|
Khi nói về chuyện viết văn ở hải ngoại trên Tập san Việt, số 2, 1998, nhà phê
bình văn học Nguyễn Hưng Quốc (nay cũng là Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Tuấn thuộc Viện
Đại học Victoria University of Technology, Úc-đại-lợi) đã viết: “…đăng một
bài viết trên báo hay in một cuốn sách, nhiều lúc ngỡ chừng như nói vào ống điện
thoại chưa nối đường dây. Lặng ngắt. Không nghe gì cả, kể cả một lời chê, một
tiếng chửi, cũng không có. Hoàn toàn lặng ngắt.”
Niềm ao ước của người viết văn, làm báo mong có được một cuộc đối thoại, dù đối
thoại ra sao đi nữa, quả có chiều thiết tha. Sau bài “Anh Ngữ Học Mà Vui”
(‘Learning English can be fun’) Số 1, tôi nhận được ngay bốn (5) phản
hồi, trong đó có 3 viết bằng tiếng Anh, và 2 viết bằng tiếng Việt. Xin mạn phép
ghi lại những phản hồi theo thứ tự thời gian như sau:
“Chú ạ!
Cháu đã đọc bài viết chú gửi cho cháu . Ở bài viết này cháu thấy không phải chỉ
là một bài học mang tính giáo dục cao mà còn mang tính giải trí và thời sự. Bởi
vì khi đọc bài người đọc có ấn tượng hơn bởi các từ rất gần gũi và thường dùng
trong văn nói và văn viết mà lại đúng nơi đúng lúc. Hơn nữa lại kèm vào những
câu chuyện vui, thú vị. Chính điều này giúp người học dễ tiếp thu, dễ nhớ mà
lâu quên. Hơn nữa cuối bài chú lại đưa những cụm từ "kết hợp ngữ" càng mở rộng
hơn vốn kiến thức cho người học hơn là đọc một cuốn từ điển. Các cuốn sách viết
về kết hợp ngữ cũng có nhưng để đưa người đọc đến cái hay của tiếng Anh trong
"kết hợp ngữ" thì cháu thấy cách học này rất có hiệu quả. Tuy nhiên đòi hỏi ở
người biên soạn bài học phải có óc hài hước, kiến thức từ và ngữ sâu, kiến thức
xã hội rộng. Vì vậy cháu nghĩ nếu có thể có được một giáo trình học như thế này
thì thật hứng thú và bổ ích. Cháu đọc và cảm nhận một vài ý kiến như vậy, chú
ạ.” (Lưu thị Kim Hoa, Đại học Kinh tế Quốc Dân,
Hà-Nội)
Kim Hoa, 25
tuổi, người gốc Hải-Phòng, hiện đang học bồi dưỡng về tin học (Information
Technology) ở Hà-Nội. Bố cháu là anh họ của tôi và chúng tôi đã có một thời
gian ở chung nhà tại Hải-Phòng vào đầu thập niên 1950, khi anh được Bố tôi nuôi
ăn học. Hi vọng lời “nói tốt” của cháu không phải là trường hợp “Mẹ hát con khen
hay”. Sau phản hồi của cháu, tôi nhận được đôi lời nhắn gửi từ vùng sa mạc Mĩ
Quốc:
Rồi của một
nhà giáo trẻ, tiến sĩ ngôn ngữ học, dạy tiếng Anh và dịch thuật:
What an interesting article (Anh Ngu Hoc ma vui)! It has a good sense of humour and entertainment.
It's profound too! Readers will learn a lot from it! (Thái Minh Đức, PhD, University of Western Sydney)
Rồi
đến Đến ý kiến của một người Úc ròng (Dinki Di Aussie), thông dịch viên Anh-Việt, có tên Việt Nam là Dzũng:
am
I am impressed with the creativity you have - the first lesson
on website
Bài phản hồi dài nhất và chi tiết nhất là của một “đồng hương” tại Sydney, tôi
chưa hân hạnh được gặp. Bài góp ý của ông
Lê Quý Anh được đăng trong số báo khoahoc.net tuần bắt đầu 13.7.2006,
chắc Quí vị đã có dịp đọc rồi. Tôi chỉ xin được nêu một vài ý kiến chung chung.
Theo tôi, có được bất kì nhận xét nào mà nhằm mục đích xây dựng cho mình, cho
người thì đều tốt cả. Như tôi đã có dịp trình bày riêng với anh Chủ Bút Phương
Tôn là những phản hồi
của độc giả liên quan đến bài Số 1, xin cho tôi được là người sau cùng góp thêm
ý kiến:
“Không có là bao nhiêu nữa đâu!
Tôi sẽ nhìn nhận một số sai lầm ‘vô ý’ nhỏ trong lúc viết. Nhưng cũng có thể có
sai lầm ‘cố ý’ để cà-khịa, để làm ‘duyên’ với bà con cô bác độc giả cho ‘vui’ ấy
mà!”
Sai lầm vô ý của tôi không nhiều.
Chữ nói về con “đại thử”, con “chuột túi”, tiếng Anh-Úc viết đúng
chính tả là “kangaroo”, chứ không phải là “*kangooroo”, như mình
đọc tiếng Việt là “căng-gu-ru”.
Sai lầm sai lầm sơ ý nữa, mà cũng
có thể là sai lầm cố ý của tôi, có lẽ là đã quên không đánh dấu nháy cho cụm từ
“sống kiếp lưu đầy”. “Dấu nháy” nói chung theo qui ước có nghĩa là “nói
vậy mà không phải vậy”. Nhưng sơ ý như thế mà lại hay. Hay ở chỗ là ông Lê Anh
đã nói hộ tôi rất nhiều, nói thay cho “đa số thầm lặng”, những người có quyền tự
do “được ăn được nói” mà không dám nói lên những điều mình nghĩ là đúng.
Bảo rằng tôi “cà-khịa”, tôi “nói
khích” bà con như trường hợp nêu trên, để bà con phải nói lên những điều mình ấm
ức muốn nói mà chưa nói được, chưa có dịp để “xả sú-báp”, thí cũng chẳng sai
được nào! Tôi còn nhớ mình muốn “làm duyên” với độc giả, khi viết: “Nhưng
trong ‘áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc’, Nguyên Sa không chỉ yêu màu
vàng (yellow) mà còn yêu cả màu cam (orange) nữa, bởi vì
tiếng Việt “cam” cũng là “vàng” nếu không cần phân biệt kĩ.”, tôi
nghĩ hoa cúc có cả “hoa cúc màu vàng” và “hoa cúc màu cam”, mà Nguyên Sa một thi
sĩ vốn giàu tình cảm, yêu thêm một màu áo nữa đâu có sao? Cố giáo sư Trần Bích
Lan (tức Nguyên Sa), là một triết gia, một thi sĩ đa tình, chứ đâu phải là một
nhà khoa học.”
Độc giả họ Lê, là láng giềng của
tôi mà tôi chưa hân hạnh được quen biết. Phải sang tận khoahoc.net bên Đức mới
tìm được để gặp nhau, đành là trong thế giới ảo ‘cyberspace’. Ông có đầy đủ yếu
tố của một ‘người’ như tôi đã viết trong bài đính kèm cách đây 5 năm.
Tôi xin gửi đến Quí độc giả bài “Trí
thức: Một trang định nghĩa” dưới đây để thay lời kết luận cho bài viết “Vài ý
nghĩ về chuyện phản hồi” của tôi.
Trí thức: Một trang
định nghĩa
Trí thức, theo tôi, là người học rộng hiểu nhiều. Tôi chắc
mình sẽ không sai là bao khi nói rằng: "trí" là "trí tuệ, óc thông minh, sáng
suốt"; "thức" là "kiến thức, hiểu biết, có thể nhìn xa trông rộng". Người trí
thức không nhất thiết phải là người có bằng cấp, khoa bảng. Khoa bảng có thể là
điều kiện "cần", chứ không phải là điều kiện "đủ". Song, không có điều kiện
"cần" là khoa bảng, người ta cũng có thể có điều kiện "đủ" để trở thành trí
thức, miễn là người đó hiểu rộng biết nhiều.
Để có thể là người biết rộng hiểu nhiều, người trí thức thời
đại phải luôn luôn trau dồi kiến thức trong càng nhiều phạm vi học thuật chừng
nào tốt chừng ấy. Và với óc thông minh, trí nhớ nhạy bén sẵn có, công việc thâu
thập, tiêu hoá, thưởng ngoạn được những sáng tác văn học nghệ thuật, những phát
minh khoa học kỹ thuật ... sẽ không phải là công việc ngoài tầm tay đối với họ.
Với khả năng nhìn xa trông rộng, công việc phân tích, tổng hợp những điều tai
nghe mắt thấy sẽ là món hành trang cần thiết cho hành vi, hành động cư xử, ứng
xử cuả họ với người khác trong xã hội, tại quốc gia, trên thế giới mà họ đang
sống.
Người trí thức có nhiệm vụ cần đóng góp kiến thức của mình
cho xã hội, nhân loại để xã hội, nhân loại có thể thăng tiến, sống hài hoà,
không chiến tranh, không tàn sát lẫn nhau, không rơi vào tình trạng "cá lớn nuốt
cá bé". Người trí thức nên có thái độ "tự tôn" "và "khiêm tốn". Nghe thì như có
cái gì mâu thuẫn trong phương châm hành xử, nhưng "không". Thái độ "tự tôn" là
thái độ đối với "người trên", những kẻ quyền thế, ngạo mạn, không tư cách, để
tránh cái mặc cảm "tự ti", là mặc cảm không nên có. Thái độ "khiêm tốn" là thái
độ đối với "người dưới", những người thấp cổ bé miệng, những người đã biết mình
biết người, đã kính trọng, mến phục mình rồi, thì không việc gì phải hù doạ,
dùng "đao to buá lớn" với họ mỗi khi có dịp giao tiếp.
Người trí thức phải thức tỉnh, phải có khả năng tự suy ngẫm
và xét lại những gì mình đang nghĩ, đang tin là đúng để cho mình có thể thích
ứng với hoàn cảnh mới, thực tế mới, không bị lạc hậu. Tất nhiên, ta có thể bảo
là người trí thức phải tôn trọng một số nguyên tắc mà họ muốn noi theo, nhưng
đâu có mấy nguyên tắc được kể là bất di bất dịch trên đời này. Mình đặt ra, đẻ
ra nó thì mình cũng có thể thay đổi, “từ” nó được vậy, miễn là hợp với lương tâm
cuả mình Người trí thức còn phải biết kiềm chế, giữ được tư cách cuả mình trong
khi tranh luận. Có thể dùng ngòi bút sắc bén hay giọng nói hùng hồn, nhưng không
nhất thiết phải dùng lời lẽ hằn học để mạt sát cá nhân, dùng giọng điệu cha chú,
kẻ cả, miả mai quá đáng để hạ đối phương.
“Hữu xạ tự nhiên
hương!” Trong khuôn khổ của một diễn đàn trí thức, lập luận, lí luận, kiến thức
dẫn chứng là "xạ". Một khi "xạ" mà thơm phưng phức thì "hương" tất phải tỏa ngào
ngạt. Lo gì! (Trịnh Nhật, Sydney, Tháng 5, 2001)
Trịnh Nhật
Sydney, tháng 7, 2006
Trở về Trang Chính |