Anh Ngữ Học Mà Vui:

Thủ tục đầu tiên



 

 LTS. Bài học Anh ngữ nói chung chủ yếu là bàn về tiếng Anh thời sự, đã đọc được trên báo chí, nghe được trên đài phát thanh truyền hình, với các độc giả trong tinh thần “Tôi học, Anh học, Chị học, Em học, Chúng ta cùng học!”.  Các từ vựng, đoản ngữ, tục ngữ, thành ngữ, châm ngôn... tiếng Anh, tiếng Việt sẽ được lồng vào những mẩu chuyện vui, cà kê dê ngỗng, cốt là giúp cho người học dễ nhớ, vui mà học được. Những lời bàn tán ở đây nhất định không thể được coi là những lời “thánh phán”, mà các độc giả, tất nhiên có những người biết chuyện, sẽ được mời đóng góp ý kiến của mình hoặc đặt câu hỏi để chúng ta có dịp cùng nhau tìm hiểu, đồng thời chia xẻ niềm vui chung là học hỏi lẫn nhau. Bài học còn có thêm phần liệt kê những kết hợp ngữ (collocations) trong tiếng Anh, tiếng Việt để người học tham khảo.

 

Thủ tục đầu tiên

Qua một vài bài viết trước đây, tôi nhận được hai í kiến phản hồi, thuộc loại “ủng hộ gà nhà”, “chị hát em khen hay”, một từ Đan Mạch và một từ Hoa Kì.

Phản hồi số 1 đã tóm gọn:

“Cám ơn bài viết rất hấp dẫn của anh. Anh có cái dí dỏm trong lời văn của mình, là điểm mà độc giả rất yêu thích. Bài viết của anh khi nào cũng thực dụng lại vui vẻ, hóm hỉnh, thì bà con đọc bài của anh coi như ‘chết bỏ’. Uyên Hạnh.

Với bút hiệu Uyên Hạnh, chị chính là người đẹp Đoàn Thị Đoan Trang (nhà thơ, nhà văn, nhà giáo) gốc Huế, cư ngụ tại Đan Mạch (Denmark), một trong những thành viên nòng cốt (one of the key members) trong Ban Biên Tập (editorial staff) của Trang Mạng (Home Page) www.khoahoc.net bên Đức (Germany), mà tôi đã đóng góp bài viết từ hai năm nay. Cám ơn chị đã cho biết bà con độc giả sẵn sàng “chết bỏ” (= đến chết thì thôi/chết cũng cam/đành lòng), nhưng còn cá nhân chị thì sao? “Chết” hay “bỏ”?

Phản hồi số 2 nguyên văn:

“Hi Gs Trịnh Nhật. Đã nhận được bài số 25. Vui lắm. Hơn tuần nay tôi cũng coi tennis ‘mệt nghỉ’. Về chuyện Giáo Lý Phật, tôi không hiểu "Nhân đế" có đúng hay không? Lâu nay tôi chỉ đọc thấy Tứ Diệu Đế (hay Tứ Thanh Đế) là Khổ, Tập (như Tập Luyện, Tập Tành), Diệt và Đạo. Many thanks. Ân”

 

Kí giả/Phát thanh viên Thiên Ân (God’s blessings) là đồng nghiệp cũ (former colleague) của tôi tại BBC Luân Đôn, vào những năm đầu thập niên 80, nay anh cư ngụ tại Oklahoma, Hoa Kì. Tôi nghĩ anh thích bài tôi viết, có lẽ chủ yếu là do anh đọc câu chuyện vui (joke) về chiếc vợt ‘tennis’: “What goes around comes around” (gieo nhân nào, hái quả nấy), và bài thơ tự trào “Sân cỏ quần hùng”. Anh coi ‘US Open Tennis Championships’ ‘mệt nghỉ’  là điều tôi hiểu được, vì đã có thời kì anh lo “Tạp chí Thể thao” (Sports Magazine) hàng tuần của Chương Trình Việt Ngữ Đài BBC phát về Việt Nam. Lanh lợi, hấp dẫn, lưu loát không kém gì cố kí giả/phóng viên thể thao Huyền Vũ tường thuật đá banh (soccer). Đẹp trai, trẻ trai hơn (ông Huyền Vũ thôi), và còn sinh tiền (= sống) là cái chắc. Về chuyện chính danh của Tứ Diệu Đế hay Tứ Thanh Đế (The Four Noble Truths), tôi đã đọc thấy cả hai, còn “Tập” thay vì “Nhân đế” thì tôi xin “dựa cột mà nghe”. Có điều sách tôi tham khảo là: Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, của Trần Ngọc Thêm (Phó Giáo sư Tiến sĩ, du học ở Nga cơ đấy), NXB TP. Hồ Chí Minh, 1996 và The Art of Living: A guide to contentment, joy and fulfillment (Nghệ thuật sống: Sách chỉ dẫn cách sống sao cho được mãn nguyện, hân hoan, và trọn vẹn), của His Holiness the Dalai Lama, HarperCollins Publishers, 2001, nên cũng không đến nỗi nào.

Từ nhiều năm nay tôi đã nguyện với mình là ‘gạt hết ưu phiền để sống vui”,  theo như lời khuyên của Đức Đạt-La Lạt-Ma (His Holiness the Dalai Lama), Giáo chủ Phật giáo Tây Tạng:

 

“Tôi tin rằng mục đích chính yếu (the very purpose) của cuộc sống chúng ta là tìm hạnh phúc (to seek happiness). Điều đó thật rõ ràng. Cho dù ta có niềm tin tôn giáo hay không (whether one believes in religion or not), cho dù ta tin vào tôn giáo này hoặc tôn giáo khác, chúng ta đều đang đi tìm một cái gì tốt đẹp hơn trong đời (something better in life). Cho nên, tôi nghĩ, cái chuyển động chính (the very motion) của cuộc sống chúng ta là tiến đến hạnh phúc… Và hạnh phúc có thể đạt được qua việc tập luyện cả tâm lẫn trí (heart and mind)…Bằng cách tạo dựng một kỉ luật nội tâm nào đó (a certain inner discipline), chúng ta có thể biến đổi được thái độ (attitude) và lối sống (approach to life) của mình.”

 

Không còn nghi ngờ gì là tôi đã và đang luyện tập “cả tâm lẫn trí” để kiếm tìm hạnh phúc, bởi vì nói chung không phải “một sớm một chiều” (overnight) mà có được hạnh phúc. Tôi đã trải nghiệm thấy mình có thể đổi tiêu cực thành tích cực, đổi chuyện buồn thành vui, bi quan thành lạc quan. Hạnh phúc: được hay không tìm được là đều do mình suy nghĩ, đều do ở trong đầu mình (happiness is all in your mind). Chuyện “sinh (birth), lão (aging), bệnh (sickness), tử (death)”, theo như Phật dạy, có thể chỉ nên coi như chuyện tự nhiên trong trời đất.

Trong tinh thần ấy, tôi mới viết vài dòng “meo”(email) “chia buồn”, sau khi nghe tin một chị bạn trong Nhóm Đi Bụi(Bushwalkers’ Club)
 của chúng tôi mất Mẹ, không bao lâu sau ngày Lễ Vu Lan. Cụ Bà 90 tuổi thân sinh của chị đã “thanh thản” đi vào cõi vĩnh hằng, sau một
 thời gian dài lâm bệnh: 
“Gửi Loan Mắt Nhung. Ngồi bên nhà cháu Phước [cách tệ xá (my humble abode) chừng 3 phút lái xe], ăn bún măng vịt, uống nước
 trà,  ăn bánh nướng Trung Thu (moon cake), và nghe chương trình phát thanh Việt Ngữ tối Chủ Nhật của SBS Radio Melbourne, 
có Nguyễn Đình Toàn nói về nhạc sĩ Y Vân. Được nghe một số bài hát, đa số là điệu "rumba", trong đó có bài “Thôi em đừng khóc
 nữa làm gì!”, sau đó là bài “Lòng Mẹ”, điệu “slow” (xi`-lô), thấm thía ơi là thấm thía. Chợt nhớ tới Kim Loan [Golden Phoenix (GP)] 
liền gọi điện thoại nhà, điện thoại "mobile"[bên Mĩ gọi là ‘cell phone’] để chia sẻ (chia sẻ cái gì Bố ai mà biết được?), mà không có 
điện thoại nào trả lời. Buồn 5 phút! Khóc ít thôi nhe LMN, kẻo mắt mờ, ướt thẫm mi em…MTS.” 
 
Cụ Bà Phương Thể Vân, đã chọn giữa đỉnh cao Hội nghị APEC, giữa dư âm giọng hát ‘tenor’ (giọng kim) cao vút của LucianoPavarotti 
mà đi. Tôi nghĩ tang quyến của Cụ có lí do mãn nguyện là ở chỗ đó.
 
Trở lại với Thiên Ân và chuyện ‘tennis’ Đại Giải (Grand Slam) Vô địch Mở rộng Hoa Kì (US Open Championships). Thiên Ân coi tennis 
“mệt nghỉ” [= mệt mà không nghỉ (coi hoài)], còn tôi xem tennis “mệt ngủ” (= mệt thì ngủ), vì ở Sydney tôi thường xem trực tiếp (live) 
vào đêm khuya. Tiếng Việt ta nó hay là ở chỗ đó: “nghỉ” hay “ngủ” đi với “mệt” trong trường hợp này không đồng nghĩa với nhau. 
Cũng nhân xem “tennis” mà tôi học được hai từ vốn đã cũ (old words/terms) nay được dùng trong ngữ cảnh mới (new context). Đó là từ 
“to challenge” (động từ) và từ “hawk- eye”(danh từ).
 
Theo Từ điển BBC English Dictionary thì: ‘to challenge’ được giảng nghĩa là: If you challenge ideas or people, you question their truth, 
value, or authority (Nếu mình ‘challenge’ í kiến/đề nghị gì của ai hay cá nhân người nào, mình “chất vấn” tính chất xác thực, giá trị hay 
thẩm quyền của í kiến/đề nghị đó, của người đó). 
 
Còn “Hawk-Eye” (danh từ) thì vẫn chưa thấy có trong từ điển tiếng Anh, kể cả từ điển BBC English Dictionary mà chỉ thấy từ “hawk-eyed”
 (tính từ), được giảng nghĩa là: Someone who is hawk-eyed has very good eyesight and seems to see absolutely everything that is 
happening [Ai  mà “hawk-eyed” thì họ có thị lực rất/vô cùng tốt (=  thật tinh mắt) và không chừng có thể nhìn thấy từng li từng tí mọi chuyện
 đang xảy ra]. Cũng xin nói thêm ở đây “hawk” có nghĩa là “chim diều hâu”, “chim ưng”, nổi tiếng là có mắt nhìn rất tinh. 
 
Trong môn “tennis” (quần vợt) hiện thời người ta đã dùng “Hawk-Eye” để kiểm chứng/kiểm tra xem trái banh/quả bóng rơi/rớt trong sân/
trên lằn vạch kẻ (= In) hay ra ngoài sân/ngoài lằn vạch kẻ (= Out), khi đấu thủ (player) nghi ngờ trọng tài biên/trọng tài chính 
(linesman/chair umpire) trông lầm, nên đếm sai. “Hành động” đòi cho máy điện tử coi/duyệt lại (electronic review), tức là dùng “Hawk-Eye” 
quyết định kết quả “In” hay “Out”, được gọi là “challenge”. Vậy thì khi đấu thủ nói: “Challenge!”, ta có thể dịch trong ngữ cảnh tiếng Việt là:
 “Xin cho máy kiểm tra!”.
 
Mắt diều hâu điện tử này đã được chính thức áp dụng vào năm 2006, trong Đại Giải (Grand Slam) Vô địch Quần vợt Hoa Kì Mở rộng như 
được ghi nhận dưới đây:  
 
“In 2006 the US Open Tennis Championships became the first grand-slam event to use the system during play, allowing players to
 challenge line calls (cho phép đấu thủ ‘đòi máy kiểm tra lại’ quyết định đếm điểm của trọng tài).” 
 
Giải Quần vợt Hoa Kì Mở rộng, năm nay 2007, lại về tay Roger Federer, cây vợt số một hoàn vũ, người Thuỵ Sĩ, khi anh hạ Novak 
Djokovic, hạng 3 trên thế giới, người Serbia, trong 3 bàn trắng, nhưng thật gay go, với tỉ số 7-6, 7-6, 6-4.  Như thế, Federer đã thắng liên tục
 4 lần giải này. Về phía nữ thì Justine Hennin, cây vợt số 1 hoàn vũ, người Bỉ, đánh bại Svetlana Kuznetsova, xếp hạng  hạt nhân số 4 
(fourth-seeded), người Nga, với tỉ số 6-1, 6-3. Cô Hennin, 25 tuổi, thắng giải này lần thứ 2. Lần thứ nhất là năm 2003. 
Quí Vị, Quí Bạn ơi! Nói chuyện quần vợt, với tôi, thì “mệt nghỉ”. Bài học tuần này của chúng ta là “Thủ tục đầu tiên” cơ, cơ, cơ!!! Tại sao lại
 “đầu tiên?” Số là: Chuyến về Hà Nội năm 1991, lần đầu tiên sau 36 năm, lúc còn dạy tại Đại học Miền Tây Sydney, để dự Hội Nghị 
(Conference) về “Ngôn ngữ và Phát triển”,và trình bầy đề tài “Translation Practice in Australia: A Vietnamese Perspective”, tại Khách sạn 
nổi SàiGòn (Saigon Floating Hotel), tôi đã ghi lại đôi điều trong chuyến ra Hà-Nội như sau:
“When we passed through some residential areas, I saw at least three billboards advertising the virtues of Bún Chả Chó (Rice Vermicelli 
with Barbecued Dog Meat). Luckily, my Australian colleagues travelling with me on the bus didn't ask for a translation. A moment later, 
the tourist guide, Hoa, announced that we were about to come to the Long Bien Bridge over the Red River. The water of the river 
was described as having a reddish colour, but I didn't see it as such.
 
As we drove on I noticed that a lot of brick houses were being built. A popular spoonerism (nói lái) in Vietnamese [đầu tiên 
(the first thing) vs tiền đâu (where's the money?)] came suddenly to my mind. Rumours have it that in any dealing with government
 officials at all levels, to get anything done, the first thing one should ask oneself is whether one can afford (liệu có thể trả được) 
"under the table" payments (tiền trà nước/tiền hối lộ/tiền phong bì). When we arrived at the hotel, Viên, a solicitor friend from Sydney,
 who had recently arrived from Bangkok, was waiting for me. Quang, a cousin of mine, had left me a message with his telephone 
number at the hotel reception desk, I knew then he'd called with my sister Nhan as they were expecting me on the earlier flight.”
 (Trích trong  “Hanoi: My Fond Memories”, Frank Trinh, June 1991 , < vny2k.com > San Francisco)

Câu chuyện tôi kể dưới đây có trong một bối cảnh khác, là lúc tôi làm thông dịch ở bót/trạm cảnh sát (police station) cách đây ít lâu. Thông thường khi cảnh sát điều tra về số tiền mặt lớn (cash in excess) tìm thấy trong nhà, trong xe, hay trong người của một người bị câu lưu/ tạm bắt/tạm giam (arrested/in police custody) để lấy lời khai (take a statement) trước khi họ có thể truy tố người đó (lay charge against them/him/her) ra Toà, thì câu hỏi mà cảnh sát thường hỏi nghi can (suspect) là: “Where does the money come from?” (Tiền đó ở đâu ra vậy?). Câu trả lời của đối tượng bị tình nghi thường là:  “Đó là tiền hụi!” hay “Đó là tiền hốt hụi!”. thông dịch viên (interpreter), nếu không chuẩn bị trước, chúng ta có thể dễ bị lúng túng khi được cảnh sát yêu cầu giải thích về cái trò chơi văn hoá liên hệ đến tiền bạc loại này.

 

Thật ra, thì cảnh sát họ cũng có thể có những tài liệu, thông tin nói về “hụi”, nhưng họ có nhớ không, có sẵn để tham khảo không lại là một chuyện khác. Sở dĩ tôi nói thế là vì vào cuối Tháng Giêng và đầu Tháng Hai năm 1991, khi có cuộc Hội thảo Huấn luyện của Cảnh sát (Police Officers’ Training Workshop) về  Giao tiếp trong bối cảnh văn hoá khác biệt (Cross-cultural communication) tôi được mời nói chuyện tại Sydney Police Centre (Cơ Quan Trung Ương Cảnh sát Sydney) về văn hoá Việt Nam, trong đó tôi trình bày về ngôn ngữ không lời (non-verbal communication/body language) và về Chơi Hụi/Chơi Họ (The ‘Hui’ Scheme). Luật sư Trần Hữu Trung, hiện viết Trang “Pháp Luật Giải Đáp”, cho tuần báo Dân Việt, có thể chứng giám cho tôi là “nói sự thật” vì hồi ấy ông còn làm nhân viên liên lạc của cảnh sát (police liaison officer) tại Đồn Cảnh sát Cabramatta.

 

Chuyện ngôn ngữ không lời tôi xin được hẹn lại một dịp khác, bài học tuần này tôi xin bàn về chuyện Chơi Hụi/Chơi Họ mà tôi đã trình bầy tại cuộc Hội thảo của Cảnh sát cách nay đã hơn 15 năm, lâu hơn quãng đời “đoạn trường” của nàng Kiều: 

 

The "Hui" Scheme

Translators have used terms such as "money club", "money game", "mutual loan club", "Chinese banking" or "common fund plan" to translate "hui".  The loan-word "tontine" from French is also used.  However, the French term in this context does not appear to have the idea of 'life expectancy' or 'survival' as the English word "tontine" does.

"Hui" or tontine is a very convenient scheme for raising capital (gây vốn) and saving money (tiết kiệm/để dành tiền).  In the olden days, when the Vietnamese banking system was still something new and under-developed, "hui" was quite popular with the common people.  Even after arriving in Australia, where the banks usually have loan requirements (nhu cầu/đòi hỏi để cho vay tiền) and borrowing procedures (thủ tục vay mượn tiền) that are difficult to comply with (khó mà theo được), Vietnamese refugees (người tị nạn Việt Nam) have continued to favour this common fund plan (môn chơi hụi/quỹ chung này).

Indeed, not only businessmen (doanh gia) but wage-earners (người kiếm lương tuần) often subscribe to this scheme (chơi kiểu hụi/kế hoạch này), buying one or more than one tontine share (phần hụi). Thanks to this capital-raising device, many people have been able to launch new business ventures and others have been able to solve urgent financial problems (giải quyết khó khăn khẩn cấp về tiền bạc).  But it has also reduced many to tears (làm nhiều người khóc hận) after all of their savings (tiền dành dụm của mình) had gone straight into a swindler's pocket (túi của tên lừa đảo/bịp bợm). In Australia, tontine is not recognized as a legitimate common fund plan (không được coi là kế hoạch gây quỹ hợp pháp) and victims of fraudulent devices (nạn nhân của trò gian lận/lừa lọc) are not likely to be protected by the law (không chắc/không có cơ may được luật pháp bảo vệ).

Let's see how this scheme operates (kế hoạch chơi hụi này hoạt động ra sao).  For clarity's sake (để cho đuợc rõ ràng/dể hiểu), I would like to divide (chia) the scheme into three phases (3 giai đoạn) depending on (tuỳ theo) who will benefit (sẽ được hưởng lợi) from this scheme at each phase.

Phase 1:          The "Hui" Master Phase (Giai đoạn Chủ hụi thâu hụi)

[For the benefit of the "hui" master]

A. The First Month (Tháng Đầu tiên)

1.         The "hui" master starts his or her scheme by inviting family and friends (mời người trong gia đình và bạn bè) to subscribe to it (e.g. 12 subscribers (hụi viên).

2.         He/she issues a "contract" (hợp đồng) specifying:

            (i)         the nominal value of each share, say $500

            (ii)        names of shareholders (cố đông/con hụi)

            (iii)       the times and dates for monthly meetings (e.g. over a 12-month period)

            (iv)       the master (chủ hụi) collects a share from each subscriber (hụi viên)
                        (e.g. $500 x 12 =  $6,000).

            (v)        the master then has an interest free lump sum (trọn gói không phải trả lời/lãi), [including his or her own share: $6,000].

Phase 2:          The Bidder Phase (Giai đoạn hụi viên bỏ hụi)

[For the benefit of a subscriber who needs money at this stage]

B. The Second Month (Tháng Thứ Nhì)

1.         Attendance at this meeting would be the 3 or 4 subscribers who need money almost straight away (cần tiền liền).

2.         They then cast a secret ballot (bỏ hụi kín), each offering an amount of interest (đề nghị món tiền trả lời/lãi) [e.g. $48, $46, $50].

3.         The person who offers the highest bid (đề nghị bỏ giá cao nhất) [$50] is the successful bidder (người hốt được hụi).

4.         The master then collects a full share (trọn phần tiền đóng hụi) less the amount of interest (trừ tiền lời/lãi) from each subscriber [11 x ($500 - $50) = $4,950], and adds to this amount (cộng thêm vào số tiền này) his/her full share of $500 to make a total of $5,450.

5.         The master then hands this sum (đưa số tiền này) to the successful bidder.

6.         As from the third month (tháng thứ ba) the successful bidder (người hốt được hụi) begins contributing $500 per month until the scheme finishes (hụi chấm dứt/hết).

Phase 3:          The Non-bidder Phase (Giai đoạn của hụi viên không bỏ hụi)

[For the benefit of subscribers who don't need money urgently (không cần tiền gấp) and just want a saving scheme (chỉ muốn để dành/tiết kiệm tiền)]

C. The Last Month (Tháng Cuối Cùng)

1.         The last non-bidding shareholder is the beneficiary of all non-bidding shares (người được hưởng tất cả những phần tiền không bỏ hụi).

2.         He/she has been contributing a monthly payment which is $500 less the bid for each month, except for the first month and the last month.

3.         Finally he/she receives an amount of $6,000.  His/her interest is the sum total of all monthly bids (Tiền lời của họ là tổng cộng số tiền của những người bỏ hụi hàng tháng).

 

Trong mười mấy năm qua cộng đồng tị nạn Việt Nam ở Sydney đã kinh qua (experienced) ít ra là 3 vụ giựt hụi. Gần đây nhất là một vụ gây xôn xao như rừng gặp bão, nghe nói lên đến 9 triệu đô Úc. Nghĩ cho cùng, nguyên nhân là do “lòng tham” (greed). Lòng tham của chủ hụi [muốn ‘ẵm đi’ (abscond) một món tiền ‘kếch xù’], lòng tham của con hụi [muốn ‘ngồi mát ăn bát vàng’, được ‘mớm’ lãnh tiền lời ‘khẩm’ một vài tháng]. Nguyên nhân cũng là do “lòng tin bị lợi dụng.”

 

Quí Vị, Quí Bạn thân thương ơi! Tôi  không hoàn toàn tin “[luật pháp (law) là công lí (justice)]”. Tôi cũng không hoàn toàn tin là có sự ‘quả báo nhãn tiền’ trên đời này. Ở đây, và trong trường hợp này, tôi chỉ có thể kết luận là “khôn sống mống chết” mà thôi!

 

Trịnh Nhật

Sydney, 12.9.2007

 

Kết hợp ngữ
(Collocations)

procedure noun
thủ tục, thể thức

·        ADJ complex, complicated rắc rối, phức tạp, nhiêu khê | simple giản dị, dễ hiểu straightforward không khúc mắc, đâu ra đó | correct đúng, normal thông thường, proper, đúng đắn, chính xác standard tiêu chuẩn, chuẩn mực usual thông thường There are standard procedures for dismissing staff. | agreed, established được đồng thuận, chấp thuận, đồng í, ấn định | special đặc biệt | administrative hành chánh, appeals kháng cáo, application áp dụng, assessment đánh giá, complaints khiếu tố, khiếu nại, court toà án, criminal hình sự, disciplinary kỉ luật, emergency khẩn cấp, parliamentary quốc hội, safety an toàn, scientific khoa học, selection lựa chọn, surgical giải phẫu, phẫu thuật a minor surgical procedure

·        PROCEDURE + NOUN adopt, follow, use chấp thuận, áp dụng, theo, dùng Did you follow the emergency procedure when you heard the alarm? | establish ấn định, thiết lập A straightforward complaints procedure must be established from the outset.

·        PREP under a/the ~  theo under a procedure established by legislation | ~ for cho, về việc the correct procedure for hiring staff

master noun

1               người phụ trách, người cầm đầu

·        ADJ political chính trị His political masters are all old right-wing politicians.

·        PREP ~ of He wants to be master of his own destiny.

 

2              người thành thạo/có kĩ năng

·        ADJ acknowledged được công nhận/thừa nhận, great tài hoa, giỏi This portrait is the work of an acknowledged master.

·        MASTER + NOUN builder công nhân xây dựng/xây cất, craftsman thợ thủ công

·        PREP ~ of a master of disguise

·        PHRASE be a past master at/in/of sth rất giỏi/thành thạo/tinh tường về cái gì (= to be very good at sth) He's a past master at delaying meetings.

 

3          bằng Phó Tiến sĩ, bằng Cao học

·        VERB + MASTER'S do, study for, take học, lấy He did a Master's at Hull University. | get được, lãnh She got her Master's last year.

·        MASTER + NOUN degree bằng, bằng cấp

·        PREP ~ in a Master's in politics

 

 

 

Trở về Trang Chính