|
LTS.
Bài học Anh ngữ nói chung chủ yếu là bàn về tiếng Anh thời sự,
đã đọc được trên báo chí, nghe được trên đài phát thanh truyền
hình, với các độc giả trong tinh thần “Tôi học, Anh học, Chị
học, Em học, Chúng ta cùng học!”. Các từ vựng, đoản ngữ, tục
ngữ, thành ngữ, châm ngôn... tiếng Anh, tiếng Việt sẽ được lồng
vào những mẩu chuyện vui, cà kê dê ngỗng, cốt là giúp cho người
học dễ nhớ, vui mà học được. Những lời bàn tán ở đây nhất định
không thể được coi là những lời “thánh phán”, mà các độc giả,
tất nhiên có những người biết chuyện, sẽ được mời đóng góp ý
kiến của mình hoặc đặt câu hỏi để chúng ta có dịp cùng nhau tìm
hiểu, đồng thời chia xẻ niềm vui chung là học hỏi lẫn nhau. Bài
học còn có thêm phần liệt kê những kết hợp ngữ (collocations)
trong tiếng Anh, tiếng Việt để người học tham khảo.
Chim có đàn cùng hót…
Qua bài viết lần trước:
“Biết ra sao ngày sau?” tôi nhận được phản hồi (feedback)
từ Việt Nam, của một nam và một nữ, mà tôi xin ghi ngắn gọn lại
như sau:
“Lâu lâu được đọc những
bài của anh nên rất thích thú, đặc biệt là tìm thấy được một số
“collocations” hay (kết hợp ngữ hay) giữa tiếng Việt và
tiếng Anh. Anh có đề cập đến đạo Phật, anh đã đọc tiểu thuyết
“Tu Bụi” của Trần Kiêm Đoàn chưa? Tôi mới đọc xong. Ông này dạy
ở Mỹ, một người nghiên cứu Phật học từ hồi ở Huế...”
Người viết là một Phó
Giáo sư (Associate Professor) Tiến sĩ ngành khoa học, cựu
sinh viên “Colombo Plan” du học tại Úc. Sau nhiều năm giảng dạy,
quản trị, điều hành giáo dục tại một trường Cao Đẳng/Đại học ở
Sài Gòn, nay ông còn làm cơ quan tư vấn
(consultancy) cho học sinh/sinh viên Việt Nam nào muốn du học tự
túc tại Úc. Ông đại diện cho Trường PNC (University Preparation
College), có tên là Trường Cao đẳng Anh ngữ, Quản trị và Công
nghệ, trụ sở đặt tại Sydney.
Dưới đây là “meo”
(e-mail) tôi trả lời:
“… đã mua cuốn “Tu Bụi”
tại Việt Nam giùm cho nữ bác sĩ Lâm Kim Loan, người bạn trong
Nhóm Đi Bụi (Bushwalkers’ Group) ở Sydney, và nhân đó cũng
mua cho riêng tôi một cuốn. Sách truyện này do NXB Thuận Hoá,
Huế phát hành, và in 1000 cuốn tại Xí nghiệp In Công ty Văn hoá
Phương Nam, giá 70000Đ một cuốn.
Tôi đã đọc hết cuốn tiểu
thuyết dài gần 700 trang. Không phải là tin hết ở Phật Giáo
[nhất là về Kiếp sau (after life) và Nghiệp
(karma)]. Có điều người viết xem ra có kiến thức khá rộng, không
những chỉ về Phật Giáo. Dù gì thì gì, cuốn truyện dài này
không phải là dễ nhai/dễ ngốn (not easy to digest), tuy là
đã dễ đọc hơn rất nhiều bài viết của những tác giả khác về đạo
Phật, dầy đặc những định nghĩa là định nghĩa. Cộng thêm cái “có”
“có”, “không” “không” khiến người đọc như tôi dễ bị dị ứng,
nhưng cũng có thể đó là lỗi tại tôi, người còn vô minh [=
không sáng suốt; ngu tối = ignorance (the lack of
wisdom)].”
Ngoài lá thư trên, tôi
còn nhận lá thư nữa của một phái nữ:
“Bác sĩ Thái Minh Trung
là người bà con của em đó, gửi bài về cho em đem đăng báo “Phật
Giáo Giác Ngộ” hoài đó. Không ngờ anh cũng biết chàng ta… Cúc
Hương.”
Điện
thư tôi viết trả
lời:
“Cảm ơn Cúc Hương. Cái
hay trong bài của ông này viết là quan niệm "tri và hành". Biết
đạo/hiểu đạo là một chuyện, mà còn phải thực hành nữa. Nhiều
người cứ nói đạo Phật cao siêu lắm, hay lắm, những vẫn làm những
chuyện trái ngược với triết lí Phật dạy, nghĩa là vẫn lo âu, vẫn
trách cứ, giận hờn, tâm họ vẫn chưa an. Cúc Huỳnh, nay đã xuất
gia đầu Phật, chắc thấu hiểu Phật Giáo nhiều hơn, phải không?”
Cúc Hương có tên họ và
chức nghiệp đầy đủ là Bác sĩ Trương Ngọc Cúc Hương, chị cả trong
gia đình có bốn chị em gái. Tôi quen biết cả bốn chị em gia đình
này từ đầu thập niên 60 (in the early sixties). Một người
bạn của tôi, nay ở Mĩ, thân với Cúc Hương hơn. Chúng tôi quen
nhau trong tình cảm như anh em hàng xóm (neighbours), vì
có người bạn tôi ở gần phòng mạch (doctor’s surgery) của
thân phụ các cô là cố Bác sĩ Trương Ngọc Hơn, nằm trên Đường
Cống Quỳnh Sài Gòn, gần chợ Thái Bình. Thuở ấy tôi thường vui
đùa nhận cô em gái thứ ba, Cúc Huỳnh, làm em gái (as my
younger sister), lúc cô mới 10 tuổi. Hai cô kia Cúc Hồng và Cúc
Hoàng hiện đang sống tại California., Hoa Kì. Cúc Hồng tốt
nghiệp dược sĩ (pharmacist) tại Việt Nam và nay đã lập
gia đình cùng một người đồng nghiệp.
Cách nay mấy tháng, đứa
cháu gái, người vẫn giúp tôi trong “Dự án từ điển kết hợp
ngữ”, (collocation dictionary project) đã từ ngoài Hà Nội
vào Sài Gòn lần đầu tiên trong đời để tôi giới thiệu cháu tìm
việc làm về vi tính với Đại Học Hoa Sen, nếu cháu thích. Tôi
khuyên cháu đi máy bay (vé 1 triệu 500 ngàn = khoảng 120 đô-la
Úc) nhanh hơn nhiều thay vì đi tàu hoả/xelửa hay ô-tô, nhưng
cháu không nghe tôi, mà đổi ý giờ chót (at the last
minute) đi bằng ô-tô/xe đò. Chắc là lặn lội mất hai ngày một
đêm. Vào đến Bến Xe đò Miền Đông, Sài Gòn lúc sáng sớm, rồi ngày
hôm sau đó nghe cháu nói bị chóng mặt, nhức đầu. Vì cháu ở trọ
tại Khu Tây Ba-lô (backpackers’ quarters), Đường
Phạm Ngũ Lão, nên tôi đã dẫn cháu tới Bác sĩ Cúc Hương ở Đường
Cống Quỳnh, gần đó, để khám bệnh. Bác sĩ gia đình/đa khoa
[family doctor/general practitioner (GP)] này nghi là cô cháu
tôi bị “rối loạn tiền đình”, nên đã gửi đi (referred)
chụp quang tuyến (X-Rays) tại một Trung Tâm Chụp Quang Tuyến đối
diện với bệnh viện Chợ Rẫy. Và cháu đã đi theo lời/giấy giới
thiệu (referral) của bác sĩ.
Lúc còn ở Đà Lạt hồi đầu
tháng 6, 2007, nhân có dịp bàn về chứng “rối loạn tiền đình”,
có một ông Cha trẻ người Việt ở Mĩ về chơi, ông đã kể lại một
câu chuyện “tếu” bên Mĩ. Sau đó, có lẽ là để trấn an cháu tôi,
ông liền cho biết là: “rối loạn hậu đình” mới đáng sợ. Cháu gái
tôi có bị chứng bệnh “rối loạn tiền đình” [trouble
vestibulaire (Pháp), vestibular trouble (Anh)] này không? Bệnh
gì vậy? Triệu chứng ra sao? Chữa trị thế nào? Xin để được hậu
hồi phân giải.
Bây giờ thì, Quí Vị Quí
Bạn ơi! Tôi xin được nói đến một chuyện “rối loạn” khác xảy ra
mới đây tại Úc. Số là: Cứ như lẽ thường thì khoảng chiều Thứ Tư
hay chiều Thứ Bẩy, khi có chút giờ rảnh là tôi thường ghé vào
TAB (Totalisator Agency Board), một trong những chi nhánh của
Nhà nước bán vé đánh cá ngựa, gần nhà để mua vài vé, tiêu khiển
đôi ba tiếng đồng hồ. Riêng Thứ Bẩy 25.8.2007 vừa rồi, khoảng
gần 3 giờ chiều, tôi tản bộ qua TAB cách nhà chưa đầy 200 thước
để “tiêu khiển một vài ‘độ đua’ lếu láo”, thì tôi thấy hiện
trường “vắng như chùa bà Đanh”, không thấy mấy bạn tuyệt
phích (punters = dân đánh cá ngựa) đâu, nhìn lên trên màn
ảnh (monitors) ghi độ ngựa, giờ giấc và giá tiền thì không
thấy có ngựa đua mà chỉ thấy giờ giấc cuả những cuộc đua chó
(greyhound races) bắt đầu vào sau 7 giờ tối. Tôi vô cùng
ngạc nhiên, nhìn quanh nhìn quẩn, định hỏi anh chàng ngồi trong
quầy bán vé thì thấy anh đang nói chuyện điện thoại với ai đó,
tôi liền quay sang hỏi một ông già đang loay hoay trong tiệm để
biết cớ sự (what happened) thì được ông cho biết là ngựa
bị bệnh “flu”, nghỉ hết rồi. Tôi không tin mà chỉ nghĩ là ông
nói đùa, rồi bỏ về nhà. Đến tối nghe tin tức truyền hình thì mới
biết sự thực là có dịch cúm ngựa (equine influenza/horse
flu), lần đầu tiên trên đất Úc. Các cuộc đua trên khắp các Tiểu
bang, vì thế, đều bị hủy bỏ, chỉ trừ ở Darwin, lãnh thổ Bắc Úc
(Northern Territory) là có tổ chức cuộc đua với 5 độ ngựa (horse
races) chạy, nhưng ngặt một nỗi là không có tiện nghi điện tử
truyền hình để cho dân ghiền ở các Tiểu bang khác chơi trò cá
cược/đánh cá (betting).
Thông tin về chuyện “cúm
ngựa” và “thiệt hại” về mặt tiền bạc cho kĩ nghệ đánh cá ngựa
đua (racing industry) này trong đoản kì (short-term) và
trường kì (long-term) tôi xin ghi lại đôi điều làm nền
cho bài học tuần này như sau:
Last Saturday TABCORP
lost 9 million dollars in revenue (thu nhập hàng năm của
Nhà nước) as all race meetings (các cuộc đua) and
horse movements (các chuyến di chuyển/chuyên chở ngựa) in
NSW were cancelled (bi hủy/bãi bỏ) or suspended
(tạm đình chỉ/ngưng), because of equine influenza (cúm
ngựa). This disease was allegedly bought into Australia by a
Japanese horse who was in quarantine (đang bị kiểm dịch).
It appears that quarantine restrictions were breached (bị
vi phạm) and as a consequence the horse industry is suffering
a tremendous blow (chịu/bị một vố/đòn khủng khiếp).
Equine ‘flu has never
been detected in Australia before this and it does not augur
well (nó không là điềm/dấu hiệu tốt) for all those people
involved in the industry. It has affected the start of horse
breeding season (mùa ngựa sinh sản), horse racing and even
recreational horse riding (cưỡi ngựa giải trí/tiêu
khiển). One of the major impacts is the fact that police horses
will not be used for crowd control (kiểm soát/giữ trật tự
đám đông/chặn biểu tình phản đối) at the coming APEC meeting in
a week’s time. Many people such as jockeys (nài ngựa),
bookmakers (bookies = nhà cái bán vé cá ngựa), trainers
(người huấn luyện ngựa), apprentices (nài tập sự),
strappers (người trông coi ngựa), breeders (người
nuôi ngựa lấy giống), pony club and riding school owners, TAB
operators, veterinarians, racing officials, and not to forget
the general public have been and will be affected badly by
this outbreak (dịch cúm này).
It could not have come
at a worse time because the Spring Racing Carnival (Lễ
Hội Đua Ngựa Mùa Xuân) is one of the biggest events in
Australian horse-racing, reason being The Melbourne Cup, one of
the richest horse races in the world. As Victoria has, so far,
not detected equine ‘flu in its horse stock (trại nuôi
ngựa), it could mean that no interstate or overseas horses will
be allowed to run, if the Victorian race authorities want to
really keep things in check (thật sự chặn đứng.mọi chuyện).
Nói đến chuyện “cúm
ngựa” làm tôi nhớ đến một dịch cúm khác là “cúm chim”
(avian flu/bird flu) cách nay cũng đã 2 năm. Khi tin tức bằng
tiếng Anh về dịch bệnh “bird flu” trên thế giới, khởi đầu từ
Trung Quốc rồi lan qua các nước khác, sang cả tới Việt Nam, thì
báo chí truyền thanh truyền hình tiếng Việt lúc đầu, với sự dè
dặt, thường chỉ dám dịch là “cúm chim”, vì “bird” dịch sát nghĩa
là “chim”. Nhưng Tiếng Anh chữ “bird” thật sự là một từ tổng
thể (general term/super-ordinate term), có nghĩa rộng hơn,
bao gồm cả chim (birds), cả gà (chickens/fowls),
cả vịt (ducks) và còn gì gì nữa, nói chung là loại
“gia cầm” (poultry = gà, vịt, ngan, ngỗng, gà tây v.v). Báo
chí, truyền thông Việt ngữ sau này đã mạnh dạn hơn gọi dịch cúm
này là “cúm gà” hoặc “cúm gia cầm”.
Quí Vị Quí Bạn ơi! Qua
câu chuyện liên hệ đến chim, đến ngựa, Việt Nam ta có câu:
Chim có đàn cùng hót,
tiếng hót mới hay,
Ngựa có bạn cùng đua,
nước đua mới mạnh.
[Birds with friends, when
singing together, their song is sweeter.
Horses with friends, when
running together, their race is fleeter.]
Rồi một ngày nào đó, nếu
chim không có đàn, ngựa không có bạn, người không có tri kỉ
(soul mates), thì chắc cuộc đời chúng ta sẽ “một ngày như
mọi ngày”, tẻ nhạt với “nỗi buồn chấu cắn”, phải không, Quí
Bạn?
Trịnh Nhật
Sydney,
29.8.2007
Kết hợp
ngữ
(Collocations)
horse
noun
ngựa, mã
·
ADJ
beautiful, fine, good, lovely, magnificent
đẹp, tuấn (mã) He
was mounted on the finest horse you
could ever see. |
bay màu đỏ nâu (hồng), black
đen, chestnut
màu hạt dẻ,
grey
xám,
piebald
ô bắc (trắng đen),
roan
lang (màu nâu với những vệt lông trắng hoặc xám), skewbald
vá
|
thoroughbred
(ngựa) đua (thuần chủng, có nòi)
|
feral,
wild
hoang
|
unbroken
bất kham, chưa thuần hoá
|
highly-strung
dễ bối rối,
nervous, restless
bồn chồn,
skittish
hay lồng, bất kham |
frightened, startled, terrified
hoảng sợ
|
placid
bình thản, trầm tĩnh
| fancied
tin tưởng, kì vọng The race organizers
became suspicious when the two most fancied horses finished
last. |
loose
xổng,
riderless
không người cưỡi,
runaway
xổng
Three horses fell when a loose horse ran across the track. |
fresh
còn khoẻ, còn sung sức
They
would need fresh horses if they were to reach
the border the next day.
|
lame
què
| heavy, shire
ngựa thồ The brewery had 25 heavy
horses delivering beer in London.
|
riding
cưỡi,
saddle
có đặt yên (ngựa)
|
carriage, cart
kéo xe
(also
carthorse),
draught, dray
ngựa kéo (xe chở hàng nặng, thùng bia)|
pack
bầy
|
cavalry,
police
kị (binh),
cảnh sát (kị mã)
|
race
đua (also
racehorse) |
pantomime (ngựa) trong kịch pantômim
He got apart as the rear end of a
pantomime horse. |
rocking (ngựa)
gỗ bập bềnh
·
VERB + HORSE
breed
lai giống
|
get ready chuẩn bị sẵn sàng Get
my horse ready and wait for me.
|
saddle
đặt yên lên lưng ngựa lên yên
|
be mounted on, mount
trèo lên lưng ngựa
(qua ngả bên trái của con ngựa)
|
ride
cưỡi
|
lead
dẫn
(tay nắm dây cương)
|
brush
down, groom
tắm, rửa
|
shoe
móng
|
stable
chuồng
|
handle
điều khiển, xử lí
She has a knack
for handling horses.
|
ill-treat
xử tệ
| frighten
làm sợ, làm hoảng
|
hobble,
tether
buộc chặt, cột chặt
|
nobble
bỏ thuốc mê He was jailed for 15 years
for nobbling a horse that had been going to run in the Derby.
·
HORSE + VERB
canter
tế (chạy nhanh hơn nước kiệu nhưng chậm hơn nước đại), gallop (phi/chạy) nước đại,
trot
chạy nước kiệu,
walk
đi Several horses trotted past us.
|
prance
lồng lên | run
chạy
There
are ten horses running in the next race. |
plod
đi uể oải The weary horse plodded
up the hill. |
neigh
hí,
snort
ngáy,
whinny
hí
|
bolt
xổng, chạy lồng lên
|
rear (up)
chồm lên (đứng trên hai chân sau),
shy
nhát, dễ hoảng sợ
|
plunge
nhào, lao The cart overturned, the
horse plunging and rearing in its traces.
|
fall,
slip
trượt ngã,
stumble
ngã, té nhào The horse stumbled and
threw its rider. |
throw sb
hất (ai/người nào)
|
jump
nhẩy
| pull
sth
kéo (cái gì) They passed an old horse
pulling a cart full of apples. |
prick up
its ears
vểnh tai
|
graze
ăn/gặm cỏ
·
HORSE + NOUN
box,
float
tàu/xe chở ngựa
The car in front was pulling a horse box. |
breeder
lấy giống, chăn nuôi
dealer
lái, buôn bán,
lover
người yêu thích,
owner,
rider
người cưỡi,
trainer
người huấn luyện
| droppings, dung, manure phân,
shit
cứt, phân |
fair
hội chợ,
chợ phiên
Hundreds of horses are bought and sold at the annual horse fair.
|
race
cuộc đua
|
racing,
riding
đua, cưỡi
|
show, trials
He won second prize in a horse show.
|
trough
máng
The horse trough was full of stagnant water.
|
whip
roi,
roi quất
|
trading
buôn bán (also
horse-trading
mặc cả/buôn bán
khôn ngoan sắc sảo)
(nghĩa
bóng)
political horse-trading
khéo điều đình thương lượng về mặt chính
trị
·
PREP
on a/the
~
trên
·
PHRASE
a horse
and carriage/cart
xe ngựa,
horse-drawn
do ngựa kéo
horse-drawn vehicles
flu
noun
cúm, bệnh cúm
·
ADJ
mild
nhẹ
|
gastric
(cúm) tiêu chảy
|
summer
mùa hè
·
QUANT
bout
cơn, trận,
dose trận
She's had a nasty dose of flu.
·
VERB + FLU
be in
bed with
nằm chịu trận trên giường,
be laid
up with
nằm liệt/chịu trận, have, suffer from
bị
|
catch,
contract, get, go down with
mắc (bệnh)
·
FLU + NOUN
bug,
virus
vi khuẩn, vi-rút
| epidemic
dịch
|
victim
nạn nhân
|
vaccine
vắc-xin, thuốc trích ngừa
| jab trích ngừa
influenza
noun
cúm, bệnh cúm
·
QUANT
attack
trận,
bout
cơn/trận
·
VERB + INFLUENZA
have,
suffer from
bị
|
catch,
contract
mắc (bệnh)
·
INFLUENZA + NOUN
epidemic
dịch
| virus
vi khuẩn, vi-rút
Trở về Trang Chính |