Anh Ngữ Học Mà Vui

Làm sử hay làm sông?



 

LTS. Bài học Anh ngữ nói chung chủ yếu là bàn về tiếng Anh thời sự, đã đọc được trên báo chí, nghe được trên đài phát thanh truyền hình, với các độc giả trong tinh thần “Tôi học, Anh học, Chị học, Em học, Chúng ta cùng học!”.  Các từ vựng, đoản ngữ, tục ngữ, thành ngữ, châm ngôn... tiếng Anh, tiếng Việt sẽ được lồng vào những mẩu chuyện vui, cà kê dê ngỗng, cốt là giúp cho người học dễ nhớ, vui mà học được. Những lời bàn tán ở đây nhất định không thể được coi là những lời “thánh phán”, mà các độc giả, tất nhiên có những người biết chuyện, sẽ được mời đóng góp ý kiến của mình hoặc đặt câu hỏi để chúng ta có dịp cùng nhau tìm hiểu, đồng thời chia xẻ niềm vui chung là học hỏi lẫn nhau. Bài học còn có thêm phần liệt kê những kết hợp ngữ (collocations) trong tiếng Anh, tiếng Việt để người đọc tham khảo.

 

Làm sử hay làm sông?

 

Một người bạn cố tri ở Florida, Hoa Kì, chuyển gửi lên mạng cho tôi một bản đính kèm (attachment) trong đó có nhiều hình ảnh đẹp về du lịch Mĩ quốc (US Travel) lồng trong một bản nhạc do Frank Sinatra hát. Anh hỏi tôi tên của bài hát là gì, vì anh biết tôi là “fan” (người hâm mộ/ái mộ) cuả chàng ca sĩ mà tên tuổi đã hằn dấu ấn trong tim của ba thế hệ ông bà, cha mẹ và con trẻ trai gái trong thế kỉ 20 trước đây.

 

Tôi trả lời: “Bài hát cuả Frank Sinatra là bài "All the Way". Một bản nhạc buồn. Nghe  bản nhạc buồn, cái 'hay' cuả nó là lòng mình trùng xuống, cảm giác mênh mang, thú vị chứ chẳng phải là không! Vậy thì, không phải lúc nào người ta cũng muốn tránh bất cứ cái gì đem lại cho mình tâm trạng buồn. Cái buồn có thể giúp mình hiểu rõ chính mình hơn. Thanks for ‘the images, and the song’  bất hủ.”

 

Sau đó, anh còn hỏi tôi: “All the way’ dịch là ‘hết lòng, hết  mình’  có ‘ổn’ không?” Tôi trả lời, đồng í với anh, nhưng cũng nói thêm: “All the way” nghĩa là: “with all one's heart and soul forever” (với cả tâm lẫn hồn, tha thiết, da diết, mãi không thôi). Tôi còn nghe kĩ và ghi lại vài lời ca (lyrics/words) của bài hát như sau:

When somebody (ai/người nào) loves you,
It's no good unless (trừ phi) she loves you, all the way (hết lòng hết dạ).
Happy to be near (được gần) you,
When you need someone to cheer you (làm cho mình/bạn vui), all the way.
……

But if you let me love you (em cho anh được yêu em),
It's for sure (chắc chắn là) I'm gonna (anh sẽ) love you,
All the way, All the way
(tha thiết, da diết, mãi mãi không thôi).

Nói về tâm trạng buồn, về cảm xúc mênh mang thì mới đây tôi đã tìm gặp được trong truyện cuả Nguyễn Ngọc Tư. Tôi mua tập truyện "Cánh đồng bất tận", do Nhà Xuất Bản Trẻ phát hành, khi đi quanh khu bán sách báo, nổi tiếng là rẻ, được đông đảo du khách người Việt chiếu cố ở Phố Nguyễn Xí gần Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội. Giá bán ghi sau bìa sách là 27.000 đ. (khoảng 2 đô-la Úc), nhưng giá thật còn rẻ hơn thế. Từ lâu tôi đã có dịp đọc lướt qua về những mẩu chuyện viết quanh nhà văn nữ này, nhưng chưa lần nào tôi thật sự đọc văn, đọc truyện của cô.                                                      

Truyện  "Cánh đồng bất tận"  là câu chuyện chính, dài nhất, li kì nhất, sau cùng nhất (trang 154-213), trong tập truyện gồm "những truyện ngắn hay và mới nhất" có tổng số 14 truyện, với đề tựa lần lượt như sau:

(1) Cải ơi! (Hey Cai!): Tiếng kêu vô vọng của người cha bỏ nhà lang thang theo gánh hát dạo đi tìm đứa con riêng của vợ mình;

(2) Thương quá rau răm (Enchanted love): Tình yêu mới chớm trong lòng cô gái nhỏ thì cũng đúng là lúc người cô yêu như đã vô tình “chợt đến rồi đi”’;

(3) Hiu hiu gió bấc (A northerly breeze):  “Ngậm bồ hòn làm ngọt” để cho người mình yêu đi lấy chồng, nhưng người đi vẫn nhớ và người ở lại vẫn thương;

(4) Huệ lấy chồng (Hue gets married): Nghèo không phải là cái tội, mà hoá ra lại là cái tội, cái nguyên nhân gây đổ vỡ cho tình, để nàng phải đi lấy chồng, mà tình vẫn còn vương;

 (5) Cái nhìn khắc khoải (An anxious look): Cưu mang một phụ nữ bị tình phụ bơ vơ trên bờ sông vắng, người đàn ông goá vợ chỉ có thể thương nàng như thương cô em gái;

 (6) Nhà cổ (The old house): Trong căn nhà cổ, hai anh em cùng yêu một cô gái mồ côi chung nhà, người anh lấy cô làm vợ, còn người em bỏ nhà đi xa, để lại mối tình thầm kín cho cô gái nhỏ hàng xóm, cách ngăn chỉ bởi một hàng rậu thưa;

 (7) Mối tình năm cũ (Yesteryear love): Chuyện phim tài liệu về đời cuả một liệt sĩ, chỉ thực hiện được vào phút chót, vì người yêu cũ của vị anh hùng kia trước đó không được chồng mình cho hợp tác;

 (8) Cuối mùa nhan sắc (Faded beauty): Cô đào đẹp vang bóng một thời vẫn in dấu hình bóng chàng kép đã gây sóng gió cho cô thuở nào, nhưng sau mấy chục năm khi gặp lại nhau, cả hai đều thất vọng, mỗi người mỗi cách;

(9) Biển người mênh mông (An immense sea of people): Hai tâm hồn cô độc, một già một trẻ, gặp nhau, an ủi lẫn nhau, để rồi sau cùng lại mỗi người mỗi ngả, cô đơn giữa giòng người;

(10) Nhớ sông (Missing the river):  Ấn tượng về người mẹ bị chết đuối trên vàm sông đã hằn sâu trong lòng người con gái bé bỏng ngày ấy nỗi nhớ dòng sông, con thuyền mà nàng suốt đời mang theo;

(11) Dòng nhớ (Missing love): Tâm tưởng người chồng luôn hướng về bến sông vì không quên được mối tình đầu dang dở đã tạo ra một trạng thái tâm lí phức tạp cho vợ mình ngay cả sau khi ông mất;  

(12) Duyên phận so le (Unmatched destiny): Tình phụ, tình xù và hậu quả xảy đến với người con gái ấy, nếu đem hết ra mà kể, thì chắc nỗi buồn ấy chắc sẽ đoạt chức vô địch chứ chẳng phải chuyện chơi.

(13) Một trái tim khô (A withered heart): Sau khi bị đâm chết hụt, một phụ nữ bị mắc bệnh thần kinh, dửng dưng trước mọi chuyện, nhưng sau khi khỏi bệnh, chuyện không ngờ là người yêu cô rất mực và sẽ lấy cô làm vợ lại chính là kẻ đã gây thương tích cho cô ngày nào;

(14) Cánh đồng bất tận (The endless pasture):

Trước khi nói về câu chuyện “chủ đề” này, tôi xin được nêu một vài nhân xét về tác giả cái đã. Nguyễn Ngọc Tư là một trường hợp tài năng không đợi tuổi. Cô bắt đầu viết truyện ngắn khi mới 16 tuổi. Năm nay cô 30 tuổi, người Miền Nam, ở Cà Mau. Truyện cô viết thường có văn phong nhẹ nhàng, từ ngữ sử dụng rất “Nam Bộ”, lời lẽ bình dị, còn bố cục thì khá lạ, với những chi tiết mới mẻ đan xen, chồng chéo, đa tầng, đột ngột, trong lúc câu chuyện diễn tiến, trải rộng. Truyện cuả cô thường bắt người đọc phải suy ngẫm, suy diễn chứ tác giả không "làm cỗ sẵn" mời độc giả "xơi". Nếu chưa quen, đọc không kĩ, không tập trung, không chú í thì người đọc có thể thấy hơi khó chịu, hoặc bị lạc đâu đó mà có khi phải đọc lại. Các nhân vật trong truyện có đối thoại linh động, dí dỏm, biểu lộ trong suy nghĩ, trong hành động cho thấy tâm lí cuả họ giản dị đấy mà cũng vô cùng sâu sắc đấy.  Có chỗ cô còn nhân cách hóa “con vật cưng chiều” (pet) để tạo nên đối thoại giữa “vật” với “người”. Đa số câu truyện kể được dàn dựng trong những cảnh nghèo với sông nước, cánh đồng, con đò, ghe xuồng, chòi lá, đàn vịt,  v...v... và xoay quanh những người nghèo với cuộc tình ngang trái, dang dở, tan tác, chia li, ngậm ngùi…

Riêng truyện Cánh đồng bất tận (The endless pasture), theo tôi, có khả năng trở thành một cuốn phim hay nếu ai đó có tiền, có đạo diễn giỏi, có diễn viên tài. Mỗi nhân vật trong truyện đều có cái độc đáo, cái sắc thái riêng của mình. Cô gái điếm thì sành sỏi, biết mình biết người, sướng đấy, khổ đấy (bị đánh cho nhừ đòn, xong còn bị người ta lấy keo dán sắt bít vào chỗ kín, chỗ ‘kiếm cơm’ cuả cô). Người cha trong gia đình vốn sống nay đây mai đó, nổi trôi sông nước, thì lạnh lùng, tàn nhẫn, phũ phàng như để trả thù đàn bà. Người vợ của ông “nghèo mà ham diện, đỏm dáng”, nàng đã bán thân đổi lấy vải đẹp may áo, và sau cùng tự thấy mình lạc lõng trong chính gia đình mình mà bỏ đi. Hai đứa con nhỏ, một gái một trai, sống âm thầm với cha chúng trên chiếc ghe tạm gọi là nhà, không còn cách nào hơn là tự đùm bọc, chia ngọt xẻ bùi với nhau.

Truyện Cánh đồng bất tận có những “pha” giật gân như cảnh  cô gái đĩ bị đánh đòn hội chợ ngất xỉu rồi bị quăng lên khoang thuyền, cảnh “hoan lạc”, kiểu “tiền trao cháo múc”, vụng trộm giữa bà mẹ và người đàn ông lưng đầy nút ruồi mà hai đứa con của nàng vô tình trông thấy. Còn có cảnh cậu con trai mới lớn bị xác thịt dầy vò, đòi hỏi sinh lí mà sinh ra tức khí, giận dỗi đánh đập không nương tay khi thấy hai con chó đang làm tình giữa đường giữa chợ, có cả cảnh ông bố chứng kiến, và cố giải vây cho cô con gái bị hiếp dâm tập thể giữa giòng sông cạn. Những “scènes” như thế, nếu thực hiện được, sẽ bảo đảm nhiều phần trăm là “ăn khách”.

Nhưng Quí Vị, Quí Bạn ơi! Truyện đâu còn đó!  Nói nhiều, Quí Vị lại biểu tôi “bị ám ảnh” (obsessed) bởi chuyện “Năm Đinh Hợi”. Bài học Anh ngữ của chúng ta tuần này sẽ được dựng nền trên một bài “tạp ghi” (jottings) của nhà văn nữ đang được ưa chuộng.   

Nguyễn Ngọc Tư tạp ghi về một nữ pháo binh anh hùng (heroic artillery woman), vang bóng một thời, nay được Uỷ ban xã (village committee) cử chị chạy xuồng máy (motor-boat) đưa một anh kí giả và phóng viên chụp ảnh ghi lại chiến tích xa xưa. Khi nghe đến viết phóng sự về nữ anh hùng, chị cười xòa, “Anh hùng gì, mấy ông này cứ đem chuyện cũ nhắc hoài, mắc chán”:

Suốt buổi sáng, người phụ nữ nhỏ nhắn này (this petite woman) làm anh bất ngờ, thán phục, nể sợ khi biết chị đã từng bắn cháy bốn tàu giặc (four enemy ships) trên sông Lớn. Mắt anh níu lấy chi tiết đôi bàn tay gân guốc (her gnarled, veiny hands), một bên vai hơi lệch (one slightly drooped shoulder) như vẫn còn đang chịu sức nặng của những khẩu B40, môi mím lại (tightly-pursed lips), cương nghị, tai không còn thính nhạy (her ears, hard of hearing), thỉnh thoảng chị lại ngơ ngác, “Hả? Chị điếc lắm (I’m very deaf), cậu phải nói lớn chị mới nghe được”.

Chị vẫn sống một mình, vì suốt thời chiến tranh, chắc chị chẳng rảnh rang để hẹn hò (did not have any free time for romance). Chị chạy xuồng máy rất thành thạo, ôm cua ngọt xớt qua những khúc quanh (skilfully negotiating the bends). Khi đến gần vàm (near the mouth of the river) anh mừng hớn hở khi thấy xác tàu Mỹ (the broken hulks of US ships). Anh ra hiệu chị dừng lại, vì anh muốn chụp bức ảnh người nữ pháo binh bên khối sắt thép lạnh lùng kia, chị lại cười, hỏi, “Cậu tính chụp hình bông súng hả? Ừ, khúc sông này mà lên báo chắc đẹp dữ lắm”.

Anh đứng dậy, trùng trình, chênh vênh nơi mũi xuồng (the prow of the boat), sững sờ nhận ra vẻ đẹp của dòng sông (the beauty of the river). Bình dị. An nhiên. Tự tại. Hai bên bờ, dừa nước chảy tràn. Cái dãy màu xanh miết, day diết lên chân trời thi thoảng bị ngắt quãng bởi một cái bến sông…

Cảnh sông nước cây cối đẹp đến độ, theo anh, ống kính máy ảnh (through the camera lens) bất lực, không thể chuyển tải, không thu gọn (unable to capture) được cái đẹp mênh mang, sâu thẳm này trong một vài bức hình. Thế rồi, bỗng dưng anh mơ màng như nghe thấy từ đâu vọng lại câu thơ:

“Sáng nay Bạch Đằng tạm quên mình làm sử để làm sông” (This morning Bach Dang momentarily forgot itself being part of history to serve only as a river).

Con sông Lớn bây giờ cũng không thèm làm sử, hay nó đã thôi làm sử, từ khi hết chiến tranh, nhưng mãi đến giờ con người cũng không cho nó làm sông.

Câu chuyện tiếp nối bằng sự chợt tỉnh của anh, khi phát hiện:

Chị cũng đẹp, cũng dịu dàng, cũng rất phụ nữ (very feminine). Đôi mày cong (curved eyebrows), ánh nhìn trong, đuôi mắt hẳn rất sắc, mái tóc dài bới gọn sau ót chắc đã từng đen buốt đến tận lưng. Chị nhỏ nhắn, mỏng manh đến mức anh nghĩ chỉ cần dang tay ra, sẽ gói gọn chị vào lòng (he would completely envelop her).

Và chuyện kể tiếp:

…Và bỗng dưng anh thấy day dứt cồn cào. Càng nhìn chị anh càng nhói, đuôi mắt kia đã hằn vết chân chim (crow’s-feet), chưa từng được hôn, mái tóc kia giờ chớm bạc, chưa một lần nào, chưa người đàn ông nào vuốt nó, âu yếm chải nó trong những chiều phai. Và những lúc mỏi mệt (moments of fatigue), cũng không có bờ vai rộng (a broad shoulder) nào cho chị tựa vào (to lean on). Chị thui thủi đi qua tuổi xuân xanh của mình chỉ vì còn lắm người như anh, chỉ nhìn chị như một anh hùng (heroine) mà quên chị là phụ nữ.

Cậu truyện kết thúc bằng lời tác giả nhắn nhủ ai đó đã:

Quên có những con sông chỉ muốn làm sông, bình thường, suốt đời trôi lặng lẽ… (simple and flowing quietly throughout their life).

Tôi đang nghĩ kết luận cho bài “tạp ghi” này thì nhận được tiếng hát “Non, je ne regrette rien” (Không, tôi không tiếc gì hết) của Edith Piaf do nhà thơ/nhà văn trữ tình Đoan Trang Uyên Hạnh từ Đan Mạch gửi cho tôi (và một vài người bạn khác của khoahoc.net nữa chứ!). Tôi đã trân trọng gửi lời cám ơn đến chị bằng tiếng Đan Mạch, và cũng còn cảm ơn chị về bài Larmes de femmes (Nước mắt Phụ nữ) lồng trên màn ảnh với những bông hoa tươi thắm. Qua những lời lẽ viết bằng tiếng Pháp, và lời dịch sang tiếng Việt, trong “Slide Show” này, tôi đã coi như đồng í với chị là đàn bà phụ nữ rất là đa hiệu. Nhưng sao không thấy Thượng Đế nói: “Đàn bà sinh ra là để cho đàn ông “ăn mặn” hoặc ngược lại.”  Hay là tự nhiên là phải như thế rồi! Ấy vậy mà, tại sao “mấy thằng ranh con” (tiếng Bắc rặt) thời tôi còn “bé bỏng thơ ngây” ấy cứ ong ỏng hát chọc ghẹo phụ nữ có thể là đã lỡ độ xuân thì:

 

Em ơi đã mấy xuân rồi

Mà chưa biết “đời” ra sao?

Đời C’est la vie!

Tình C’est l’amour

Tiền C’est l’argent

Chết C’est la mort.

Mấy thằng quỷ này. Thiệt tình!

Trịnh Nhật
Sydney, Mồng 7 Tháng 3, 2007


 

Kết hợp ngữ
(Collocations)

river noun
sông

§         ADJ   broad,  great,  large rộng, vĩ đại, lớn, long dài,  mighty hùng vĩ,  wide  rộng,  the mighty River Nile Con sông Nile hùng vĩ,  o The river was too wide to swim across comfortably Con sông quá rộng không thể bơi ngang qua sông dễ dàng được . | little bé nhỏ, narrow hẹp, short ngắn, small nhỏ, con | deep sâu | shal­low nông, cạn | high dâng cao The river is still high after the recent rain Con sông vẫn có nuớc dâng cao sau trận mưa mới rồi. | low thấp | fast-flowing chảy xiết | slow-moving, sluggish lừ đừ, chậm chạm | winding uốn éo, uốn khúc | swollen sóng lừng, sóng dâng cuồn cuộn, chậm chạp  The river was swollen after the floods Con sông cuồn cuộn dâng nước sau những trận lụt . | navigable có thể lái đi được The river is navigable by vessels of up to 90 tons  Tàu bè có trọng tải tới 90 tấn có thể lái trên sông đó được.

§         VERB + RIVER cross, ford đi qua (đi bộ hoặc lái xe qua chỗ cạn), get across băng qua, băng ngang We crossed the river by ferry Chúng tôi qua sông bằng phà/bắc o How are we going to get across the river? Chúng ta qua sông bằng cách nào bây giờ đây?  | bridge làm cầu, bắc cầu They've bridged the river at four points Họ đã bắc cầu qua sông ở bốn điểm. | dam xây đập Wildlife groups are protesting against the proposal to dam the river Các nhóm bảo vệ đời sống hoang dã/chim muông/thú hoang đang phản đối chống xây đập qua sông. | dredge nạo vét lòng sông (bằng máy) They're dredging the river to make it safer for larger boats Họ đang nạo vét lòng sông để cho các tàu lớn đi lại an toàn hơn. | navigate lái (tàu) The rocks and sandbanks make the river hard to navigate Những tảng đá và bờ cát làm cho khó lái tàu bè trên sông.

§         RIVER + VERB flow, run, wind chảy, đổ, uốn quanh, uốn khúc chảy This river flows into the Mediterranean Sea Sông này chảy ra biển Điạ Trung Hải. o A river runs through the field Một con sông chảy qua cánh đồng, o The river winds its way through the hills Con sông uốn khúc chảy qua những ngọn đồi đó. | rise dâng nước lên The river has risen with the rains Con sông này đã dâng nước khi có những trận mưa  o The river rises in Bulgaria and flows through Greece to the Aegean Con sông này dâng nước ở Bun-ga-ri/Bảo gia lợi và chảy qua Hi-Lạp tới biển Aegean (Thổ Nhĩ Kì). | be in flood bị lụt, burst its banks bị vỡ bờ, flood (sth) làm ngập lụt (cái gì), overflow sth ngập tràn (cái gì) The river had overflowed its banks Con sông đã chảy tràn qua hai bên bờ. | dry up khô, cạn nước This river dried up long ago Sông này đã cạn nước lâu rồi..

§         RIVER + NOUN   bank bờ | water nước | valley thung lũng | system hệ thống | crossing chỗ băng ngang qua | traffic giao thông (trên sông), tàu bè qua lại (trên sông)

§         PREP  across a/the ~ băng qua There's a bridge across the river Có cầu băng qua sông. along a/the  ~ dọc theo ~ We walked along the river Chúng tôi đi bộ dọc theo con sông, down a/the ~, down by a/the ~, down to a/the ~ xuôi giòng Let's go down to the river at sunset Chúng ta đi xuống mé sông vào lúc hoàng hôn đi!, into a/the ~ xuống ~ He dived into the river Hắn lặn xuống sông, in a/the ~ trong ~ Trout live in this river Cá hồi sống ở sông này  on a/the ~ trên ~ There was a rowing boat on the river Có một chiếc ghe có mái chèo ở trên sông, up a/the ~ ngược giòng sailing up the river lái thuyền/tàu ngược giòng sông  | ~ of (nghĩa bóng) a river of lava một dòng dung nham

§         PHRASE the banks bờ/bottom đáy/middle giữa/side bên/surface of a river trên mặt sông They were waiting for us on the other side of the river Họ đợi chúng ta ở bờ sông bên kia. a bend in the river khúc quanh của con sông, the course/direction of a river hướng/chiều sông, tuyến sông the river's edge bờ/mé nước của dòng/con sông

woman noun

đàn bà, phụ nữ

 

§         ADJ young trẻ | middle-aged trung niên, sồn sồn | elderly, old, older già, cao tuồi, lão niên The thief tricked his way into an elderly woman's home Tên trộm đánh lừa lẻn vào nhà của một bà cụ già o Older women often have difficulty conceiving Đàn bà lớn tuổi thường gặp khó khăn.trở ngại trong việc thụ thai. | adult, grown tráng niên, người lớn, trưởng thành The little girl she remembered was now a grown woman Cô con gái nhỏ bà ta nhớ . | married có chồng |  single độc thân,  unattached,   unmarried chưa lập gia đình | widowed goá | divorced đã li dị | pregnant có bầu, có thai, mang thai | childless không có con, hiếm muộn  | business (also businesswoman), career, professional, working có nghề nghiệp, có công ăn việc làm, đi làm  | non-working không đi làm | attractive quyến rủ, thu hút, trông bắt mắt   beautiful đẹp,     good-looking dễ coi, có nhan sắc handsome,   pretty đẹp | desirable khêu gợi | well-dressed diện, ăn mặc đẹp | plain thường, không đẹp ugly xấu | motherly dịu dàng, hiền từ (của một bà mẹ) | hysterical cuồng loạn | decent, good, kind tử tế, hiền từ, lành |  evil, wicked quỷ quyệt, độc ác | battered bị hành hạ, ngược đãi, đánh đập, bạo hành  a hostel for battered women một nhà kí túc/trọ cho phụ nữ bị bạo hành | the other người (đàn bà) kia Jean Menckes plays the president's wife and Fiona Hundley plays the other woman Jean Menches đóng vai vợ của Tổng Thống còn Fiona Hundly đóng vai người đàn bà kia (=  Nhân tình nhân ngãi của Tổng Thống)

§         verb + woman depict, portray, present, show (được) mô tả, diễn tả, trình bày, thể hiện, cho thấy  We want to change the way women are depicted in the media Chúng tôi cần thay đổi cái lối/phương cách mà phụ nữ được mô tả/thể hiện trong các phương tiện truyền thông. |  limit, reduce (bị) giới hạn, hạn chế (bị) hạ giảm, thu hẹp Women are limited to the more poorly paid jobs Phụ nữ chỉ còn được làm những công việc với lương trả thấp hơn, o Women are reduced to merely playing a passive role Phụ nữ bị hạ giá chỉ còn đóng một vai trò thụ động.

§         phrases the position/role of women vị thế/địa vị, vai trò của phụ nữ There were im­portant changes in the position of women in society Đã có những thay đổi quan trọng về điạ vị của phụ nữ trong xã hội, a woman of the world  người đàn bà từng trải, thạo đời, sành sỏi, nhiều kinh nghiệm  He saw her as a woman of the world who could offer him advice Ông ấy coi bà ta như là người đàn bà thạo đời có thể cho ông lời khuyên được, women's lib/liberation giải phóng phụ nữ (be­coming old-fashioned) The freedom to wear trousers be­came a symbol of women's liberation Tự do mặc quần tây đã trở thành biểu tượng cho việc giải phóng phụ nữ, the women's move­ment phong trào phụ nữ, women's rights quyền của phụ nữ, nữ quyền

Trịnh Nhật
Sydney, Mồng 7 Tháng 3, 2007

 

Trở về Trang Chính