|
LTS.
Bài học Anh ngữ nói chung chủ yếu là bàn về tiếng Anh thời sự,
đã đọc được trên báo chí, nghe được trên đài phát thanh truyền
hình, với các độc giả trong tinh thần “Tôi học, Anh học, Chị
học, Em học, Chúng ta cùng học!”. Các từ vựng, đoản ngữ, tục
ngữ, thành ngữ, châm ngôn... tiếng Anh, tiếng Việt sẽ được lồng
vào những mẩu chuyện vui, cà kê dê ngỗng, cốt là giúp cho người
học dễ nhớ, vui mà học được. Những lời bàn tán ở đây nhất định
không thể được coi là những lời “thánh phán”, mà các độc giả,
tất nhiên có những người biết chuyện, sẽ được mời đóng góp ý
kiến của mình hoặc đặt câu hỏi để chúng ta có dịp cùng nhau tìm
hiểu, đồng thời chia xẻ niềm vui chung là học hỏi lẫn nhau. Bài
học còn có thêm phần liệt kê những kết hợp ngữ (collocations)
trong tiếng Anh, tiếng Việt để người đọc tham khảo.
Đi guốc trong bụng
Sau khi
trả lời câu hỏi của một độc giả trong bài học lần trước: “Có từ
ngữ Hán-Việt nào để thay cho những từ ngữ nôm na “thôi
chồng”, “thôi vợ” hoặc “chết
vợ” hay không?”, chúng
tôi nhận được sự góp í của hai người bạn:
Một
người là Thiên Ân, mà tôi thường gọi đuà là ông Ơn Trời
(God’s blessing), nguyên là phiên dịch viên/phát thanh viên
(translator/broadcaster) Việt ngữ của Đài BBC Luân-đôn và
Đài VOA Hoa-thịnh-đốn trong khoảng thời gian tổng cộng là 20
năm. Khi còn ở Việt Nam trước 75, anh đã có thời kì làm Đài Vô
Tuyến Truyền Hình cùng với cô Ngọc Hân, nay là Trưởng Ban Việt
ngữ Đài SBS Radio Sydney.
Anh viết mà tôi đã tóm lược lại như sau:
1. Đã
nhận được bài viết ANHMV cuả bạn hiền. Cám ơn nhiều. Hay lắm.
2.
“Vợ chết”, từ Hán Việt gọi là "Quan" hay "Quan
phu", cũng ở trong mấy cuốn từ điển đời xưa đó (Việt Nam
Từ Điển, hoặc trong cuốn Đại Nam Quấc Âm Tự Vị cuả
Huình Tịnh Paulus Cuả ....). Còn “bị vợ bỏ” hay “thôi
vợ”; “chồng bỏ” hay “bỏ chồng”, theo thiển ý,
gọi là “Giải phóng quân” (dùng cho đàn ông) hoặc “Giải
phóng thê” (dùng cho đàn bà).
(Nguyễn Thiên Ân, Oklahoma City, Hoa Kì)
Còn
người kia, vì khiêm tốn, không thích nêu tên thật, mà tôi thường
gọi đùa là Dr. Excellence, nguyên là một giảng viên Đại học
Wollongong, ngành hầm mỏ. Trong nhiều năm qua anh hành nghề
luật sư (practise law) tại Sydney và đồng thời viết lách
liên tục về ngôn ngữ, đặc biệt là tiếng Hán-Việt
(Sino-Vietnamese), dưới bút hiệu là Nguyên Nguyên. Tôi xin tóm
tắt lời anh viết như sau:
1.
Tiếng Việt thật đúng: “vợ mất chồng” (= sương phụ);
“chồng mất vợ” (= goá vợ), nhưng lâu ngày “sương phụ”
chuyển ý sang thành “goá phụ”. [Việt Nam hoá
(Vietnamization)]. Cụm từ “sương phụ” dần dần biến mất,
ngoại trừ trong các tiểu thuyết xưa.
2.
“Đại tiện” thì nhiều từ điển tiếng Anh thông dụng hơn “chua”
nghĩa: “to defecate”, “to shit”.
Nói
chuyện ngôn ngữ và từ điển làm tôi nhớ đến một người sáng giá
trong phạm vi này là Giáo sư Bùi Phụng, tác giả cuốn từ điển
Việt-Anh đã được tái bản và bổ sung nhiều lần, và đến nay pho
sách này đã lên tới 500.000 mục từ, vừa dầy cộm, vừa nặng chình
chịch. Nhà giáo họ Bùi, thuộc con dòng cháu giống đấy chứ chẳng
phải chuyện chơi, đã có thời kì, trước khi về hưu, là Chủ
Nhiệm Khoa tiếng Việt (Dean of Vietnamese Faculty), trường
Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Tôi gặp
ông lần đầu tại Hà Nội vào khoảng đầu thập niên 90, do anh Đỗ
Văn, bạn học thời trung học cuả ông, và là đồng nghiệp cũ cuả
tôi trong Ban Việt Ngữ Đài BBC Luân đôn, giới thiệu. Trong
chuyến đi Việt Nam vừa rồi, tôi gặp ông hai lần, một lần tại tư
gia ở Phố Mai Hắc Đế, lần kia tại Nhà Thuỷ Tạ (Pavilion
on/near the water/Lakeside restaurant) bên Hồ Hoàn Kiếm
(Lake of the Returned Sword) khi tôi mời ông đi ăn bữa trưa
(having lunch). Sau khi đã “ăn uống no mà chưa say” (ông ăn gà
quay với khoai tây rán, uống 2 hộp bia Heineken), tôi liền đem
chuyện ngôn ngữ ra “cà khiạ” với ông.
Tôi bắt
đầu bằng nhận xét về hiện tượng “nói tắt” (cắt ngắn, rút gọn),
và “nói chữ” (dùng từ Hán-Việt) tại Việt Nam mà tôi đã ghi nhận
trong chuyến đi này. Một vài thí dụ cụ thể về “nói tắt” tôi xin
kể ra đây là:
Ký
túc < Ký túc xá (dormitory
(Mĩ)/residential college (Úc) [vd. Tao đang ở trong ‘kí
túc’ đây! (lời cuả một cô sinh viên nói chuyện với bạn
qua điện thoại di động)];
Nghiêm < Nghiêm
chỉnh (vd. chấp hành nghiêm <
chấp hành nghiêm chỉnh);
Chuyên < Chuyên ngành, chuyên môn, chuyên sâu
(vd. trường chuyên < trường chuyên môn);
Đại
học mở < Đại học mở rộng
(Open University);
Trường Y < Trường Y khoa;
Lái
xe < Người lái xe
(driver/chauffer);
Ai
là triệu phú? < Ai muốn là
triệu phú? (Who wants to be a millionaire?);
Doanh nghiệp nhỏ và vừa <
Doanh nghiệp nhỏ và vừa phải.
Thật ra
đây cùng chỉ là một khuynh hướng tự nhiên trong ngôn ngữ, khi
người sử dụng ngôn ngữ muốn giản dị hoá, bớt dài dòng văn tự.
Không nghe quen thì có cảm tưởng như lời văn, lời nói bị cắt
cụt, thiếu nhịp điệu. Riêng trường hợp “người lái xe”
(tài xế), tôi thấy hơi lạ, vì khi “nói tắt” như thế vô hình
trung ta đã thay đổi từ loại của cụm từ “người lái xe”
(danh từ) thành “lái xe” (động từ). Nhưng biết làm sao?
Nếu ngôn ngữ là để họ hiểu nhau mà họ hiểu được nhau như thế thì
“Bố có bảo”, hoặc có về “mách Bố”, cũng chẳng làm gì được họ!
Về hiện tượng “nói chữ”, tôi xin đan cử một
vài thí dụ cụ thể như:
Thao
tác phát hoả < Thực hiện
những động tác kĩ thuật để bắt đầu nổ súng;
Tự
bảo quản xe < Tự trông
chừng/giữ lấy xe của mình;
Đáp
án (answer) < Câu trả lời, câu
đáp (cho đề thi/bài thi/câu đố);
Hiển
thị < Làm cho hiện rõ hình (như
trên màn hình máy vi tính);
Sơ
hữu < Bạn quen sơ;
Tranh thủ < Tranh lấy, giành lấy
(thời giờ);
Bố
trí (arrange) < Sắp xếp;
Trọng thị < Coi trọng.
Đi xa
hơn hiện tượng “nói chữ” là hiện tượng “ghép chữ”
(cắt ngắn cụm từ rồi ghép phần còn lại). “Ghép chữ” không
phải là chuyện lạ trong ngôn ngữ, nhưng trong tiếng Việt,
“ghép” thế nào và khi nào “ghép”, mới là chuyện đáng nói.
Một vài thí dụ về ghép chữ “danh từ/tính từ
chung với nhau”, tôi ghi nhận được như là:
Hùng
hiểm < Hùng vĩ hiểm trở;
Tai
tệ nạn < Tai nạn tệ nạn xã hội;
Tương thích < Tương đương và
thích hợp;
Động
thái < Hành động và thái độ;
Thể
trạng < Tình trạng thân thể.
Còn về
ghép chữ “danh từ riêng với nhau”, thì hồi ban đầu khi xem
chương trình truyền hình ở Việt Nam tôi cảm thấy hơi khó chịu
mỗi khi thấy cụm từ “Ban Khoa Giáo, Đài Truyền Hình Việt Nam”.
Tôi tự hỏi “Ban Khoa Giáo” là cái quái gì? Sau rồi đoán
ra mới biết nó là “Ban Khoa học và Giáo dục” [Khoa học
ghép (blended) với Giáo dục]. Thế nhưng sao không thấy
“Bộ Giáo dục và Đào tạo” được ghép lại thành “Bộ Giáo
Đào*” ?
Khi tôi
nói đến đây, Bùi tiên sinh, người bạn vui tính, bèn nói xen vào,
và rồi kể cho tôi nghe là trong một Thiệp Mời tham dự đám cưới,
người ta thấy có câu viết được in ấn chỉnh tề với nội dung đại
loại như sau:
“Được sự chấp thuận cuả hai Cơ Thể, chúng tôi sẽ làm lễ thành
hôn cho Trưởng Nam chúng tôi là Nguyễn văn … đẹp duyên cùng cô
Trịnh thị …, Thứ nữ của Ông Bà …”
Hai
“Cơ Thể”, nói theo ngôn từ ở Việt Nam hiện giờ mà đem áp
dụng đối với tôi trong trường hợp này là “Hiểu chết liền!”
(= không hiểu gì hết). Quí Vị, Quí Bạn có biết không? “Hai
cơ thể” [= hai bộ phận của cơ thể] làm mình cứ tưởng là ông
nói đùa cho có chuyện, nhưng không phải vậy, ông nói thật:
“Hai Cơ Thể” là sự kiện ghép chữ, ghép cụm từ “Cơ quan”
và “Đoàn thể” lại với nhau đấy ạ!
Quả
thật là “Đến khi em hiểu thì em đã!” Anh Bùi Phụng ơi!
Nhưng
thôi! Chuyện đâu còn đó! Quí Vị, Quí Bạn ơi! Bài học cuả chúng
ta tuần này có chủ đề là “Đi guốc trong bụng”, một bộ phận khác
cuả cơ thể, cơ!
Tôi
nhận được “email” cuả một anh bạn ở Sydney, không phải anh bạn
luật sư, giới thiệu vào xem một bản tin “online” (trên
mạng) của Đài BBC tiếng Việt có tít (headline) là: “Tội
phạm Việt
(Vietnamese criminals) ở Anh qua lời
người phiên dịch
(through the eyes of an interpreter)”. Khi
chuyển cho tôi, anh bạn “nhắn với”, muốn lưu í tôi về tội phạm
người Việt ở Úc cũng rưa rứa như ở Anh, nếu không muốn nói là tệ
hơn thế nữa. Nghiã là có í chê!
Tôi, vì
méo mó nghề nghiệp (nghề tay trái “thông/phiên dịch” ấy mà!),
nên lại xem cái “message” (thông điệp/thông tin) ấy với
một í nghĩ khác, nhưng khác thế nào thì xin tạm gác sang một bên
để Quí Bạn đọc bản tin (do tôi đã “gài” thêm tiếng Anh) ngày
01.03.
2007 cuả kí giả Bá Thùy viết từ Luân đôn cái đã:
“Tội
phạm Việt
(Vietnamese criminals) ở Anh qua lời
người phiên dịch
(through the eyes of an interpreter)”
Sau nhiều
lần đi dịch cho tội phạm Việt ở Anh, chị Hương*
nói rằng có thể "đi guốc trong bụng họ
(know them inside out), biết người nào
nói thật, người nào diễn (who
is making a pretense)". Tôi không nhớ
chính xác đã tham gia dịch cho bao nhiêu trường hợp. Khoảng
vài chục (a few score)
vụ trong vòng gần hai năm qua. Nhìn chung, thời
gian xét xử không cố định mà hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất
của từng vụ, ví dụ như án lẻ
(petty crimes) hay có tổ chức
(organised crimes),
bị can có nhận tội hay không
(to plead guilty or not guilty), hoặc đã
kháng cáo bao nhiêu lần.
Nhưng dính
đến án có thể bị phạt tù thì ít nhất cũng bị tạm giam độ sáu
tháng trước khi đưa ra xét xử
(brought to court), trừ những trường hợp
được tại ngoại (bail is
granted). Một vụ thường ra tòa nhiều lần.
Tội của
người Việt chủ yếu là trồng tài mà (cần sa) [cultivation
of marijuana], ăn cắp (theft), lái xe không bằng hoặc
say rượu (driving without a licence or drink-driving), vài
trường hợp liên quan đến ẩu đả (brawling), giết người,
nhưng cuối cùng đều “dính” đến (it all boils down to)
trồng tài mà (the cultivation of marijuana).
Trong thời
gian đi dịch, tôi chưa thấy trường hợp nào thương tâm. Có người
thực sự hốt hoảng, (in a state of real panic) lo lắng,
cũng có người tỏ ra bình thản (appear cool, calm, and
collected), như đã chuẩn bị trước tinh thần, nhất là án tài mà.
Tôi thấy đa phần đóng kịch giỏi
(put on a good act).
Thường vì
không biết tiếng (lack of
English/language) nên mọi người rất thụ
động, hỏi gì nói nấy
(speak when spoken to).
Và luôn luôn có một câu là “chị ơi (em ơi), nói giúp với luật
sư giúp anh (em) với”.
Đa số
người bị bắt là “người rơm” (lit.
straw-men*) [= illegal Vietnamese migrants in England (người
Việt sống bất hợp pháp ở Anh)],
cũng có người ở đây hợp pháp, và người Việt ở nước khác trong
châu Âu đến London phạm tội nhưng số lượng ít.
Chối
tội
(Denial of charges)
Trong
phiên xử (trial proceedings),
tôi thấy họ thường chối tội và nói loanh quanh
(beat about the bush). Có trường hợp khai
rằng chồng bị đi tù, và vì sợ bị bắt theo nên bỏ ra mấy chục
ngàn để chạy sang Anh, bởi thế cần phải đi làm để trả nợ
(to pay off the debt).
Có người
khai là bị chồng đánh đập (beaten up by her husband), nên
tìm cách thoát khỏi cảnh bị đọa đầy và sang Anh. Nhiều cô thì
nói rằng bị ép vào nhà chứa (forced into prostitution) và
phải bỏ của chạy lấy người.
Lại có
người khai mới sang Anh nên không biết gì, khi được thuê làm thì
cứ nghĩ đi trồng thuốc bắc (growing Chinese herbal
remedies/medicines), không ngờ lại là tài mà. Nhiều người bị
bắt quả tang (caught red-handed) nhưng nói là đó là nhà của
bạn, và vừa đến chơi thì bị bắt. Nhiều người nói rằng không có
việc làm, không nơi ăn chốn ở nên nhận làm chăm sóc tài mà để có
chỗ ở, thu nhập (an income) để sống.
Tôi cũng
thường tranh thủ nói chuyện trong những trường hợp không bị cấm.
Nhiều người nói rằng trước khi bị bắt, trong đầu họ không có
khái niệm bị “tóm”. Nhưng đôi khi họ vẫn vấp phải vận đen
(experienced bad luck). Nhiều trường hợp
sắp đến thời gian thu hoạch (as harvest time drew near),
bị tội phạm da đen vào giơ súng (wielding pistols), dọa
nạt và thậm chí bắt phải gặt tài mà giúp chúng.
Nhiều luật
sư vừa nhìn thấy tôi đã hỏi “mày đến dịch cho vụ ông X, Y, Z
trồng tài mà phải không?”. Tôi hỏi lại sao lại biết thì họ
cười, nói là đó là tình trạng nổi cộm trong các vụ án liên quan
tới người Việt Nam ở Anh.
Người Việt
ở London thường biết nhau nhưng ai biết việc của người đó
(but they mind their own business/but they keep to themselves)
và không có nhiều hoạt động cộng đồng.
Thông
tin này cho tôi thấy một khiá cạnh nổi cộm về nguyên tắc đạo đức
nghề nghiệp của “người phiên dịch” (interpreter) bên Anh
Quốc. Họ có thể không phải nằm trong đội ngũ đã được huấn luyện
chu đáo hay được tuyển dụng chặt chẽ như là những thông dịch
viên chuyên nghiệp (professional interpreters) ở Úc, nghiã
là họ có thể không bị bắt buộc phải tuân thủ theo Code of
Ethics (= Nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp), trong đó chính
yếu có Confidentiality (Kín đáo/Cẩn mật), Impartiality
(Khách quan/Vô tư), Accuracy (Chính xác/Đúng thật) và
Conflict of Interest (Xung đột/Va chạm về Lợi ích/Quyền
lợi).
Câu nói
của cái-gọi-là chị Hương (the so-called Huong),
thông dịch viên bên Anh, cho tôi thấy chị đã vi phạm nguyên tắc
“Confidentiality” vì sau những lần đi thông dịch chị đã
chị ra ngoài đường nói tung tưởi với báo chí, cho mọi
người biết thân chủ (clients) cuả mình nói thật, nói dối
ra sao. Khi bảo rằng mình “có thể đi guốc trong bụng họ”, chị có
thể dễ vi phạm nguyên tắc “Impartiality” vì có “thiên
kiến, thiếu vô tư” đối với cái-gọi-là tội phạm (the
so-called criminal), nên có thể, vô thức hoặc vô hình trung,
phạm phải nguyên tắc “Accuracy” khi dịch sai lời người ta
nói, nhất là khi phải chọn chữ, chọn từ cho chính xác, ngay liền
và tức thì, trong bầu không khí trang nghiêm của “pháp đình”
(court of law).
Chị
“Hương” này chắc cũng không biết là luật pháp bên quê hương
thứ hai (adopted country) của chị có nêu rõ đâu đó là: “A
person is innocent until proven guilty” (Ai cũng vô tội cho
tới khi bị chứng minh là có tội). Chị “Hương” của chúng ta có
thể chỉ biết một (1) mà không biết mười (10)!
Nếu vậy
thì, “Ai đi guốc trong bụng ai” bây giờ đây? Hở, Hở, Hở???
Trời!!!
Trịnh Nhật
Sydney,
22 tháng 3, 2007
____________________________________
*Tên của
người phiên dịch đã được thay đổi
Kết hợp ngữ
(Collocations)
broadcast
noun
(chương trình) phát
thanh, truyền thanh, phát hình, truyền hình
§
ADJ radio
ra-đi-ô, satellite vệ tinh, television truyền
hình | live sống, trực tiếp | outside (chương
trình truyền hình hoặc phát thanh) không thực hiện
ở trường quay (stuđiô) chính, mà ở bên ngoài trong
một toà nhà hay ngoài đường phố | election bầu cử,
news tin tức, party political chính trị đảng phái,
religious tôn giáo
§
VERB + BROADCAST
give, make dành The president gave a radio
broadcast to mark the end of the war Vị tổng thống lên
tiếng trên đài phát thanh để đánh dấu sự kết thúc cuộc chiến. |
hear nghe, see trông thấy
§
PREP in a/the ~
trong More details will be given in our news broadcast
Sẽ có thêm chi tiết được cho biết trong phần phát thanh tin tức
của chúng tôi. | ~ by bởi a broadcast by the
prime minister một bài phát thanh của Thủ tướng ~ on
trên a radio broadcast on the problems of
unemployment một buổi phát thanh về các tệ nạn thất nghiệp.
broadcast
verb
phát thanh, truyền
thanh, phát hình, truyền hình
§
ADV live
sống, trực tiếp
§
PREP from từ
We will broadcast live from the ship Chúng tôi phát thanh
trực tiếp từ con tầu đó. to tới/đến/cho a
Christmas message broadcast to the nation Một thông điệp
Giáng sinh phát thanh đến toàn dân.
broadcaster
noun
phát thanh viên
§
ADJ commercial
thương mại Existing commercial broadcasters claim
the new stations are illegal Các phát thanh viên thương mại
hiện thời cho rằng các đài/kênh mới là bất hợp pháp. |
independent độc lập | public service công chức
The country needs a national public service broadcaster
like the BBC Đất nước cần một cơ quan phát thanh công cho
toàn quốc như tập đoàn BBC. | local địa phương,
national quốc gia | satellite vệ tinh
interpretation
noun
(lời) giải thích, giảng giải, dẫn giải
§
ADJ
correct, right, true, valid
đúng, chính xác,
thật, có giá trị | erroneous, false,
wrong sai,
lầm, không đúng | plausible
đáng tin cậy,
reasonable
hợp lí
| simplistic
giản dị
| literal, narrow, strict
tự nghĩa, hạn
hẹp, hẹp nghĩa | free, generous,
liberal, loose, wide
tự do, rộng rãi,
phóng khoáng,
thông thoáng,
rộng nghĩa
| alternative
cách/lối khác,
competing, conflicting
mâu thuẫn, trái
ngược, nước đôi different
khác,
diverse
khác biệt, multiple
nhiều cách,
đa dạng
| artistic
nghệ thuật, đẹp,
mĩ thuật
§
VERB + INTERPRETATION
give sth, make
cho ra,
đưa ra
In practice,
this law is often given a wide interpretation by
the police
Trên thực tế,
luật này thường được cảnh sát giải thích một cách rộng rãi. o
Scientists made an interpretation based on the data available
Các khoa học gia đưa ra lời giải thích dựa trên những dữ
kiện có sẵn. | be open to
mở ra cho; có thể được/bị. The wording of this section of the
contract is open to interpretation Lời lẽ trong phần này của
hợp đồng có thể được giải thích theo nhiều cách.
§
PHRASE put an
interpretation on sth đưa
ta lời giải thích về việc gì
It is possible
to put an entirely different interpretation on
her behaviour
Có
thể đưa ra một lời giải thích khác hẳn về hành vi cuả cô ta.
interpreter
noun
thông dịch viên, thông ngôn (viên)
§
VERB + INTERPRETER act as
làm | speak through
nói qua,
nói (có người dịch) Speaking through an
interpreter, a Japanese fisherman gave his account of the tidal
wave Một dân đánh cá/chài lưới người Nhật tường thuật về vụ
sóng thần qua một người thông dịch/phiên dịch.
§
PREP ~ for
cho
Susan acted as interpreter for us
Susan đã thông dịch/phiên dịch cho chúng tôi.
ethics
noun
đạo đức
§
adj
personal
cá nhân She resigned over an issue of personal
ethics
Cô ta từ nhiệm/từ chức về một vấn đề đạo đức cá nhân. |
Christian Thiên Chúa giáo | business doanh nghiệp,
kinh doanh medical y (đức), professional
nhà nghề, chuyên nghiệp, nghề
nghiệp The study
was approved by the medical ethics committee
Cuộc nghiên cứu đã được uỷ
ban y đức chấp thuận.
§
phrase
a code of ethics
Qui tắc đạo đức (nghề nghiệp) There should
be a code of business ethics
which indicates how clients are to be
served
Nên có một
nguyên tắc đạo đức doanh nghiệp
nêu rõ việc phục
vụ khách hàng,
a matter/question of ethics
một vấn đề đạo đức
(nghề nghiệp). It's the committee's
job to decide on matters of
ethics Đó là
công việc của uỷ ban quyết định các vấn đề liên quan đến đạo đức
nghề nghiệp.
Trịnh Nhật
Sydney, 22 tháng 3,
2007
Trở về Trang Chính |