|
LTS. Mục “Tiếng Anh Tiếng Em” nhằm tạo cơ hội cho độc giả nâng
cao trình độ Anh ngữ qua những mẩu chuyện tiếu lâm, mẩu tin vui
cười viết bằng tiếng Anh hay tiếng Việt liên quan đến tình yêu,
hôn nhân, thời trang, văn nghệ, giải trí, du lịch v.v… Độc giả
thường khi sẽ được hướng dẫn về mặt ngôn ngữ và văn hoá Anh-Úc,
Việt để có thể thưởng thức những điều mình đọc tới mức tối đa.
Nói dối như Cuội
Câu chuyện về dịch bài
thơ“Quả Mít” của Hồ Xuân Hương trong bài viết “Cuốn theo chiều
gió” xem ra vẫn chưa đi vào quên lãng, tiếng vang vọng của lời
thơ và ấn tượng của hình ảnh khiến cho một thân hữu trong Nhóm
“The Gang of Five” [= Nhóm Ngũ Nhân Bang (bạn nhậu ở Burwood,
Sydney)] của chúng tôi ở Sydney đã lên tiếng:
“Dear Sunny Trinh! Đọc thơ
Hồ Xuân Hương thấy mình trẻ hẳn ra, già hẳn lên, bèn muốn giúp ý
kiến về dịch sang tiếng Anh. Nghĩ thế nào cũng không thể bao hàm
được hết ý nghĩa của nhà thơ bất hủ này. Xin được dịch lẩm cẩm
như sau:
My body is just like
jackfruit in its tree,
My skin is rough, my flesh’s plenty,
Noble man, if loving me, drive your peg,
But don’t touch, sap sticks on hands, for goodness sake.
Nếu thấy không được, làm
ơn xóa đi nhe. Người ta biết được thì xấu hổ lắm đấy! Thân,
Dzũng.” (ĐQ Dzũng, Sydney).
Sự dè dặt, rào trước đón
sau của anh Dũng có thể có cái lí do của nó: Anh là một kĩ sư,
cựu sinh viên Colombo Plan ở Úc từ đầu thập niên 1960, nghĩa là
thuộc phạm vi chuyên môn về kĩ thuật và khoa học. Nhưng anh cũng
còn thể hiện phần nào cái văn hóa Việt Nam nói chung là sự khiêm
tốn tự tại.
Tiện đây, tôi cũng xin
viết lại bản dịch của John Balaban để chúng ta có một cái nhìn
so sánh:
My body is like the
jackfruit on the branch:
my skin is coarse, my meat is thick.
Kind sir, if you love me, pierce me with your stick.
Caress me and sap will slicken your hands.
“If you are a gentleman
who loves me, please hammer a stake into me to ripen me quickly,
but don’t touch/caress me, otherwise the sap will stick to your
hands.”
Sau khi bàn bạc văn chương
với một bà giáo Úc, người gốc Hồng Mao thuộc loại “có chữ có
nghĩa” thánh hiền, tôi xin viết lại những nhận xét dưới đây:
The translation of John
Balaban is well done but as with all poetry the tone and the
rhythm of the voice projects the proper meaning. Thus a poem
just written down can convey a different message from what is
intended by the translator. The last line “Caress me and sap
will slicken your hands”, gives the meaning of enjoying the full
measure of sexual pleasure by experiencing the touch, the smell,
the “messiness” of sex, whereas it should have been written
“Caress me not, or sap will slicken your hands.”
[= Xin đừng mân mó nhựa ra tay = Chớ mó/rờ rẫm vào tôi, bằng
không thì nhựa ra tay đấy!]. This would have immediately denoted
the intended meaning. Also “flesh” would have been more poetic
than “meat”. The word “slicken” has been made up, but because
poetic licence has been used, it is a nice touch. The word
“coarse” (= xù xì) would not appeal to a Westerner reader, as a
woman’s skin is supposed to be soft, no matter what part of the
body it may happen to be. However often there is no absolute
equivalent that will please all, so the word “coarse” is perhaps
the only one that can be used.
The translation of my
friend Dzung Dinh does not give an indication that it is about
having sex with a woman until the third line of the poem. The
words “drive your peg” [= đóng cọc (“tent-peg” = cọc buộc lều)]
would have greater impact with the addition of the preposition
“in”; ie. “drive in your peg” or “drive your peg in.” If I
wanted to be factitious (= giả bộ ngây thơ) I might even think
he wants to have sex with a jackfruit.”
In my
prose piece, the reader is aware that it indirectly refers to
having sex with a woman from the very beginning. Maybe “hammer
your stake into me” would have given it even more sexual
innuendo (= nói bóng nói gió về chuyện ‘ấy’). However, it does
not refer to the jackfruit which I imagine was part of the
original poem. Those unfamiliar with the way of ripening a
jackfruit would not relate jackfruit ripening to this prose
about having sex.
Tưởng cũng xin mở dấu
ngoặc ở đây để giúp tôi cùng Quí Bạn ôn lại đôi điều về nữ sĩ Hồ
Xuân Hương qua lời kể của John Balaban:
“Ho Xuan Huong was born
at the end of the second Le Dynasty (1592-1788), a period of
calamity (= đầy tai ương) and social disintegration (= xã hội bị
phân tán/tan rã).
…The most surprising
fact is that the greater part of her poems--each a marvel in the
sonnet-like lu-shih style (= thể thơ thất ngôn tứ tuyệt)
— are double entendres [= (thơ/từ ngữ) có thể hiểu theo hai
nghĩa]: each has hidden within it another poem with sexual
meaning. In these poems we may be presented with a view of three
cliffs [= Đèo Ba Dọi (= Three-Mountain Pass)], or a limestone
grotto (= hang cắc cớ), or scenes of weaving (= dệt cửi) or
swinging (= đánh đu), or objects such as a fan (= cái quạt),
some fruit, or even a river snail (= con ốc) — but concealed
within almost all of her perfect lu-shih is a sexual
design that reveals itself by pun (= chơi chữ) and imagistic
double-take (= làm bộ ngây thơ cụ). No other poet dared this.
Sex, of course, is a forbidden topic (= đề tài cấm kị) in this
literary tradition.”
Quí Vị Quí Bạn ơi! Nói
chuyện về nữ thi sĩ họ Hồ như thế đã tạm đủ, đề tài câu chuyện
kì này là “Nói dối như Cuội” cơ, ơ, ơ!. Có lẽ là vì tiếng vang
vọng của Ngày (mồng 1 tháng Tư Dương lịch) “April Fools’ Day”
(cũng còn gọi “All Fools’ Day”) mà tôi đề cập đến lần trước. Về
việc dịch từ này, thì ít ra là có 2 cuốn từ điển Anh-Việt (của
Viện Ngôn Ngữ Học, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1993 và của Trần Kim Nở,
PhD, NXB Chính Trị Quốc Gia, 1993), đều gọi là “Ngày Nói Dối”.
Tôi đã đánh liều đặt tên cho Ngày đó là “Ngày Chọc Quê Thiên hạ”
hay “Ngày mồng 1 Tháng Tư tha hồ kể chuyện phịa.” Trước khi
chuyển bài lên mạng, tội nhận được lá điện thư (= email) với lời
lẽ như sau:
Chào anh Trịnh Nhật. Đã
nhận được bài viết của anh. Cám ơn anh nhiều. Đọc về đoạn “Cá
tháng Tư” hay “Poisson d’Avril”, tiếng Anh gọi là “April Fools’
Day”, được diễn nghĩa là “Ngày mồng 1 Tháng Tư tha hồ kể chuyện
phịa”, nghe rất vui.
Xin kể anh nghe, ở Đan
Mạch thì ngày nầy gọi là “Aprilsnar” nghĩa là đúng vào ngày 1
tháng 4 “toàn dân” Vương Quốc Đan Mạch tự do diễn trò “đại
xạo”, tha hồ trổ tài phịa chuyện cho người khác “lọt bẫy”. Tục
lệ nầy đã đem lại tiếng cười rộn rã trong gia đình cũng như tại
các công, tư sở rất thoải mái tinh thần. Coi như ngày đó nhiều
người được “uống 10 thang thuốc bổ”! Ngòai việc đem lại những nụ
cười thật thỏai mái cho bạn bè người thân, còn là cơ hội độc
đáo một năm có được một lần (bỏ qua uổng lắm!) để những người lỡ
dại “thầm yêu trộm nhớ” mà vì rụt rè không dám nói, bày tỏ được
tình yêu của mình. Ngày xưa là cơ hội để nàng tấn công chàng, vì
bình thường đàn ông tỏ tình với đàn bà (nhưng bây giờ mấy bà bạo
quá nên không tính đến chuyện nầy), thế nhưng vẫn có một số
chàng hay nàng “lòng ta ôm một khối tình” đã nhân ngày “đại xạo”
nầy liền lấy hết can đảm tỏ tình, nhất định không yêu đơn phương
nữa, mà không sợ bị mất mặt. Vì nếu bị đối phương từ chối mình
sẽ cười lớn (đã chuẩn bị tinh thần sẵn rồi để đóng tuồng cho ăn
khớp) và nói rằng: “hê hê.. hôm nay là Ngày 1 Tháng 4 đó mà!”.
Đối phương sẽ cùng cười xòa với mình và nói đại khái như sau
“trời đất, vậy mà tôi tưởng…” không biết ở Pháp, Úc và Mỹ…
người ta có làm như thế không. Chơi trò “tỏ tình cho vui” một
chút thôi, nhưng không ngờ nhiều người ở Đan Mạch sau ngày 1.4
đã bắt bồ với nhau đó.
(Uyên Hạnh, Đan Mạch).
Cám ơn chị Đoan Trang (=
Uyên Hạnh) đã cho thêm thông tin về “Ngày Ba xạo” ở quê hương
“xứ lạnh tình nồng” ấy. Tôi hi vọng ở Úc sẽ có người Úc da vàng
tỏ tình kiểu này vào Tháng Tư năm tới. Và như thế câu chuyện của
chị rồi “không chóng thì chầy” sẽ được “toàn cầu hoá”.
Quí Vị Quí Bạn ơi! Để dùng
làm ‘nền’ cho bài học tuần này tôi xin viết thêm về “Ngày chọc
quê” bằng tiếng Anh như sau:
April
Fools’ Day is also called All Fools’ Day and is always held on
the first day of April. The custom is to play practical jokes or
to send friends on fools’ errands. This has to be done before
midday as custom dictates. No one knows exactly from where it
originated, but it has been observed in many countries for many
centuries. Ancient Rome and India held festivals about the same
time, but its timing seems to be related to the vernal equinox
(March 21) when nature ‘fools’ mankind with sudden changes in
the weather.
On
April Fools’ Day people have an excuse to play fool. In France
the fooled person is called ‘Poisson d’Avril’ (= April Fish) but
the origin of this is unknown. It could relate to the way young
fish are easily caught at that time of the year. The custom was
taken to America from the United Kingdom and over the years some
hoaxes played out on April Fools’ Day have managed to fool whole
nations. One such hoax was played by Dick Smith, an Australian
entrepreneur and philanthropist, many years ago, when he
announced he was going to tow an iceberg from Antarctica to
Sydney Harbour to solve our water shortage at the time.
Lời bàn:
Nói
dối (tiếng Bắc), nói dóc, nói xạo, nói láo (tiếng Nam) cũng là
“to tell lies” trong tiếng Anh. Liên hệ đến chuyện nói dối,
trong văn hoá Việt Nam, chú Cuội là một nhân vật dân gian đã gây
được ấn tượng sâu đậm trong lòng mỗi người dân Việt.
Vì bố
mẹ mất sớm, Cuội được ông chú bà thím mang về nuôi nấng. Ngay từ
thuở nhỏ, chú đã có trí thông minh, hóm hỉnh và biết cách nói
dối tài tình. Đã nhiều phen Cuội lừa dối làm ông chú bà thím tức
lộn ruột mà không có cớ gì để đánh đuổi Cuội. Nhưng rốt cuộc thì
Cuội cũng bị chú bỏ rọ trôi sông vì can tội lừa dối, vô ơn, bạc
nghĩa. Nhờ tài nối dối, Cuội đã lừa được kẻ chui vào rọ chết
thay cho mình mà chẳng ai hay biết gì. Thế là Cuội thoát chết,
từ đây, phạm vi nói dối của Cuội vượt ra khỏi gia đình ra ngoài
xã hội. Với tài nói dối, nhanh nhảu, Cuội vẫn sống ung dung, và
đã có lúc làm cho bọn ham tiền, ưa sang trọng trở thành những
tên hề không hơn không kém trước người dân và trong xã hội.
Nhưng đáng tiếc thay, Cuội cũng không ít lần lừa dối những người
nghèo khổ, những người thân quen, thậm chí cả những người trong
gia đình thân thuộc của mình. Cuội là như thế. Hay nói dối và
nói dối cũng rất hay.
Thành
ngữ “nói dối như Cuội” cũng từ đó mà ra. Nhân vật Chú Cuội còn
có sự tích ngồi gốc cây đa trên cung trăng như trong ca dao: “
Bắc thang lên đến tận mây./Hỏi sao Cuội phải ấp cây cả đời?/Cuội
nghe hỏi thế Cuội cười./Bởi hay nói dối nên ngồi ấp cây.” [Trích
trong Kể chuyện Thành ngữ, Tục ngữ, Hoàng Văn Hành (Chủ
biên), Viện Ngôn Ngữ học, NXB Khoa học Xã hội, 1999].
Có
một chuyện “thật”, không dối, không phịa là sau bài “Tiếng Anh
tiếng Em” này, chỉ còn một bài nữa (bài số 10) là tôi xin phép
độc giả được khoảng 3 tháng khỏi phải ngồi ấp cây Dân Việt,
để còn đi đây đi đó. Đa tạ.
Trịnh Nhật, PhD
Sydney, 30.4.2008
Chú thích từ vựng
1) to play
practical jokes = chơi trò “đểu”, trò xỏ (mọi người).
2) to send friends
on fools’ errands = lừa dối người để họ làm những việc
rồ dại, khùng điên.
3) as custom
dictates = theo như là tục lệ/phong tục/truyền thống
vậy.
4) no one knows
exactly from where it originated = không ai biết chắc
chắn/rõ là nó bắt nguồn từ đâu.
5) to hold
festivals = tổ chức các lễ hội.
6) its timing seems
to be related to = thời điểm của nó (ngày đó) hình như
có liên hệ đến.
7) the vernal
equinox = ngày xuân phân, ngày và đêm dài bằng nhau.
8) nature ‘fools’
mankind with sudden changes in the weather = thời tiết
thay đổi liên hồi làm người ta loạn cả lên.
9) people have an
excuse to play fool = vào ngày này không ai bị chê trách
nếu có hành động khùng điên/rồ dại/hâm.
10) the origin of
this is unknown = gốc tích/nguồn gốc của chuyện này/sự
tích này không ai biết rõ.
11) the fooled
person (= April fool) = người bị chọc quê; nạn
nhân của chuyện nói dối/chuyện phịa.
12) the United
Kingdom = Vương Quốc Anh.
13) some hoaxes
= một vài trò chơi xỏ.
14) an Australian
entrepreneur and philanthropist = nhà kinh doanh/doanh
thương/doanh nghiệp và người từ tâm của Úc.
15) to tow an
iceberg from Antarctica to Sydney Harbour = kéo tảng
băng khổng lồ/núi băng trôi từ Nam Cực về Hải Cảng Sydney.
16) to solve our
water shortage at the time = giải quyết nạn thiếu nước
vào lúc đó.
17) một nhân vật
dân gian = a character from folk-lore.
18) bố mẹ mất sớm
= (his) parents die young.
19) thông minh, hóm
hỉnh = intelligent and mischievous.
20) biết cách nói
dối tài tình = to be clever at telling lies.
21) đã nhiều phen
Cuội lừa dối làm ông chú bà thím tức lộn ruột = many a
time he played tricks on his Uncle and Aunty which
infuriated them.
22) không có cớ gì
để đánh đuổi chú = no gơd reason to throw him out of the
home.
23) (bị) bỏ rọ trôi
sông vì can tội lừa dối = (was) put into a fishpot and
set upon the river because of his deceitfulness.
24) đã lừa được kẻ
chui vào rọ chết thay cho mình = managed to trick
someone else into taking his place in the fishpot.
25) thoát chết
= to escape death.
26) tật nói dối của
Cuội vượt ra khỏi gia đình ra ngoài xã hội = his habit
of telling lies went far beyond family bounderies and into
society.
27) Cuội vẫn sống
ung dung = Cuội was able to live without a care.
28) bọn ham tiền
= hoardes of greedy people.
29) trông như những
tên hề = to look like fools.
30) nói dối như
Cuội = to tell lies like Cuội.
31) sự tích =
story; legend.
31) ngồi gốc cây đa
= to sit at the foot of a banyan tree.
32) bắc thang lên
đến tận mây = to erect a stairway to Heaven.
33) ca dao =
folk verses.
Trở về Trang Chính
|