Anh Ngữ Học Mà Vui:

Đem con bỏ chợ



 

 LTS. Bài học Anh ngữ nói chung chủ yếu là bàn về tiếng Anh thời sự, đã đọc được trên báo chí, nghe được trên đài phát thanh truyền hình, với các độc giả trong tinh thần “Tôi học, Anh học, Chị học, Em học, Chúng ta cùng học!”.  Các từ vựng, đoản ngữ, tục ngữ, thành ngữ, châm ngôn... tiếng Anh, tiếng Việt sẽ được lồng vào những mẩu chuyện vui, cà kê dê ngỗng, cốt là giúp cho người học dễ nhớ, vui mà học được. Những lời bàn tán ở đây nhất định không thể được coi là những lời “thánh phán”, mà các độc giả, tất nhiên có những người biết chuyện, sẽ được mời đóng góp ý kiến của mình hoặc đặt câu hỏi để chúng ta có dịp cùng nhau tìm hiểu, đồng thời chia xẻ niềm vui chung là học hỏi lẫn nhau. Bài học còn có thêm phần liệt kê những kết hợp ngữ (collocations) trong tiếng Anh, tiếng Việt để người học tham khảo.

 

Đem con bỏ chợ

 

Úc-đại-lợi (Down Under) sắp gửi  lời “tạ từ” (to say ‘good-bye’) Muà Đông để bước sang Xuân…Tôi biết rằng cứ vào lúc Bắc Bán Cầu (Northern Hemisphere) đang chìm mình trong nắng Hạ, thì là lúc Nam Bán Cầu (Southern Hemisphere) vẫn còn tiết Đông. Chợt nhớ lại năm nào khi nghe các bạn phái nữ trong “Nhóm Đi Bụi” (Bushwalkers’ Group), dong chơi… bên bờ biển phiá Tây Canada, Bắc Mĩ Châu (Northern America), thuật lại chuyến đi “vui thú hội ngộ”, với bạn bè thập phương, tứ xứ tụ về bãi biển Vancouver…tôi đã “tức cảnh sinh tình” gửi tặng các chị hai câu thơ, không thật sự nhắm riêng vào đối tượng nào, với giọng điệu Hồ Xuân Hương, làm quà:

 

Ven-cu-vơ (Vancouver) em vui ‘nghêu sò’ phơi mình trong nắng hạ,

Sờ-xịt-nầy (Sydney) anh buồn‘công ngủ’ thu mình dưới trời đông…

 

Trong bài viết lần trước, tôi có tiết lộ một điều là: Trong câu chuyện “Người Việt dễ thương” (A lovable Vietnamese), đăng trên báo điện tử Cánh Én bên Đức, tác giả Việt Hà viết:

 

“Người Việt ta chưa có thói quen nói “cảm ơn” nhau—“cảm ơn” chưa trở thành phổ cập, mặc dù biết “cảm ơn” đúng lúc, đúng chỗ sẽ làm cho kẻ đối diện cảm thấy vui vẻ, hài lòng thậm chí cảm thấy dễ dãi, độ lượng hơn.”

 

[Tạm dịch:  Our Vietnamese people have not as yet developed the habit of thanking each other--“Thank-yous” are not popular, even though knowing when to say ‘Thank you” in the right and proper place would make your listeners feel happy, pleased and even more welcome and tolerant of you.]

 

Và tôi cũng còn trích lời của tác giả Trần Ngọc Thêm, trong cuốn “Tìm về Bản sắc Văn hoá Việt Nam”:

 

“Do truyền thống nặng nề về tình cảm và tính linh hoạt nên người Việt Nam không có một từ “cảm ơn, xin lỗi” khái quát có thể dùng chung cho mọi trường hợp như người phương Tây. Cũng như trong xưng hô, đối với mỗi người ta có một cách xưng hô khác nhau, thì trong việc “cảm ơn, xin lỗi”, mỗi trường hợp có một cách “cảm ơn, xin lỗi” khác nhau.”

 

[Tạm dịch: Vietnamese, as part of a tradition which puts emphasis on emotions and liveliness/flexibility, do not have general words for “Thank you” (Cảm ơn) or “Sorry” (Xin lỗi), which are used extensively by Westerners. Like their way of addressing each other in that they can use a different form of address depending on each individual’s age, marital or social status, the same rule applies when we say “Thank You” or “Sorry”.]

 

Tôi lại còn “kích thích” trí tò mò của Quí Vị độc giả bằng câu đố vui (puzzle) đại loại như sau:

 

Vietnamese people are known to rarely say “Thank you” or “Sorry”, as compared to Australians. Do you know that they have similar ways of saying “Thank you” or “Sorry”? If yes, give some examples of the ways they do this.

 

Nay, tôi xin được dẫn chứng một vài thí dụ trong tinh thần “nói có sách mách có chứng”, “của người phúc ta” như sau:

 

Here are some examples: If you give someone a present their thanks would be expressed as: May I receive/accept it from you, Uncle?” (Con xin Chú). If you express your concern for someone who is not well, that person would say: “You are so thoughtful!” (Chị chu đáo quá!) or “You are so kind!” (Anh tốt quá!), not straight out “Thank you”. When you are a good host, your visitor would say: “You have really gone overboard” (Bác bày vẽ quá), or “You have really overdone it.” (Bác bày vẽ quá). When people visit you, the greeting would be: “It’s so precious (Quí hoá quá!) that you have come to visit me. Between friends, when you are offered help, you say: “You have saved me from really losing…”, not “Thank you for your help.” Or “I owe my position to what you have done for me.” (Cháu được như hôm nay là nhờ Cô đấy). If you have to say something nasty, you would say: “I may be wrong/It may not be true, but I have to say this” (Nói vô phép/Nói khí không phải) where Westerners would say: “I’m sorry to say this, but …” When something goes wrong, you say: “I’m so careless.” (Tôi sơ ý/vô ý quá).

 

Đề cập đến chuyện người Việt không có thói quen nói “cảm ơn, xin lỗi”, tôi đã được nghe một câu chuyện kể:

 

Có một ông chồng bảo lãnh cho vợ con từ Việt Nam sang Úc. Vì sợ vợ mình “lạ nước lạ cái” với cái văn hoá cuả xứ “lucky country” (nước may mắn) này, nên những ngày đầu tiên ông chồng luôn luôn nhặn vợ mình phải nhớ “nằm lòng” hai câu: “Thank you”“Sorry”, mỗi khi ra đường. Bà vợ một hôm đang đợi trên sân ga (platform) để chờ lên chuyến xe lửa, loại “suburban train” [loại chạy quanh trong thành phố, từ trạm này trạm khác thôi, chứ không phải loại chạy liên tỉnh (intercity train)]. Trong lúc đó vào giờ cao điểm (peak hour) hành khách trên xe hấp tấp, hối hả, vội vã chen nhau nhào xuống sân ga, chẳng may có một ông “to lớn đẫy đà”  đụng “huỵch” một cái thật mạnh vào bà vợ này, thì theo vô thức, tự động bà nói bật ra: “Thank you” thay vì “Sorry”đúng theo bài bản “một trong hai câu” ông xã bà chỉ dạy. Nhưng ngặt một nỗi là bà đã “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia.” Về nhà thuật lại cho chồng nghe về biến cố này, thì liền bị ông chồng đay nghiến: “Bộ muốn người ta ‘đụng’ mình nữa, hả, hả, hả???”

 

Đang viết về chuyện học tiếng nước người, thì tôi tìm đâu ra được một bài thơ về tiếng nước mình, nói đúng hơn là tiếng một miền nước mình. Bài thơ có tựa là: “Anh đồ xứ Nghệ viết tặng cô hàng nước”. Thơ rằng:

 

Bản hạng nay cô đã mấy tuồi
Nược cô còn nóng hay đã nguồi
Lụng lặng trên treo dăm nặm nẹm
Đu đưa dượi mọc một buồng chuồi
Bánh ít, bánh dầy đều xoạ mợ
Khoai ngưạ, khoai lang cũng chấm muồi

Ăn uống no say, tiền chửa trạ
Biết nhau cho chịu một vài… buồi

 

Chú thích: bản hạng (= bán hàng); mấy tuồi (= mấy tuổi); nược cô (= nước cuả cô); đã nguồi (= đã nguội); lụng lặng (= lủng lẳng); nặm nẹm (nắm nem); dượi mọc (= dưới móc); buồng chuồi (= buồng chuối); xoạ mợ (= xoa mỡ); khoai ngưạ (= khoai ngưá); chấm muồi (= chấm muối); chửa trạ (= chưa trả); vài…buồi [vài …xâu tiền (thu thuế)--theo Tạ Chí Đại Trường trong Tạp Chí Hợp Lưu # 94].

 

Chung chung mà nói (generally speaking), thì trong bài thơ trên tác giả có í hài hước khi chuyển tả (transcribe) lời nói giọng Nghệ An sang chữ viết (written language), nhưng có lẽ hơi cường điệu (cốt gây ấn tượng) chăng? Để được rộng đường dư luận,  tôi xin nêu vài nhận xét về thanh/thinh/dấu giọng (tones/tonemarks) trong tiếng Việt, liên quan tới giọng nói ba miền đất nước như sau:

 

Tiếng Việt giọng Nghệ An hay giọng Huế, được sự cảm nhận (impressionistic view) của người dân trong nước nói chung là nghe hơi “nặng”, so với giọng Bắc hay giọng Nam. Chẳng thế mà, theo chỗ tôi biết, người nói giọng Huế, khi nói chuyện với người khác miền, như Bắc hoặc Nam, thì họ có khuynh hướng đổi giọng (change their accent) và họ đổi được. Cũng xin mở dấu ngoặc nói thêm ở đây là: tôi đã có dịp kể lể đâu đó là giọng Huế nghe “hay”, dễ thương, nhất là giọng nữ, qua kỉ niệm lần đầu ra Huế năm 1964, và cũng chỉ được một lần duy nhất tôi thăm viếng Đất Thần Kinh này mà thôi.

 

Sự kiện đổi giọng, đổi tiếng nói là một trường hợp tự nhiên thuộc phạm vi ngôn ngữ xã hội học (socio-linguistics), muốn mình được sẵn sàng chấp nhận trong môi trường, cộng đồng ngôn ngữ mới, và làm dễ dàng hoá sự đạt thông giữa đôi bên (facilitate communication between the two parties) là đối tượng đối thoại của nhau. Tôi đã chứng kiến trường hợp người anh rể, chồng bà chị thứ hai, ở Bắc vào Nam  khoảng năm 1954, sau đó làm việc ở Tổng Nha Quan Thuế, là khi nói chuyện với bạn bè đồng nghiệp đa số là người sinh đẻ tại Sài Gòn, thì ông tự động chuyển sang giọng Nam/tiếng Nam (Southern accent/dialect), có lẽ là để thấy mình không khác người, dễ được chấp nhận là đồng bọn, “đồng hội đồng thuyền” hơn.

 

Theo sự phân tích những thanh âm (tones) tiếng Việt bằng phương pháp “phát âm  học thực nghiệm” (experiemental phonetics), thì người ta thấy tiếng Việt có 6 thanh/thinh/dấu giọng   (tones/tone-marks) là ngang (không dấu), sắc (’), huyền (`), hỏi (?), ngã (~), nặng (.). Khi viết, thì phải dùng 6 dấu giọng (tone-marks)  không kể dấu ngang (không dấu) thì còn 5 dấu. Nhưng khi nói, thì người Bắc có thể nói phân biệt được cả 6 thanh (tones), người Nam phân biệt 5 thanh [vì hỏi (?), ngã (~) đã được gộp chung lại (collapsed into) thành một thanh hỏi (?)], còn người Trung chỉ phân biệt 3 thanh [vì hỏi (?), ngã (~), nặng (.) gộp chung lại thành một thanh nặng (.)]. Chính vì khuynh hướng nói thế nào viết thế ấy, nên khi viết, người miền Trung và người miền Nam thường không phân biệt khi phải đánh/bỏ dấu (add tone-marks) hỏi (?), ngã (~). Trong khuôn khổ bài viết này, tôi không muốn đi xa hơn nữa về mặt học thuật để bàn chi tiết về âm vị học/ngữ âm học (phonology/phonetics) liên quan đến thanh/thinh (tones), mặc dù đó là phạm vi nghiên cứu của tôi (“Vietnamese phonology: A Quantity Study”, Master’s Honours Thesis, 1978, Macquarie University, Australia).

 

Nhưng nói gì thì nói, hàn lâm hay không hàn lâm, cái “tếu” nhất, đối với tôi, trong bài thơ cuả “Ông Đồ Xứ Nghệ” là câu thơ cuối cùng:

 

Biết nhau cho chịu một vài… buồi.

 

Lần đầu đọc thơ chưa hiểu nghĩa khác (other meaning) cuả chữ “buồi”, mà chỉ hiểu theo nghĩa trong tiếng Bắc (Northern dialect), tôi “buồn cười/tức cười muốn chết!”. Số là:  Tôi đánh tennis (quần vợt) với mấy anh bạn người Nam, họ không biết chữ "buồi" tiếng Bắc là gì??? Mỗi khi đánh đôi, tôi đứng với ‘partner’ (đồng đội/bạn đánh đôi/đấu thủ đứng chung), mà ‘partner’ mình có khi đánh quả nào dễ quá, bổng, ngon vưà tầm tay, để cho đối thủ nó “đập” (overhead smash) cho vỡ mày vỡ mặt, là tôi lại nói: "Đúng là... cầm ‘buồi’ cho người ta đái". (No doubt … that you’re holding his cock for him to piss!). Trong tiếng Bắc, chữ  “buồi” có nghĩa Hán-Việt (Sino-Vietnamese) là: “dương vật” (= penis). Tôi không muốn đi xa hơn về chuyện này vì sợ có thể bị hiểu lầm.

 

Nhưng Quí Vị Quí Bạn ơi! “dương vật”, hay “âm hộ” hoặc “âm đạo” (= vagina), nghe ai mà chả thích, nhưng xin được tạm gác lại để sẽ bàn thêm trong phần “kết hợp ngữ” (collocations). Còn bây giờ đây bài học cuả chúng ta xin được chuyển qua đề tài “Đem con bỏ chợ”!

 

Tại sao lại “Đem con bỏ chợ” (Leaving someone in the lurch)?  Số là: Trong hai, ba tuần qua nhân dân thế giới, đặc biệt là ở Nam Bán Cầu này, được biết chuyện qua báo chí (press), truyền thanh, truyền hình (electronic media) là một ông Bố, người gốc Hoa, sống tại Tân Tây Lan (New Zealand), dẫn đứa con gái, 3 tuổi, cho ăn mặc chỉnh tề, đem con sang Úc, bỏ con ở ga xe lửa (railway station) Southern Cross, của thành phố Melbourne, rồi biến đi đâu mất (disappeared). Đứa bé, ngơ ngẩn không chịu nói gì, và Nhà nước Úc, [đặt tên bé là Pumpkin (Quả bầu/Quả bí ngô) do nhãn hiệu quần áo bé mặc], đã cho vời mấy thông dịch viên ngôn ngữ khác nhau, nhất định là có vài thổ ngữ tiếng Hoa (Chinese dialects), đến để thử nói chuyện với bé xem “vì đâu nên nỗi”, nhưng tuyệt nhiên em bé không chịu trả lời. Thành thử mọi chuyện “u tối” vẫn hoàn  “u tối” (everything was shrouded in a mystery). Câu chuyện sau này ngã ngũ ra (unfolded), theo Michelle Cazzulino, kể lại trên tờ The Daily Telegraph, số ra ngày Thứ Bẩy 22 tháng 9, 2007 thì là:

 

Annie Xue believed in happy endings (hồi kết thúc có hậu/tốt đẹp). Despite the beatings (những trận đòn/đánh đập), bruises (những vết bầm tím) and break-ups (những đổ vỡ) that dominated her short marriage, her faith in the future would come to act as a buffer (vật đệm/trái độn/tác nhân làm dịu bớt) against her harsh reality of life (thực tế cay nghiệt của cuộc sống) in a country where she struggled (vật lộn) with the language and found herself locked (thấy mình bị khoá chặt) in a twisted cycle of hope and betrayal (vòng luẩn quẩn giữa hi vọng và bội phản).

 

On what would likely be the last night (đêm cuối cùng) of her life, the 27-year-old sat in her home in the Auckland suburb of Mount Roskill, writing in Mandarin (tiếng Quan thoại/Phổ thông) on her personal blog [(nhật kí) viết tâm tình riêng trên mạng] about her distress (nỗi khổ sở) at the loss of her married lover (mất người tình đã có gia đình).

 

“In this world, most of us have a lot of hard times (nhiều cam go/khốn khổ); we struggle for living with exceeding loneliness (niềm cô đơn cực độ),” she wrote.

 

There may be many things (có thể có nhiều chuyện/điều) that are not eternal (không vĩnh cửu). Just like there are many things in this world (trên đời này) that have no ending (không có hồi kết cuộc), what’s beautiful remains beautiful (cái gì đẹp thì vẫn đẹp), the glorious, glorious (rạng rỡ), so why haggle (kì kèo/mặc cả/đôi co/hỏi tới hỏi lui) over the length of time (chuyện dài lâu/mau chóng)? A flower falls (tàn/rụng), tomorrow another will bloom (nở). I will keep the good memories (những kỉ niệm đẹp) in mind. It’s what you have already had and cherish (ấp ủ trong lòng) that won’t end.”

 

As the world would come to learn less than a fortnight later, the “good memories” were beautifully few, punctuated (bị đứt đoạn) by periods of mindless violence (bạo động ngu đần) and futile attempts (những nỗ lực/cố gắng vô hiệu/bất thành) to escape (thoát khỏi) the sadistic spectre (bóng ma tàn bạo) of her husband, Nai Xin Xue. This week he became an international fugitive (kẻ đào tẩu/chốn chạy) after it was revealed he had abducted (đã bắt cóc) their three-year-old daughter, Qian Xun, and dumped her (bỏ con) at Melbourne’s Southern Cross railway station last Saturday.

 

Hồi kết cục cuốn phim tình này không được như cô Annie Xue, 27 tuổi, tin tưởng, mong đợi là “có hậu” (happy ending). Cảnh sát, tuy là muộn, nhưng đã tìm thấy xác cô trong cái cốp sau [boot = trunk (tiếng Mĩ)] chiếc xe của ông chồng dã tâm đậu trong nhà xe (garage) trong nhà ông ở Auckland, Tân Tây Lan. Cảnh sát đang truy lùng ráo riết ông Nai Xin Xue, người chồng bị tình nghi là thủ phạm, ở trong 5 khu phố có đông dân Hoa kiều sống tại Los Angeles. Được biết sau khi “đem con bỏ chợ” (left his daughter in the lunch), ông chồng này, 54 tuổi, võ sư tài chí (martial arts/tai chi expert/master), chủ nhiệm (publisher) một tờ báo Hoa ngữ, đã đáp máy bay từ Melbourne sang thành phố bờ biển miền Tây ấy.  

 

Theo từ điển Dictionary of Idioms, Collins COBUILD, HarpersCollins Publishers, 2002 thì: trong tiếng Anh, “To leave someone in the lurch” được giảng nghĩa là: “If you say that someone has left you in the lurch, you are complaining that they have put you in a difficult situation by suddenly going away or abandoning you, without giving you very much notice of their plans.” [Nếu bạn nói là ai đó đã left you in the lurch”, bạn phàn nàn/than phiền là họ đã đặt bạn vào trong một hoàn cảnh/tình huống khó khăn/khó xử bằng cách đột ngột ra đi hay bỏ rơi bạn, mà không cho bạn đầy đủ thời gian biết trước về kế hoạch của họ]. “Lurch” có nghĩa “sự tròng trành/nghiêng ngã/lảo đảo/chao đảo/loạng choạng/lắc lư”, kiểu “lắc lư con tầu đi” vậy mà!!!

 

Quí Vị Quí Bạn thân thương ơi! Chuyện gì rồi cũng phải chấm dứt, phải đến hồi kết cục…cũng như đời người. Trong hai ngày nay, mỗi ngày tôi nghe tin một người từ trần: Bà Cụ 86 tuổi còn khoẻ, mẹ vợ cuả anh bạn thân ở Stockton, Bắc California, băng qua đường rầy xe lửa ở Phan Rang, bị một thanh sắt ở đầu xe lửa (cow-catcher) hất ngã xuống bờ dốc mà đi… Một bà khác Judy Stowe, kí giả người Anh, bỉnh bút/người viết bình luận (commentator) và sau này có thời kì làm Trưởng Ban Việt Ngữ (Head of Vietnamese Section) Đài BBC Luân Đôn trong những thập niên 70-90, bị lâm trọng bệnh mà đi… Tang lễ cử hành trong lặng lẽ, âm thầm ngày 22-9 tại Luân Đôn là nơi, vào đầu thập niên 80, tôi làm việc với hợp đồng 3 năm (3-year contract) cho BBC, một cơ quan truyền thông quốc tế.  

 

Lá thư báo tin tôi nhận được từ một người bạn trẻ ở Luân Đôn có nội dung:

“Hôm qua thứ Bẩy 22 Sept hoả táng (cremation service) cho bà Judy trong nghiã trang (cemetery) Putney. Bà mất hôm 13 Sept trong bệnh viện. Gặp lại các anh Sang,Viêm (anh ấy gởi lời thăm Thầy), ông Vĩnh Phúc, Xuân Kỳ và chị Tammy (bà xã ông Xuân Kỳ), ai nấy đều bùi ngùi nhắc lại thời trước (felt sorrow when reminiscing about the past). Không thấy ông Hữu Đại, anh Đỗ Văn thì đang ở Việt Nam không về kịp. Cũng không thấy chị em Hồng Liên, Tường Vi. Michael, con bà Judy (vợ là Megan) sắp có đứa con thứ hai, đưá con gái đầu rất gần với bà Judy. Nhìn quan tài làm bằng mây đơn sơ (a simple coffin made of rattan) em không ngăn được cảm giác xót xa (bitter-sweet memories) cho người cách đây 15 năm đã tuyển (recruited) em vô BBC. Đám tang (the funeral) làm đơn giản nhưng cảm động (simple but highly emotional), không có “big boss” nào cuả BBC, chỉ có mấy đồng nghiệp khi xưa. Thôi vậy là xong một kiếp người, một người đàn bà phải nói là kém may mắn trên tình trường (a turbulent love life), công danh lận đận. Nghĩ lại chốn này coi vậy mà bạc bẽo tình người (treated people ungraciously).”

 

Ôi! thời oanh liệt, nay còn đâu!!! Trong tưởng nhớ người vĩnh viễn ra đi, trong suy tư về thân phận người…tôi có niềm an ủi riêng cho mình:

 

Hoa đã hẹn đến muà phải nở*,

Người đáo hạn đến kì phải tử!

[Flowers bloom, it’s their fate sublime,

But people must die when it is their time.]

 

Trịnh Nhật

Sydney, 25.9 (My Birthday), 2007

___________________________________________

*Thơ trích trong bài “Ra Biển” của Trần Đình Lương
 

Kết hợp ngữ
(Collocations)

 

penetrate verb

thâm nhập, thọc sâu vào, thấm vào,  thẩm thấu

  • ADV deep, deeply, far sâu, sâu/xa tuốt bên trong caves penetrating deep into the hills | fully, totally hoàn toàn | hardly khó có thể, không dễ gì The sunlight hardly penetrated the inner room. | quickly nhanh, mau, lẹ | slowly chậm, từ từ The news slowly penetrated his consciousness. | easily, readily dễ dàng, sẵn sàng  These so-called secret societies were easily penetrated by intelligence agents. | successfully thành công, mĩ mãn, tốt.
  • VERB + PENETRATE be able to, can/could có thể | be difficult to khó mà | seem to coi bộ, xem chừng The cold seemed to penetrate his bones. | fail to không thể | allow sth to để cho cái gì Cut two slashes on each side of the fish to allow heat to penetrate.
  • PREP into vào trong It is not yet known how deeply the radiation has penetrated into the soil, through qua The light could not penetrate through the thick curtains, to tới The dust had penetrated to all corners of the room.

 

penetration noun

(sự) thâm nhập, đâm sâu, thọc sâu, ấn sâu, thấm vào, thẩm thấu

  • ADJ deep sâu | greater lớn rộng/sâu rộng hơn | import nhập khẩu, nhập cảng, market thị trường Our aim is to achieve greater market penetration Mục đích của chúng ta/chúng tôi là tạo thành tích thâm nhập vào thị trường rộng lớn hơn. | water nước | sexual thuộc về tình dục (= giao hợp, giao hoan, giao cấu)
  • VERB + PENETRATION achieve đạt được, thực hiện được

 

penis noun

dương vật, cu, cặc, buồi, “của quí”, “chim”, bộ phận sinh dục nam

  • ADJ erect cương, cứng, ngổng | flaccid xìu, mềm, mềm xèo limp yếu ớt, ẻo lả, xìu xìu ển ển
  • PENIS + VERB become/get/go hard trở nên, hoá ra/đâm ra cứng harden thành/trở nên cứng, stiffen thành/trở nên cương cứng | become/go soft trở nên, hoá ra/đâm ra mềm/mềm xèo | shrivel làm nhăn lại, làm nhăn nheo, làm cho co lại/teo lại.
  • PENIS + NOUN envy thèm muốn | length chiều dài, size cỡ, kích thước

 

vagina noun

âm đạo, âm hộ, lồn, hĩm, “lá đa”, “bướm”, bộ phận sinh dục nữ

  • VERB+ VAGINA enter, penetrate ấn vào, ấn sâu vào, thọc sâu vào
  • PREP in/into/inside the/your ~ trong, bên trong, vào bên trong ~ của ai

 

dead adj

chết

  • VERB be, lie His wife lay dead beside him Vợ hắn nằm chết bên cạnh hắn. | look trông như | sham giả bộ, giả vờ The animal will sometimes escape danger by shamming dead Con vật sẽ có khi thoát nguy hiểm bằng cách giả bộ chết. | drop He just dropped dead one day in his garden Một hôm hắn khơi khơi lăn đùng ra chết trong vườn nhà. | shoot sb bắn ai, strike sb đánh ai, đập/tấn công người nào Gunmen shot dead a policeman Các hung thủ bắn chết một cảnh sát viên, She had been struck dead by lightning Bà ta đã bị sét đánh chết. | find sb tìm thấy ai The woman was found dead with a rope round her neck. | declare sb, pronounce sb tuyên bố ai, công bố người nào She was declared dead on arrival at the hospital Người ta (nhà thương/bác sĩ) tuyên bố là bà ta chết lúc tới bệnh viện.
  • ADV quite hoàn toàn, thật rồi I’m afraid he's quite dead (Tôi e/sợ rằng ông ta chết thật rồi.
  • PHRASE dead and buried (nghĩa bóng) tiêu tan, tan tành theo mây khói In ten years he'll be dead and buried as a politician Trong vòng 10 năm nữa cuộc đời chính trị cuả ông ta sẽ tan theo mây khói, dead and gone chết mất tiêu mất tích rồi, ngủm từ hồi nào rồi That won't happen until long after I’m dead and gone Chuyện đó sẽ không xẩy ra cho tới mãi mãi sau khi tôi đã ngủm rồi. dead or alive chết hay sống We didn't know whether the fish was dead or alive Chúng tôi đã không biết con cá chết rồi hay còn sống, more dead than alive không chắc gì sống nổi, chắc tiêu rồi Poor child, she looks more dead than alive.Tội nghiệp con bé, nó trông như 8, 9 phần mười là chết rồi/ chẳng còn mấy hi vọng sống được đâu.

 

Trịnh Nhật

Sydney, 25.9 (My Birthday), 2007

 

Trở về Trang Chính