Tiếng Anh Tiếng Em

 Động đực hay động tình?



 

LTS. Mục “Tiếng Anh Tiếng Em” nhằm tạo cơ hội cho độc giả nâng cao trình độ Anh ngữ qua những mẩu chuyện tiếu lâm, mẩu tin vui cười viết bằng tiếng Anh hay tiếng Việt liên quan đến tình yêu, hôn nhân, thời trang, văn nghệ, giải trí, du lịch v.v… Độc giả thường khi sẽ được hướng dẫn về mặt ngôn ngữ và văn hoá Anh-Úc, Việt để có thể thưởng thức những điều mình đọc tới mức tối đa.

 

Động đực hay động tình?

Trong bài viết lần trước, để trả lời câu hỏi của một nữ độc giả về cách dịch câu:

John Kennedy là Tổng Thống thứ ba mươi mấy của Hoa Kỳ?

 

Tôi đã nhắc lại điều đã học được hơn bốn chục năm trước với cố Giáo sư Nguyễn Đình Hoà để dịch câu này là:

“In the line of American Presidents, what ranking was John Kennedy?”

 

Thì tôi nhận được phản hồi của một nữ độc giả khác. Cô viết như sau:

“Bác Nhật ơi! Trong phần trả lời Câu hỏi 1, bác dùng chữ "ranking" ở đây e có thể làm cho người đọc/nghe hiểu lầm về cấp bậc/ngôi thứ của Tổng Thống Kennedy mặc dầu ở đầu câu có cụm từ "in the line of". Em đưa câu trả lời ra để trắc nghiệm với hai "chủng tử "(Đôn & Tú Khuê) của em để xem chúng hiểu như thế nào thì cả hai đều hiểu đại loại như Tổng Thống ở cấp bậc/ngạch trật/hierachical order (senior hay junior), etc. Có thể em sẽ trả lời một cách đơn giản hơn mặc dầu không sát với câu hỏi lắm:

 "How many American presidents came before President Kennedy?"

 

hoặc như thế này:

 "In chronological order, what number was President Kennedy as an American president?"

 

Đó là những ý kiến thô thiển của em, mong nhờ bác chỉ giáo thêm. G'day. (KL, Sydney).”

 

Cám ơn cô Kim Loan. Trước khi trả lời thẳng vào câu hỏi, tôi xin được nói thêm một chút: Qua câu hỏi trên ta thấy được một điều là người đặt câu hỏi biết John Kennedy là Tổng Tống thứ 33, 34, 35 hoặc 36 gì đó, nghĩa là không nhớ rõ, nên hỏi để biết cho chắc. Còn câu hỏi trong tiếng Anh như đã được dịch thì người hỏi không hàm í là họ biết như trường hợp người hỏi câu tiếng Việt. Khác nhau là ở chỗ đó. Tiếng Việt ta đã tiến gần tới mục tiêu hơn, tiếp cận sát hơn trong lối hỏi này. Nhân đây, để chia xẻ với Quí Vị nào tò mò muốn biết trong mấy chục đời Tổng Thống Mĩ, John Kennedy đứng theo thứ tự niên đại, thứ tự xếp hạng, là hàng thứ mấy. Dạ thưa: “Kennedy là Tổng Thống thứ 35 của Hoa Kì.” Số 35 con dê (cho dễ nhớ), mà chắc Quí Bạn cũng đồng í với tôi là nếu gán cho ông chữ “dê” thì cũng không đến nỗi nói ngoa. Này nhé! Ông đẹp trai, nét đẹp tài tử, lại tài giỏi quá mà, làm đến Tổng Thống của một nước Đại Cường! Ông đào hoa là cái chắc. Trong số người tình của ông, chắc phải kể đến cô đào nẩy lửa Marilyn Monroe (= Ma-ri-lin Mông-rổ), nổi tiếng trong phim “Bẩy năm ngứa nghề”. Cô này đã tự tử giữa thời xuân sắc! Thử hỏi vì ai nên nỗi?  

 

Nay trở lại để trả lời cho cái khiêm tốn, cái gọi là “ý kiến thô thiển” của nữ độc giả KL, tôi đã tra cứu từ điển và được biết có hơn 10 định nghĩa khác nhau của chữ “rank”, nhưng nghĩa thứ (4) và thứ (5) của nó là:

(4) The position of an item in any ordering or sequence. (5) a line of people or things. (Collins Australian Compact Dictionary, HarperCollins Publishers, 2003).

 

Theo tôi, “ranking” thì cũng mang nghĩa như vậy nhưng hàm í tổng quát/trừu tượng hơn. Cũng xin nói thêm ở đây là trước khi đưa câu dịch đề nghị trong đó có chữ “ranking” tôi cũng đã “double check” (= kiểm tra lại) với một người bản ngữ tiếng Anh thuộc loại “educated” (= có chữ có nghĩa), nên thái độ “cẩn tắc vô áy náy” đó đã giúp cho tôi vững niềm tin hơn. Và chữ “ranking” ở đây không có nghĩa, và cũng không thể được hiểu là “cấp bậc/quân hàm trong quân đội.”  Thêm nữa, khi nói về ngôi thứ của các vị vua chúa, người ta cũng bắt đầu bằng: “In the line of English royal succession…”, rồi có thể hỏi tiếp: “…what ranking is Queen Elizabeth II?”

 

Nữ độc giả KL, sau khi đã hội ý với cậu con trai và cô con gái của mình—tôi biết hai cháu sinh ra ở Úc, được giáo dục đến trình độ Đại Học tại Úc--đã đề nghị hai câu dịch sang tiếng Anh kể trên, mà tôi thấy đều rất chính xác, chẳng chê được nào!  Nhưng cũng chỉ dịch được đến thế là cùng (như cô KL cũng đã nói), và đó là tại cái hạn chế, cái lối nói cụ thể, của tiếng Anh trong trường hợp này.

 

Nữ độc giả gà nhà tại Sydney thì hỏi thế, nữ độc giả thân hữu tại Đan Mạch thì nói sao?

“Bài vở của anh càng ngày càng xuất sắc, dí dỏm và hữu dụng. Anh đã có ý định ra sách chưa. Khi nào ra sách, gửi cho tôi một quyển "mua may xưa" nghe (mua mở hàng), để lấy hên. Tôi mát tay lắm, anh “bán may xưa” cho tôi, coi như sách anh sẽ bán hết trơn hết trọi "trong nháy mắt". (Mua/bán may xưa: hình như chỉ là từ của xứ Huế). Khi nào ra sách và nếu anh muốn Uyên Hạnh viết bài giới thiệu sách anh trên khoahoc.net để bà con biết mà mua, thì tôi xin sẵn sàng làm việc đó.” (Uyên Hạnh, www.khoahoc.net).

 

Cảm tạ sự sốt sắng của chị Uyên Hạnh, người có khả năng chịu đọc và đã chịu giới thiệu sách cho nhiều người qua mạng www.khoahoc.net. Cũng xin cám ơn chị đã cho tôi được học thêm một từ mới nữa “mua/bán may xưa” tiếng Huế ròng của chị.

 

Trong số những phản hồi, còn có nhận xét của một anh bạn tên Sở, không phải họ Sở, tại Hoa Kì đã không tiếc lời:

“Nhật ơi! Từ ngày ông cho thêm tên tôi vào “mailing list” của ông, phải nói là tôi được đọc thêm nhiều điều rất lý thú về đặc thù của tiếng Anh ở Úc (Australian English) qua cách diễn tả độc đáo, đầy dí dỏm của ông. Những câu chuyện ông chọn cho mục “Tiếng Anh Tiếng Em” với những lời chú thích và giảng giải rõ ràng, đầy đủ cũng rất hữu ích cho người quan tâm tìm học. Tôi rất mong được đọc tuyển tập của ông về loạt bài này trong thời gian tới nếu ông vẫn còn giữ ý định xuất bản tuyển tập này như Trọng có nói qua cho tôi biết.” (Nguyễn Văn Sở, Costa Mesa, California).

 

Many thanks gửi đến anh Sở, người tôi đã gặp lần đầu 38 năm trước tại Sài Gòn, khi tôi mới “chân ướt chân ráo” từ Quân Trường Thủ Đức về trình diện làm giảng viên Trường Sinh Ngữ Quân Đội ở Đường Nguyễn Văn Tráng. Trung Úy Sở đã là người truyền đạt cho tôi (Trưởng Toán), và 4 người nữa những bài học giáo đầu (orientation sessions) về chuyện huấn luyện/đào tạo giảng viên Anh ngữ cho nhà Trường.  Sau đó Trường này dọn ra gần bệnh viện Cộng Hòa (trước năm 1975) để nhường chỗ làm địa điểm cho Đại học Tư thục Y khoa Minh Đức, còn ngày nay thì Trường được dùng làm cơ sở của Đại học Tư thục Hoa Sen.  

 

Với hai vị cùng gốc Huế, chị UH và anh NVS, có cảm tình với việc in sách xuất bản của tôi, tôi xin được trả lời chung bằng cách trích một đoạn trong một lá thư tiếng Anh tôi đã viết cho một số bạn bè như thế này: 

 

“My original plan to arrange publication of my three books, which I have already written, has not come to fruition. I need to make some further arrangements. My most urgent project was to have my 30 lessons of “Learning English Can Be Fun” put into book form. I did some re-thinking whilst I was finalising this, consequently I put it on the back burner for a while. The other two books in English and Vietnamese are a collection of my writings ranging from feature articles, short stories, anecdotes, and discussions on the art of translation and interpreting, as well as a diary of my journeys. Again I’ve put these aside to do some re-thinking. It’s difficult to set one’s mind to such a project when there’s so much going on.

During my recent trip to Vietnam I thought about several topics upon which I could write. I am presently working on an article: “The Present-Day Vietnamese: Drifting Along with the Fate of the Country.”  It’s looking back on the Vietnamese language over the past three decades.”

Bài tôi đang viết có thể dài đến hơn 20 chục trang có tựa đề là: “Tiếng Việt ngày nay: Nổi trôi theo mệnh nước”, nhìn lại những từ mới và đặc tính chung của chúng từ sau 1975 đến nay. Còn việc in sách, trong đó chính yếu là có loạt 30 bài “Anh Ngữ Học Mà Vui,” thì khi bắt đầu vào việc chỉnh sửa cho in khi ở Việt Nam mới đây tôi mới ngộ ra một điều là, ngoài một số vấn đề khác, với bài học Anh Ngữ, và với thời đại DVD này, ta không thể là không có tiếng nói giảng giải, kể chuyện “cà kê dê ngỗng” của mình, không thể không có phần phát âm, không thể không có tiếng nói của người bản ngữ tiếng Anh đọc lên những đoạn tiếng Anh có trong bài. Trong suy nghĩ đó, tôi đã tạm gác lại dự án in ấn xuất bản cho đến khi nào thuận tiện hơn.

 

Quí Vị Quí Bạn ơi! Câu chuyện “Tiếng Anh Tiếng Em” tuần này là do anh bạn tên Sở ở Mĩ gửi cho tôi đọc chơi, coi chơi, có cả hình ảnh nữa, nhưng trong khuôn khổ bài này xin được miễn đăng hình ảnh “mấy con bò” trong Hội Chợ Triển lãm Gia súc bên Hoa Kì. Trong mẩu chuyện vui “A Trip to the State Fair” (Chuyến đi thăm Hội Chợ Tiểu bang), ông chồng kể lại qua lời lẽ to nhỏ thì thầm giữa hai vợ chồng với nhau trong lúc họ viếng thăm trại triển lãm “bò giống”:

 

My wife and I went to the rodeo and one of the first exhibits we stopped at was the breeding bulls.  We went up to the first pen and there was a sign attached that said,  “This bull mated 50 times last year.”

My wife playfully nudged me in the ribs, smiled and said, “He mated 50 times last year.”

We walked to the second pen which had a sign attached that said,
''This bull mated 150 times last year.”

My wife gave me a healthy jab and said, “Wow, That's more than twice a week! You could learn a lot from him.”

We walked to the third pen and it had a sign attached that said, in capital letters, “THIS BULL MATED 365 TIMES LAST YEAR.”

My wife was so excited that her elbow nearly broke my ribs, and said, “That's once a day. You could really learn something from this one.”

I looked at her and said, “Go over and ask him if it was with the same old cow.”

 

Lời bàn:

Nghe chuyện “bò cái” khi “động đực” bắt “bò đực” làm tình mà thấy phát khiếp. Đúng là khoẻ như (trâu) bò. Tôi nghe nói “dê” còn khiếp hơn thế. Ai đời, nghe kể lại, một buổi sáng, một chú “dê đực” đứng trước cửa chuồng “động tình” với 30 nàng “dê cái” khi các nàng lần lượt bước ra khỏi chuồng. Chuyện “động tình” kiểu này em xin chịu!!!

Nghĩ đến “thân phận bèo bọt” của mình, tôi vẫn thường mượn lời của ai đó để nói:

Có hoa nào không tàn,

Có tình nào không phai?

Mình đành chỉ còn biết cúi đầu tuân theo “luật đào thải” của tạo hóa. Có điều Các Chú Bò kia may mắn hơn chúng ta ở chỗ chúng được người ta "bưng 'phở' [= extra-marital sex (nghĩa mới)] đến tận miệng, còn chúng ta muốn 'phở' thì phải tự lực đi tìm."

Tìm được hay không còn tùy khả năng của từng cá nhân. Nếu ai cũng:

"Vai 5 tấc rộng, thân 10 thước cao"

như anh bạn Sở thì cũng dễ thôi (tất nhiên là trong quá khứ). Còn những kẻ kém may mắn khác, như tôi chẳng hạn, chắc ăn ‘cơm nguội’ [= marital sex (nghĩa mới)] dài dài. Nhưng thử hỏi Quí Bạn:  "Ai có thể ăn 'cơm nguội' mãi cho được?" 

 

Ông bạn người Mĩ trong chuyện vui ngày đi coi “Hội Chợ Triển lãm Trâu Bò” quả đã yêu cầu cô vợ mình đến hỏi Chú Bò Đực, có thành tích “làm tình” (= mating) một năm 365 lần, một câu hỏi tôi cho là vô cùng “chí lí”.

 

Trịnh Nhật, PhD

Sydney, 10.4.2008

 

  
Chú thích từ vựng

 

1) rodeo = cuộc biểu diễn hoặc đua tài của những tay chăn bò (= cowboys) trong việc quăng thòng lọng (= steer roping) và cưỡi gia súc, ngựa chưa thuần hoá.

2) exhibits = những vật trưng bày cho công chúng xem.

3) breeding bulls = bò đực giống tốt dùng truyền/phối giống cho bò cái (= to service cows) để sản sinh ra bò con giống tốt.

4) pen = chuồng gia súc.

5) sign attached = cái dấu hiệu gắn (trên vật trưng bày).

6) to mate = cho bò cái động đực; (trâu bò) làm tình.

7) playfully nudged me in the ribs = đã vui/đùa nghịch dùng cùi trỏ/khuỷu tay hích/thúc tôi vào cạnh sườn (người Việt còn nói tương tự là “huých vào mạng mỡ”).

8) gave me a healthy jab = đã dùng cùi trỏ/khuỷu tay hích/thúc mạnh (vào cạnh sườn/mạng mỡ tôi).

9) more than twice a week =  hơn 2 lần một tuần.

10) capital letters = chữ viết hoa.

11) so excited that = quá vui mừng/quá hứng chí đến nỗi.

12) her elbow nearly broke my ribs = khuỷu tay của bà ta hích/thúc mạnh quá đến nỗi tôi cảm thấy như là nó làm gẫy mấy cái xương sườn của tôi.

13) you could really learn something = Bạn có thể thực sự học được đôi điều (từ chuyện này).

14) go over and ask him = tới phía đó rồi hỏi nó.

15) kế hoạch hồi đầu/ban đầu = original plan.

16) chuẩn bị/dàn xếp cho việc xuất bản = to arrange publication.

17) kế hoạch ban đầu của tôi chưa thành tựu; chưa có kết quả/thành quả = my original plan has not come to fruition.

18) dự án khẩn cấp nhất của tôi = my most urgent project.

19) Anh Ngữ Học Mà Vui = Learning English Can Be Fun.

20) làm thành sách/dưới hình thức sách = to put into book form.

21) suy nghĩ/suy tính/suy xét lại = to do some re-thinking.

22) sau cùng; hậu quả là = consequently.

22) gác/đặt cái gì lại sang bên (để rồi giải quyết sau) = to put something on the back burner (= lò phiá sau/đằng sau trên bếp lò).

23) (những) bài báo/bài viết đặc biệt = feature articles.

24) (những) mẩu chuyện giai thoại vui có thật (về ai/sự kiện nào) = anecdotes.

 

 

Trở về Trang Chính