Mùa Xuân trên đỉnh non Cao



TS Trịnh Nhật

 

 Bài viết “Về cách nói (và viết)” của Giáo sư Cao Xuân Hạo, người có uy tín trong giới khoa bảng về dịch thuật và ngôn ngữ học tại Việt Nam, đăng trong báo điện tử Lao Động số Xuân Bính Tuất, do talawas giới thiệu trong mục spectrum mới đây nhắc tôi đến đôi ba điều về chuyện ngôn ngữ.

 

Qua một bài viết không mấy sáng sủa, nói quanh đi, nói lộn lại, ông Hạo, trong hảo ý, đã chê bai nặng nề những người nói (và viết) sai tiếng Việt.  Tựu chung, ta thấy ông phân biệt hai loại lỗi chính, trùng ngữ và trùng ngôn, cộng thêm một loại lỗi phụ, tạm gọi là lỗi linh tinh, mà nguyên nhân là do sự không hiểu cái tinh tế trong Việt ngữ, hay nói đúng hơn, không hiểu nghĩa của những từ Hán-Việt.

 

1.                  Trùng ngữ  (ông dùng chữ ‘pleonasm’) từ điển tiếng Anh khi tra cứu có nghĩa là:

 

      a) “sự dùng chữ trùng nhau(Tân Đại Từ Điển Anh-Việt, Nguyễn Văn Tạo, 1986), hay:

           

            b)dùng từ ngữ nhiều hơn mức cần thiết, như đứa bé nhỏ tí tẹo” (the use of more words than necessary, such as a tiny little child--Collins Australian Compact Dictionary, HarperCollins, 2002).

 

Lỗi trùng ngữ, theo ông Hạo, là lỗi rất nặng cả về tiếng Việt lẫn về tư duy lôgích. Lỗi này làm cho người nghe hay người đọc không hiểu cái từ ngữ mà mình dùng.  Ông dẫn chứng lỗi trùng ngữ trong những ví dụ sau: 

 

a)  rất trắng nõn, chủ yếu nhất, ánh nắng mặt trời (trong đó rất, nhất, mặt trời là nói dư thừa); hoặc:

b) lòng quyết tâm, sự nhã ý, hành động thiện chí, sự nhiệt tình, lòng nhiệt huyết (trong đó lòng, sự, hành động cũng là nói dư thừa).

 

Theo tôi, nói là lỗi dư thừa cũng đúng một phần (như trong rất trắng nõn, chủ yếu nhất, sự nhã ý), nhưng bảo rằng đó là lỗi nặng hay “kếch sù” như trong ánh nắng mặt trời, lòng quyết tâm, hành động thiện chí, sự nhiệt tình, lòng nhiệt huyết (hay bầu nhiệt huyết, ví dụ này là của tôi thêm) thì còn phải xét lại.

 

Ông Hạo dẫn chứng câu hát “Lòng quyết tâm còn cao hơn núi” trong bài “Hò kéo pháo”, sáng tác lẫy lừng từ hồi Việt Minh đánh trận Điện Biên Phủ, có nội dung thật hào hùng, nhưng hình thức thì, theo ông, là “… một cái lỗi ngữ pháp kếch sù mà các giáo viên dạy tiếng Việt đã tốn không biết bao nhiêu thì giờ và công sức để sửa mà cho đến nay hình như vẫn không phải lần nào cũng thành công.”  Đó là lỗi trùng ngữ, dư chữ “lòng”.

 

Cũng xin nói thêm ở đây, sau khi tiếp thu Hà Nội năm 1954, thì đầu năm 1955 tôi đã cùng người chị theo bố mẹ từ Hải Phòng đi chuyến xe lửa đêm lên Hà Nội để gặp lại ông chú, người đã tham dự trận đánh Điện Biên Phủ (mình mẩy đầy sẹo vì thương tích),  trước khi gia đình lên đường vào Nam. Tại Hà Nội, chúng tôi đã được đi xem một buổi trình diễn tại trường trung học Nguyễn Trãi, gần Hồ Ha-Le (nay là Hồ Thiền Quang) và chính tôi, ở tuổi 13, đã được nghe bộ đội trong đoàn văn công Hà Nội có đến 30 người cùng hò cùng hát trong động tác “kéo pháo”.  Tôi còn nhớ như in ánh đèn sân khấu ngoài trời chói chan và còn thuộc được mấy câu hát như sau:

 

“Hò dô ta nào,
Kéo pháo ta vượt qua đèo...
Hò dô ta nào,
Kéo pháo ta vượt qua núi...
Dốc núi cao cao,
Nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi.
Vực sâu thăm thẳm,
Vực nào sâu bằng chí căm thù.
Hò dô ta nào...”

Đã hơn năm chục năm qua có ai thắc mắc gì sự dư thừa trong lòng quyết tâm” đâu?  Có chăng là hành động “đốt đuốc đi tìm”, là thái độ “chẻ sợi tóc làm đôi” (hair-splitting) không quá ư cần thiết của nhà ngôn ngữ học họ Cao mà thôi.  

 

2.         Trùng ngôn (ông dùng chữ ‘tautology’) mà từ điển tiếng Anh khi tra cứu có nghĩa là:

 

a) “sự lặp lại không cần thiết” (Từ Điển Anh-Việt, Trung Tâm Khoa Học và Nhân Văn Quốc Gia, 1993), hay:

 

b) “dùng từ ngữ chỉ để lặp lại điều gì đã được nói rồi, như trong ‘dze lui’ (tiếng miền Nam)” (the use of words which merely repeat something already stated, as in reverse backCollins Australian Compact Dictionary, HarperCollins, 2002). 

 

Lỗi trùng ngôn, theo ông Hạo, nhẹ hơn rất nhiều so với lỗi trùng ngữ, tuy ông không giải thích nặng nhẹ rất nhiều ra sao.  Ông chỉ  dẫn chứng câu ca dao mà ông cho rằng mang dụng ý chế giễu lỗi trùng ngôn như sau:

 

Nửa đêm giờ tí canh ba

Vợ tôi con gái đàn bà nữ nhi.

 

Chắc đa số chúng ta đều biết: Nửa đêm = giờ tí = canh ba; vợ tôi = con gái = đàn bà = nữ nhi.  Nhưng nói vậy thì nói, chứ “vợ tôi”, khi đã lấy tôi rồi,  không thể là “con gái” mà chỉ có thể là “đàn bà”.  Đấy là chứ kể trường hợp “vợ tôi” cũng có thể là “đàn bà” trước khi lấy tôi nữa kìa. “Đàn bà”  khác “con gái”.  Muốn bắt bẻ, theo kiểu ông Hạo, thì bảo “đàn bà” so với “con gái” như thế đâu có phải là “sự lặp lại không cần thiết”, mà nói thế là nói trái nghĩa, ngược nghĩa là đằng khác.   

 

Vả lại, ai có thể nói cả quyết rằng câu ca dao trên chỉ có mục đích chế giễu người nói sai tiếng Việt, mà biết đâu chừng ngấm ngầm nói lên niềm hãnh diện về tính chất phong phú trong tiếng mẹ đẻ của mình?

 

3.                  Linh tinh

 

Lỗi loại này là do sự không hiểu cái tinh tế trong Việt ngữ, theo ông, “không hiểu cái thái độ khiêm tốn cố hữu của người Á Đông tôn vinh người đối thoại với mình, trong khi bản thân mình thì tự hạ thấp bằng những từ xấu nghĩa, cho nên dần dần chuyển thành một nghĩa khác”.  Ông đưa ra những ví dụ mà tôi tóm gọn như sau:

 

nhã   >   nhã ý;  cao   >   cao kiến  (Ông gọi nhã, cao là đại từ sở hữu chỉ ngôi thứ hai, có nghĩa là ‘của ngài’.

 

tệ      >   tệ xá; hàn   >   hàn gia;    ngu/thiển >  ngu/thiển ý  (Ông gọi tệ, hàn, ngu/thiển  là đại từ sở hữu dùng cho ngôi thứ nhất, có nghĩa là ‘của tôi’)

 

Ông cho rằng nay có khá nhiều người dùng sai, dùng lẫn lộn những từ kể trên trong nghĩa là ‘của tôi/của ngài’ . Ví dụ: Tôi có nhã ý mời anh chị đến dùng cơm*; hoặc: Theo thiển ý của bố tôi*. (Dấu hoa thị *, theo qui ước, chỉ câu nói sai, do tôi ghi nhận).

 

Đây tôi cũng xin nói thêm, có thể không phải chủ ý của ông Hạo, nhưng xét về mặt ngữ dụng học (pragmatics)[1] ngành ngữ học nghiên cứu ý định của người nói và khả năng diễn dịch được ý định đó của người nghe, thì người nói câu Theo thiển ý của bố tôi cũng có thể là nói đúng, chủ ý nói thế, nếu vì: 

 

(a) vốn không ưa bố mình, nên muốn nói xách mé bố, muốn cho bố mình một cú đá giò lái;

 

hoặc:

 

(b) muốn khiêm tốn, không muốn khoe khoang vì biết bố mình làm quan to, có chức vị cao, có thể dễ bị người ta ganh ghét.

 

Ông còn vạch ra lỗi  chí ít  dùng thay cho  ít ra, ít nhất.  Theo ông chí  không phải lúc nào cũng có nghĩa là nhất, mà còn có nghĩa là rất như trong chí hiếu, chí tôn.  Nhưng mà, rất ít đâu có đồng nghĩa với  ít nhất!

 

Theo tôi, ngôn ngữ là sự dùng quen ngôn từ để đạt thông với nhau.  Một khi mà hai bên hiểu được nhau, như thế là mục đích của đối thoại đã đạt rồi.  Ai hơi đâu mà ngồi phân tích chi li, chẻ sợi tóc làm tư, để rồi bảo thế này mới đúng, thế kia là sai.  Vả lại, ngôn ngữ thay đổi theo thời gian, thay đổi với địa phương, cho nên người nói ngôn ngữ phải tiếp xúc với nhau, phải tiếp cận với ngôn ngữ hàng ngày để học hỏi cho giao tiếp được tốt đẹp. Tôi vẫn thường nghe người miền Nam phê bình người miền Bắc thời nay nói “chất lượng” để chỉ “phẩm chất”.  Người miền Nam có khi còn khiếp đảm khi nghe người miền Bắc nói “thanh toán” khi gọi bồi bàn “tính tiền” sau khi dùng xong bữa ăn trong tiệm. Từ ngữ “tử tế” trong tiếng Hán-Việt lúc nguyên thủy có nghĩa là “chu đáo, nhiệm nhặt, kỹ càng”, chứ đâu có nghĩa là “người tốt bụng” như thời bây giờ (Việt Nam Tự Điển, Hội Khai Trí Tiến Đức, Hà Nội, Trung Bắc Tân Văn, 1931).

 

Khi lên án, chê bai nặng nề những người nói (và viết) sai tiếng Việt, Giáo sư Hạo đã vô hình trung chọn lựa giữa văn phạm quy phạm (prescriptive grammar), một trường phái văn phạm cổ điển thay vì  văn phạm miêu tả (descriptive grammar), một trường phái ngữ học hiện đại. [2]

 

1.         Văn phạm quy phạm (prescriptive grammar): Bắt buộc người nói ngôn ngữ phải tuân thủ theo những điều quy định sẵn và đã được cho là đúng vì dựa vào lôgích của một ngôn ngữ gốc, cùng họ, hoặc dùng từ ngữ vay mượn của ngôn ngữ nào đó.

 

Những ví dụ dẫn chứng của ông Hạo làm tôi nhớ tới chuyện mấy chục năm về trước, khi còn là sinh viên Đại học Văn Khoa, Sài Gòn, tôi đã nghe có những sinh viên khác được dạy bảo phải nói/viết tiếng Việt như thế này:

 

Không được nói: 

 

đề cập đến/tới,  sông Hồng Hà, hoặc từ chối không/không chịu

 

trong những câu chẳng hạn như:

 

Hôm nay tôi xin đề cập đến/tới chuyện phòng chống tham nhũng.

 

hoặc:

 

Trận thuỷ chiến kịch liệt đã diễn ra trên sông Hồng Hà.

Hắn từ chối không chịu tiết lộ chi tiết về vụ cướp có võ trang.

 

mà phải nói:

 

Hôm nay tôi xin đề cập chuyện phòng chống tham nhũng.

(không dùng đến/tới, vì ‘đề cập’ tiếng Hán-Việt có nghĩa là ‘đến’  là ‘tới’ rồi).

 

Trận thuỷ chiến kịch liệt đã diễn ra trên Hồng Hà.

 (không dùng sông,‘hà’ tiếng Hán-Việt đã  là ‘sông’  rồi).

 

Hắn từ chối tiết lộ chi tiết về vụ cướp có võ trang.

(không dùng ‘không chịu/không’từ chối’ đã có nghĩa ấy rồi, nói thêm còn bị hiểu lầm là hai ‘không’ thành ‘có’ nữa kìa).

 

Cho đến bây giờ, là người bản ngữ tiếng Việt, tôi vẫn thấy những điều “mà phải nói” đó có cái gì nghe không ổn, không tự nhiên, và khi nói thấy nó thiêu thiếu, ngường ngượng làm sao ấy.

 

Tôi cũng còn được nghe kể một câu chuyện dạy nói cho đúng văn phạm tiếng Anh như sau:

 

Một cô giáo dạy tiếng Anh đang giảng nghĩa thao thao bất tuyệt, với đầy tự tin trong một lớp học Anh văn (chắc là bên Huê kì): 

 

“Khi mình đến gõ cửa nhà ai, mà trong nhà họ hỏi vọng ra: Who’s that? Thì mình phải trả lời là: It’s I nghĩa là It’s I (am), bởi vì tiếng La-tinh họ nói/viết như thế, chứ  không được nói là It’s me!. Không ngờ khi vừa giảng xong thì có tiếng gõ cửa phòng học, cô giáo cất tiếng hỏi: Who’s that? Thì  được nghe ngay câu trả lời It’s me.” [3]

 

2.                  Ngữ học miêu tả (descriptive linguistics): Quan sát, mô tả sự kiện ngôn ngữ được người bản ngữ sử dụng trong thực tế, rồi lập thành định luật, cho dù có hợp lôgích hay không. Văn phạm loại này, hay mới đây còn gọi là ngữ pháp, thật ra cũng được thiết lập dựa vào những sự miêu tả đó mà ra.

 

Ngữ pháp được định nghĩa là:  1. “Hệ thống những phương thức và quy tắc cấu tạo từ, cấu tạo câu trong một ngôn ngữ; 2. Những quy tắc cần theo để nói và viết cho đúng một ngôn ngữ (nói tổng quát)  (Từ Điển Tiếng Việt, Hoàng Phê, Viện Ngôn Ngữ Học, NXB Đà Nẵng, HàNội, 2005). 

 

Cụm từ “nói tổng quát” trong định nghĩa 2. là điều đáng lưu ý. Theo tôi, nó bao hàm ý nghĩa “cho dù dựa theo quy tắc ngữ pháp để nói đúng và viết đúng một ngôn ngữ, nhưng vẫn chưa chắc đó là lối nói lối viết của người bản ngữ. Ví dụ, người Việt chúng ta nói: Tôi gội đầu mỗi ngày.  Nếu một ông Úc nói đúng ngữ pháp (Chủ ngữ-Vị ngữ) tiếng Việt “Tôi giặt/rửa tóc mỗi ngày”* (‘I wash my hair everyday’), thì cũng vẫn phải kể là ông nói sai tiếng Việt vì phạm lỗi kết hợp ngữ (collocational mismatches). Cái khác biệt là ở chỗ Ta thì “gội đầu” còn Tây thì “giặt/rửa tóc”.

 

Chúng ta ai cũng đã nghe nói đến những quy tắc cấu tạo từ đơn, từ kép, từ trùng điệp, lấp láy, trật tự của từ …vân vân… hoặc quy tắc cấu tạo câu khẳng định, phủ định, nghi vấn…vân vân…[4]  Tôi xin khỏi nhắc lại chi tiết ở đây, mà chỉ ôn lại môt điều là trong lúc thiết lập nên qui tắc cho câu phủ định trong tiếng Việt thì phải dùng các phủ định từ như không, chẳng, chả, đặt trước động từ dùng trong những câu khẳng/xác định để đổi chúng thành câu phủ định như:

 

Tôi không/chẳng/chả thèm đến nhà nó nữa.

 

Tôi không nhớ là những phủ định từ đếch, đéo, đâu có/nào có cũng được dùng dạy trong sách vở văn phạm để tạo những câu phủ định hay không?  Ví dụ:

 

Thằng này đếch/đéo cần tiền bố thí của anh.

Tôi đâu có/nào có gặp được mặt nàng

 

Tôi còn thắc mắc là trong sách văn phạm tiếng Việt từ ngữ   có được dùng như một phủ định từ chưa?  Và nếu chưa thì tại sao?  Ví dụ:

 

Chị thiếu tiền  (nghĩa là ‘Chị không thiếu tiền’).

 

Khác biệt ở đây là từ đứng sau động tự, thay vì phủ định từ thường đứng trước. Ấy là chưa kể trường họp chúng ta còn nói: 

 

Chị không thiếu tiền.

 

Cả không lẫn đi chung với nhau nhưng ngăn cách bởi động từ thiếu. [5]

           

Ngôn ngữ, theo chỗ tôi biết, không được xây dựng trên lôgích.  Trong cùng một ngôn ngữ, cái được kể là lô-gích ở chỗ này lại không được kể là lô-gích ở chỗ khác. Trong hai ngôn ngữ khác nhau, cái được kể là lô-gích trong ngôn ngữ này lại không được kể là lô-gích ở ngôn ngữ kia [6].

 

Cái vô lí của tiếng Việt ta là:

 

Tôi đánh thắng thằng cha ấy (nghĩa là ‘tôi thắng’)

Tôi đánh thua thằng cha ấy (nghĩa là ‘tôi thua’)

Tôi đánh bại thằng cha ấy (nghĩa là ‘tôi thắng’)

 

Mặc dù ‘thua’ đồng nghĩa với ‘bại’, nhưng ‘đánh thua ai’  khác nghĩa với ‘đánh bại ai’, [7].

 

Cái vô lí đến độ sai cả nghĩa mà vẫn dùng như thường:

 

Sáng nay tôi phải đưa cháu đi khám bác sĩ.

 

Nếu muốn bắt bẻ thì bảo: “Cháu đâu có khám bác sĩ, mà cháu sẽ được đưa đi cho bác sĩ khám bệnh”. Như thế mới là đúng lôgích chứ.

 

Trong tiếng Anh họ có cái vô lí, không lôgích của họ: I couldn’t care less (‘Tôi đã không thể quan tâm ít hơn được’; nghĩa là ‘tôi có quan tâm’) mà lại có nghĩa là  I don’t care at all (‘Tôi đếch quan tâm’, ‘Tôi không cần/quan tâm’); hoặc câu:

 

You can’t have your cake and eat it too.

(Tạm dịch: ‘Bạn không thể đã có được cái bánh rồi mà lại còn ăn cái bánh đó nữa!’). 

 

Tức là chỉ được hưởng một cái, một thứ thôi, không được tham lam. Liệu như thế có tương đương với thành ngữ “Được voi đòi tiên” của chúng ta chăng?  Tuy rằng thành ngữ của chúng ta cũng chẳng hợp lí gì cho cam khi đem so sánh ‘voi’ với ‘tiên’.

 

Theo người Việt mình thì có được “cái bánh” (“bánh ngọt” nữa là đằng khác), mà lại không được ăn là làm sao? Từ chuyện “có được” đến chuyện “ăn/đớp” là quá trình tự nhiên rồi!  Vậy thì, cái lôgích của ông Ăng-lê này nằm ở đâu?

 

Cũng một chuyện tương tự, mà chính tôi chỉ nhận ra trong lúc dạy học tiếng Việt cho sinh viên Úc, cách đây đã hơn hai thập kỉ, tại Đại học nay có tên là University of Western Sydney:

 

Với thành ngữ: Yêu chó chó liếm mặt mà tôi giảng nghĩa đen cho họ là: ‘If you love your dog, it will lick your face’ có nghĩa thành ngữ trong tiếng Anh là “Familiarity breeds contempt” (‘Quen thuộc quá hoá bị (kẻ dưới) coi thường, lờn mặt’), thì họ thấy khó hiểu, vì theo văn hoá, tư duy lôgích của họ là: “Nếu mình yêu con chó mình nuôi, con vật cưng chiều (‘pet’), thì tất nhiên nó đáp lại bằng cách liếm vào mặt mình (cử chỉ âu yếm).  Có gì là lạ đâu?” 

 

Nhưng mà Quí vị, Quí bạn ơi!  Họ làm sao mà biết được chó Việt Nam được nuôi cho ăn những gì! Vậy thì, ta có thể nói (nhái lại một câu nói nhận xét về ‘chân lí’) trong ngôn ngữ: “Lôgích bên này dãy núi Pyrénées khác với lôgích bên kia dãy núi Pyrénées” được chăng?

 

Thật ra tôi còn muốn nói thêm ba điều, bẩy chuyện nữa về tính động/tĩnh (dynamic/static), kết hợp ngữ/từ (collocation)[8], phép kết hợp nghịch lí (oxymoron)[9]  trong ngôn ngữ để góp ý cùng Quí vị về tính cách đa dạng, tưởng vậy mà không phải vậy, của ngôn ngữ với hi vọng chúng ta sẽ bớt đi được thái độ của những người theo chủ nghĩa thuần khiết (purists) trong ngôn ngữ.  Nhưng thôi, bài viết đã khá dài, xin hẹn Quí độc giả một dịp khác.

 

Nhân dịp đầu Xuân Bính Tuất, tôi xin mượn câu chuyện của một danh hài người Úc (Đại Hại) gốc Việt đã kể trong một ‘sô’ trình diễn của anh như sau: 

 

 “In Australian restaurants, a sign says ‘Dogs are not allowed!’, but in Vietnamese restaurants, there’s a sign that says:  “Dogs are not allowed to leave!” 

 

Tiệm ăn ở Úc cấm khách hàng dắt chó vào tiệm.  Tiệm ăn ở Việt Nam cho phép dẫn chó vào tiệm, nhưng khi đã vào tiệm rồi thì chó, cũng như chim, “biết thuở nào ra?”, vì  lỗi của chó nặng hơn, kếch sù hơn, thịt của chó ngon hơn!

 

Trịnh Nhật

Sydney, Tháng 2, 2006


 

Tài liệu tham khảo:

 

[1]  Finegan, E., N. Besnier, D. Blair, and P. Collins,  Language: Its Structure and Use, Harcourt Brace Jovanovich, 1992)

[2] Dinnen, Francis P.  An Introductory to Linguistics, Georgetown University Press, Washington, 1967.

[3] Hall, Robert A., Jr. Leave your Language Alone! Ithaca. New York, Linguistica, 1950.  Tái bản là Linguistics and Your Language. New York: Doubleday & Company, Inc., 1960.

[4] Lê Văn Lý. Sơ thảo Ngữ pháp tiếng Việt, Sài Gòn, Trung Tâm Học Liệu, 1968.

[5] Nguyễn Đình Hoà. Vietnamese (Tiếng Việt không son phấn). Amsterdam: John Benjamins, 1997.

[6] Crystal, David. Who Cares About English Usage? Middlesex: Penguin Books, 1984

[7] Lê Anh Tuấn. “Tiếng Việt-Tiếng Mỹ Rắc Rối”. www.khoahoc.net, 10.11.2005.

[8] Trinh, Frank N. “English and Vietnamese Collocations: A Contrastive Analysis” (PhD thesis), Macquarie University, 2002.

[9] Hà Sĩ Phu.  “Sức nén của ngôn từ”. < talawas.de >  9.11.2004.

 

 Trở về Trang Chính