lên trong lòng thì ta chợt nhận ra cái
“sân” của ta. Khi nhận ra “sân” nơi ta thì ta không còn đổ
thừa” (blame) là người nói xấu ta thật là vô duyên thất đức.
Chỉ có khi thực hành ta mới nhận rõ “tham, sân, si” nơi chính ta
và từ đó ta cố gắng tự trị lấy bịnh của mình mà không còn đổ
thừa hoàn cảnh bên ngoài để tự biện hộ cho ta nữa (to
fend for yourself).
Tu hành
là trở về sự toàn thể. Sở dĩ ta đau khổ là ta tự ngắt bẻ mình ra
ngàn phần. Phần chính được gọi là “ngã” và phần bị mất gọi là
“ngã sở”. Một thí dụ cho dễ hiểu là tình yêu lứa đôi. Khi còn
nhỏ thì đứa bé cảm thấy tương đối đầy đủ, không có cảm giác nhớ
nhung và đau khổ của kẻ thất tình (a rejected lover).
Nhưng khi vào tuổi dậy thì, khi biết yêu thì tâm hồn nó bị phân
chia ra và nó cảm thấy không đầy đủ nữa mà phải tìm người yêu
khác phái để lấy về sự đầy đủ ban đầu. Cái “ngã” (tôi
yêu) và “ngã sở” (người tôi yêu) bắt đầu phân chia rõ
rệt. Người thanh niên thiếu nữ cần đem cái “ngã sở”
(người yêu) về cho mình thì mới gọi được là hạnh phúc, có nghĩa
là trở về sự toàn vẹn ban đầu. Khi không được tình yêu thì tâm
hồn người thanh niên, thiếu nữ cảm thấy như bị cắt xén, thiếu
hụt, và cô đơn. Vì thế thất tình có thể dẫn đến sự tuyệt vọng và
tự tử (to kill youself/commit suicide).
“Sân” là phản ứng ta có khi ta bị từ chối. Bị từ chối làm ta cảm
thấy mất sự đầy đủ trong tâm hồn. Ta “sân” (tức giận =
angry) khi món đồ ta thích hay người ta yêu bị lấy mất. Sự mất
mát hay tình yêu bị từ chối hoặc cướp mất làm ta cảm thấy ta
không toàn vẹn nữa Tột điểm của “sân” là diệt bỏ
(destroy) người đe dọa sự toàn vẹn của ta để ta có thể trở về sự
đầy đủ ban đầu. Buồn hay mặc cảm tự ti là mặt trái của “sân” khi
đối tượng ta có nhiều quyền uy hơn ta, vì lý do nào đó ta không
diệt trừ người đó được (thí dụ như ta đang cần người đó). Ta
phải miễn cưỡng trở thành kẻ yếu để xin vào vòng chấp nhận và
được bảo vệ, để ta có thể trở lại sự đầy đủ.” (“Phật giáo,
Khoa học, và Giác ngộ”, đăng trong <
www.khoahoc.net
> ngày 18-9-2006)
Quí Vị, Quí Bạn ơi! Khái niệm tổng quát về
một triết lí sống là thế. Nhận xét riêng cuả tôi liên quan đến
tình yêu đôi lứa là như thế này:
“Tìm
được một người mình thích, mình yêu đã là khó, tìm được một
người mà họ thích, họ yêu mình lại càng khó hơn. Có ai đó đã
từng nói:
Nếu yêu mà lại được người yêu,
Thì tình yêu ấy có bao nhiêu.
Nếu yêu mà người không yêu lại,
Là một tình yêu có rất nhiều!
Hay có
một nhà thơ nào đó đã phải ngửa mặt lên trời mà than rằng:
Có phải em là người ta chưa từng gặp,
Mới là người ta ấp ủ trong tim?
Tình yêu,
tình thương theo triết lí Phật Giáo là: thương người như thể
thương thân (love/compassion). Hiểu mình hiểu người, vui với
cái vui của người khác, đau với cái đau cuả người khác với một
tình cảm bao la, không ích kỉ, không vướng bụi trần. Loại tình
thương yêu này khác/trái với loại tình cảm chỉ muốn gắn chặt
buộc chặt, chiếm hữu người khác, bắt họ phải thuộc về mình
(attachment/possession).
Bố Mẹ nào
cũng chỉ muốn ưu tiên là con cái lấy người mình quen biết, hoặc
làm sui gia với người mình quen biết, có được “môn đăng hậu đối”
thì càng tốt, không muốn sống xa con cái trong lúc tuổi già.
Cũng vì thế, là bậc Cha Mẹ, họ có cái cớ
(pretence/excuse) cuả họ để từ chối, để không thuận, không bằng
lòng, bất kể là tình yêu và quá trình tìm hiểu lẫn nhau cuả đôi
trẻ là gì, đã đi đến đâu. Phân tích kĩ thì thấy rằng biết đâu
chừng bậc phụ mẫu cũng đã nghĩ đến cá nhân mình nhiều hơn. Kinh
nghiệm cuộc sống đã cho ta thấy, nhất là trong văn hoá Việt Nam,
những chuyện vô cùng đáng tiếc, không lường trước được, xảy ra.
Chuyện gần nhất tôi được nghe kể lại là trong chuyến tôi đi tham
quan Hồ Than Thở, Đà Lạt hồi tháng 6 vừa rồi. Nấm mồ chôn cặp
tình nhân yêu nhau mà không lấy được nhau còn nằm đó bên hồ.
Bố Mẹ chúng ta cũng chỉ là người
(human)”, mà đã là người thì có sai lầm = “to err is
human”, như tiếng Anh họ nói, còn người mình thì bảo:
“nhân vô thập toàn”. Tôi còn muốn nói nhiều hơn nữa, nhưng mà
thôi!
Quí Vị Quí Bạn ơi! Chủ đề bài học tuần này
là: “Biết ra sao ngày sau?” (Que sera sera, What will be
will be?) cơ! Truyện thật kể rằng:
His name was Fleming, and he was a poor Scottish
farmer (nông gia người Tô-cách-lan nghèo). One day, while
trying to make a living (kiếm sống) for his family, he
heard a cry for help (tiếng kêu cứu) coming from a
nearby bog (bãi lầy gần đó). He dropped his tools and ran to
the bog.
There, mired to his waist (ngập sình/bùn lầy tới eo/thắt
lưng) in black muck (bùn đen), was a terrified boy
(cậu bé hoảng sợ), screaming and struggling to free himself.
Farmer Fleming saved the lad (cứu cậu bé) from what could
have been a slow and terrifying death (cái chết khiếp
đảm).
The next day, a fancy carriage (xe ngựa tuyệt đẹp)
pulled up (dừng/đậu lại) to the Scotsman's sparse
surroundings (khu vực hoang sơ/cây cối thưa thớt). An
elegantly dressed nobleman (nhà quí tộc ăn mặc thanh
lịch/tao nhã) stepped out and introduced himself as the father
of the boy Farmer Fleming had saved.
"I want to repay you," (tôi muốn trả ơn ông) said the
nobleman. "You saved my son's life." "No, I can't accept
payment (không nhận tiền trả ơn) for what I did," the
Scottish farmer replied waving off the offer (khua tay
gạt đi không nhận đề nghị đó). At that moment, the farmer's own
son came to the door of the family hovel (nhà/lều nhỏ bẩn
thỉu/tồi tàn).
"Is that your son?" the nobleman asked. "Yes," the farmer
replied proudly (hãnh diện trả lời). "I'll make you a
deal (tôi thương lượng với ông như thế này nhe). Let me
provide him with the level of education (trình độ học
vấn) my own son will enjoy (sẽ được hưởng). If the lad is
anything like his father, he'll no doubt grow to be a man we
both will be proud of." And that he did.
Farmer Fleming's son attended the very best schools and in time,
graduated (tốt nghiệp) from St. Mary's Hospital
Medical School (Đại học Y khoa) in London, and went on to
become known throughout the world as the noted Sir Alexander
Fleming, the discoverer of Penicillin (người phát
minh/chế ra thuốc pênixilin).
Years afterward, the same nobleman's son who was saved from the
bog was stricken with pneumonia (bị mắc bệnh viêm
phổi). What saved his life this time? Penicillin.
The name of the nobleman? Lord Randolph Churchill. His son's
name? (tên của con trai ông ấy à?)
Sir Winston Churchill.
Ngài
Winston Churchill là cố Thủ Tướng Anh mà danh tiếng đã lừng lẫy
năm châu bốn bể, đặc biệt là trong Đệ Nhị Thế Chiến
(World War 2), ông đã tập họp/qui tụ dân chúng Anh
(rallied the Brirish people) để tự vệ chống lại cuộc tấn công
dữ dội ồ ạt (onslaught) của Hít-le (Hitler). Ông còn
là một nhà hùng biện (orator) và nổi tiếng có những bài
diễn văn hay, đặc biệt là bài diễn văn (speech) “Battle
of Britain”, khi ông tuyên bố: “Never has so much been done,
by so few, for so many.” Hẳn Quí Vị, Quí Bạn còn nhớ?
Trịnh Nhật
Sydney, 22.8.2007
Kết hợp ngữ
(Collocations)
blind
verb
làm cho mù/đui, khiến cho mù/đui, làm mờ mắt (nghiã bóng)
·
ADV almost,
nearly gần như, hầu như The strong light almost blinded
him. | momentarily, temporarily tạm thời, nhất thời,
trong giây lát
blind
adj
1 đui, mù, không thấy đường, mù quáng (nghiã bóng)
·
VERB be, be born
bẩm sinh, sinh ra là bị rồi | be registered (as) | go
She went blind at the age of ten. | make sb làm cho
ai
·
ADV totally
hoàn toàn | almost, virtually hầu như | partially
một phần
·
PHRASE as blind
as a bat mù như dơi, be blind in one eye/in both
eyes mù một mắt/mù cả hai mắt He is almost blind in one
eye.
2
không màng đến (cái gì/chuyện gì), không thèm để ý đến (cái gì)
/không chiụ nhìn nhận (điều gì)
·
VERB be, seem
xem ra, coi bộ | become trở nên, hoá ra | make sb
khiến ai đó/người nào
·
ADV completely,
totally hoàn toàn, toàn bộ His own problems have made him
completely blind to the sufferings of others Những chuyện
rắc rối cuả chính ông đã khiến ông hoàn toàn chẳng màng gì tới
khổ đau cuả những người khác.
sunlight
noun
ánh mặt trời, ánh sáng mặt trời, ánh dương
·
ADJ
blinding, bright, brilliant, harsh, hot, intense, scorching,
chói chan
strong
nóng gắt,
warm
nóng/ấm
He emerged from the tunnel into blinding sunlight.
|
direct, full
plants that do
not like direct sunlight
|
pale, weak, wintry
| dappled, golden
vàng
the dappled
sunlight of the forest
|
reflected
phản chiếu
| afternoon
chiều,
morning
sáng,
evening
tối | autumn
muà thu,
spring
muà xuân,
etc.
·
QUANT
beam,
ray tia,
shaft cột,
luồng | patch
mảng,
pool
·
VERB + SUNLIGHT
block out
chặn lại, ngăn lại
a dank backyard
with a wall that blocked out the sunlight
|
gleam in
lập loè
trong/dưới, glint in
loé sáng/lấp lánh
trong/dưới, shimmer in
lung linh
trong/dưới, sparkle in lấp
lánh/lóng lánh trong/dưới
The sea shimmered in the sunlight.
|
be exposed to
bị phơi bầy ra, để lộ ra Do
not leave your skin exposed to sunlight for too long.
|
blink in
chớp mắt dưới,
squint in
nheo mắt dưới
They emerged from the cinema, blinking in the sunlight.
·
SUNLIGHT + VERB
come,
fall, filter
chiếu,
flood tràn
ngập, penetrate, pierce
xuyên qua,
pour
tràn,
shine
chiếu, slant, stream
chiếu
Sunlight
filtered dustily through the slats of the door,
o
in dark thickets
where sunlight could not penetrate o She threw back the shutters
and the sunlight streamed in.
|
dapple sth
làm cái gì thành
đốm, gleam on/through sth, glimmer on
sth, glint on sth, glitter on sth
chiếu lấp lánh
trên/vào cái gì, reflect from/on sth
phản chiếu
từ/trên cái gì, shimmer on sth,
sparkle on sth
chiếu lấp lánh
trên cái gì
Sunlight dapples
the grass around us
Ánh mặt trời tạo nên những đốm sáng trên đám cỏ quanh chúng ta.
o the sunlight sparkling on the water
Ánh mặt trời
lấp lánh trên mặt nước.
·
PREP
in the ~
trong
waves sparkling
in the sunlight
into the ~
dưới/trong
We came out into bright sunlight again.
suffering
noun
nỗi khổ, sự khổ đau, sự chịu đựng
·
ADJ
great,
intense, terrible, unbearable
to lớn, khủng
khiếp, vô cùng, chồng chất,
chịu không nổi
| needless, unnecessary
vô cớ, không đâu
| widespread lan tràn | human
(cuả) con người
| mental
tâm trí, physical
thể xác
The taunts of her schoolmates caused her intense mental
suffering.
·
QUANT
amount
số lượng,
lượng
The western world has contributed to the immense amount of
suffering in underdeveloped countries.
·
VERB + SUFFERING
cause
(sb), inflict
gây ra
| increase
gia tăng
| alleviate, ease, reduce, relieve
làm giảm, làm
vơi, làm nhẹ bớt
These tablets
should relieve his suffering for a couple of hours.
| endure, experience
chịu đựng, trải nghiệm
·
PHRASE
pain
and suffering
đầy những nỗi khổ
đau/đớn đau
His life was one
of
pain and suffering.
Trịnh Nhật
Sydney, 22.8.2007
Trở về Trang Chính |