|
LTS.
Bài học Anh ngữ nói chung chủ yếu là bàn về tiếng Anh thời sự,
đã đọc được trên báo chí, nghe được trên đài phát thanh truyền
hình, với các độc giả trong tinh thần “Tôi học, Anh học, Chị
học, Em học, Chúng ta cùng học!”. Các từ vựng, đoản ngữ, tục
ngữ, thành ngữ, châm ngôn... tiếng Anh, tiếng Việt sẽ được lồng
vào những mẩu chuyện vui, cà kê dê ngỗng, cốt là giúp cho người
học dễ nhớ, vui mà học được. Những lời bàn tán ở đây nhất định
không thể được coi là những lời “thánh phán”, mà các độc giả,
tất nhiên có những người biết chuyện, sẽ được mời đóng góp ý
kiến của mình hoặc đặt câu hỏi để chúng ta có dịp cùng nhau tìm
hiểu, đồng thời chia xẻ niềm vui chung là học hỏi lẫn nhau. Bài
học còn có thêm phần liệt kê những kết hợp ngữ (collocations)
trong tiếng Anh, tiếng Việt để người học tham khảo.
Mùa
Xuân trên Cõi Tiên
Bài học
tuần này, xin được mở đầu bằng một lời chào mời (start
with an invitation):
Hello everyone, you are welcome to visit Tạp chí Thứ Bẩy
(Saturday Magazine):
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/magazine/
để đọc tản mạn về “ANHMV”, đã được Đài BBC trích đăng và biên
tập thành nhiều mục hấp dẫn (intriguing topics), cùng với
hình ảnh minh hoạ đẹp và khéo chọn (beautiful and
well-chosen pictures).
Một trong những người đầu tiên vào viếng Mạng
BBC đã thổ lộ (stated):
Tôi rất
vui bắt gặp (to have come across) bài học Tiếng Anh “Học
Mà Vui” trên báo BBC. Những bài ông viết rất khôi hài và sâu
sắc (very humourous and incisive) lại thực dụng (also
of a practical nature) cho người học và nghiên cứu tiếng Anh
thực dụng nữa. Rất mong ông có sức khoẻ (continued good
health) và đóng góp gì thêm (contribute more) trên
trang báo này (to this website) và cả của Đài VOA nữa. Ở
Việt Nam sẽ biết nhiều về tính trào phúng rất hay đó của ông
(your highly satirical writings), nếu có nhiều bài viết trên
02 Đài này (if your articles are carried on these two
stations). Rất tiếc ông chưa có dịp ghé thăm Miền Trung và Tuy
Hòa. Mong có dịp gặp ông (Looking forward to seeing you
one day).
Tác giả
lá thư này là ông Võ Dũng, Giám Đốc Trung Tâm Anh Ngữ Quốc Tế
Duy Tân (DTC), mới thành lập (newly established) tại Tuy
Hoà, Phú Yên. Qua người giới thiệu cách nay mấy tháng, tôi đã
được ông mời thăm viếng Trung Tâm và hợp tác, cùng là tìm giúp
cho Trung Tâm giáo viên tiếng Anh bản ngữ người Úc
(Australian native-English teacher), vì họ hiện chỉ có một giáo
viên bản ngữ người Mĩ, nên chưa đủ cung ứng cho số đông học
viên (large number of students), gồm cả thiếu niên lẫn tráng
niên. Hi vọng chuyến đi Việt Nam sắp tới, tôi sẽ có dịp đến
thăm Trung Tâm cuả ông và tìm lại kỉ niệm với Tuy Hoà sau hơn 4
thập kỉ.
Liên hệ
đến chuyện dạy Anh Ngữ, anh bạn ở Toronto, Canada gửi “meo”
(email) cho tôi thêm í kiến về việc làm của anh ấy như sau:
The
proper term of this programme is L.I.N.C. [acronym (= chữ tắt)
Language Instructions for Newcomers to Canada)] [Tiếng Anh cho
Người Mới Đến Gia-Nã-Đại], prior to this it was given the name
S.L.P. (Settlement Language Program), starting in the 1980s. All
newcomers -- not yet acquired Canadian citizenship (regardless
of stay in the country), legal residents status (có qui
chế thường trú nhân) -- are eligible (đủ điều kiện được
theo học). The courses are offered free (miễn phí),
including childcare and some transportation subsidy (trợ
cấp tiền giữ trẻ và phần nào tiền xe cộ chuyên chở).
Ở Úc hiện giờ,
các thường trú nhân (permanent residents) được theo học
miễn phí 510 giờ trong Chương trình AMEP (Adult Migrant English
Program), ngày học 4 tiếng, tuần học 5 ngày. Chính tôi đã được
tuyển vào dạy “Survival English” (Anh Ngữ sinh tồn/cứu sống/thực
dụng) cho đồng bào tị nạn Đông Dương (Indo-Chinese
refugees) lúc họ mới chân ướt chân ráo tới Úc (new
arrivals/newly-arrived migrants/refugees to Australia) trong
chương trình của Sở Giáo dục Di dân Tráng Niên [Adult
Migrant Education Service (AMES)] trong thời gian 20 tháng (đầu
1978-cuối 1979), trước khi sang Anh Quốc làm việc.
Trong số những
phản hồi, tôi xin kể sau đây:
Dear Frank, This and other informal lessons from you make for
very good reading. Keep up the good work. Send emails to me via
the other address:
vienchu@gmail.com
(CXV, Virginia, USA)
Kính
gửi bác Trịnh Nhật. Tôi vẫn thích đọc bài viết của bác vì luôn
có những khúc tiếu ngạo giang hồ, tuy không thiếu sự bén nhậy
của tình người. (NCT, Melbourne, Australia)
Tôi còn nhận được ‘email’ phản hồi của một
người em con chú con bác với tôi, hiện ở California, Hoa Kì:
“…Cám
ơn những bài học Anh Ngữ, chắc chắn không ít thì nhiều cũng hữu
ích. Tiện đây em cũng gởi đến anh vài góp ý xây dựng của 2 thằng
bạn thân: thằng thứ nhất hiện ở Hanover đi du học từ năm 67, còn
thằng thứ hai hiện ở Florida từ hơn 10 năm nay.”
Người bạn của chú em ở Hanover, Đức viết:
“´USA'
tiếng Việt là nước Mỹ hay là nước Mĩ, Hoa Kỳ hay là Hoa Kì?
Bên Việt Nam mình bây giờ tụi nhỏ học viết Mĩ Tho hay là Mỹ
Tho? Tại sao lại phải thay đổi thành chữ i (ngắn) thay vì
chữ y (dài). Sự thay đổi này phải chăng chỉ có thất lợi
mà thôi?”
Người bạn của chú em ở Florida, Hoa Kì viết:
“Có một
ông thầy giáo tên là Nguyễn Ngu Í muốn hô hào viết chữ i
thay cho chữ y, nhưng trong nhiều trường hợp của tiếng
Việt đâu có thể thay thế được. Thí dụ: Thanh Thuý đâu có
thể viết là: Thanh Thúi được.”
Chú em của tôi sau đó nêu nhận xét:
“Em
thấy những thắc mắc về chữ i và y là chính
đáng. Em cũng đồng tình với ý kiến của thằng bạn thứ nhất và
cũng đã tạm hài lòng với lối phân tách, giải thích của thằng bạn
thứ hai. Xin lỗi anh nếu anh cho rằng em nhận xét như vậy là
chưa đúng, em thấy là anh chịu nhiều ảnh hưởng về cách dùng chữ
i và y trong nước, có lẽ vì anh tiếp xúc nhiều với
các giới chức trong nước nên bị ảnh hưởng chăng?”
Chú em của tôi viết tiếp:
“Riêng
em có câu chuyện liên quan tới gia đình em: Hồi tháng 7/05 đại
gia đình em cùng về VN (dự đám hỏi, cưới của Hà, con gái em) gồm
18 người, trừ bà già em (my mother) vào phút chót phải
nhập viện bất ngờ (hospitalised unexpectedly/unexpected
hospital admission) . Ở VN nhà trai đã lo, chuẩn bị mọi thứ nên
cũng đỡ, đám hỏi và cưới diễn ra rất tốt đẹp (went off
very well), em cũng đã gởi thiệp mời (sent invitations)
ra ngoài Bắc [Hải-phòng (gia đình chị Nhạn) và Hà-nội (gia đình
thím Chuẩn cùng gia đình Quang/Thúy, gia đình Thăng/Thu Hà, cùng
gia đình Minh Hoa/Khải)], nhưng tất cả đều không vô được vì
đường xá xa xôi, nhưng có gởi tiền mừng tổng cộng 3 “checks”
(mỗi “check” 2 trăm ngàn tiền VN) ở đây điều đáng nói cả 3
“checks” đều gởi tên người nhận là em nhưng có sự rắc rối
(trouble) là tên em có chữ lót (middle name) “Quí”
mà cả 3 “checks” đều ghi chữ “Quý” (Trịnh Quí Mạnh thay
vì Trịnh Quý Mạnh), thế là không được mặc dù bà xã em
(my wife/missus) có trình bầy và đưa “passport” (hộ
chiếu) cho họ xem nhưng vẫn không được, đành thôi vậy, về tới
nhà em có điện thoại cám ơn những tình cảm mà họ hàng đã dành
cho gia đình em. Ở Mỹ hoặc các nước khác, em tin chắc là đều
nhận thấy sự hơi vô lý đó. Em cũng nhớ hồi 79 đám cưới em, có
chị Nhạn vào dự, em vẫn cảm kích lắm.”
Trong
khuôn khổ bài học Anh Ngữ này, tôi không thể trả lời, giải thích
cặn kẽ những điều tôi muốn nói về việc tại sao người ta lại muốn
đổi cách viết chữ y (dài) thành i (ngắn), một thói
quen đã “ăn sâu cắm rễ” trong tâm hồn người Việt khi họ đọc, họ
viết tiếng mẹ đẻ của mình. Câu hỏi và những điều thắc mắc của
chú em và bạn bè của chú ấy đã được nhiều người bàn đi bàn lại
trên
www.talawas.org
trong 5 năm qua, trong đó phải kể đến các tác giả như Đoàn Xuân
Kiên, Vũ Dũng, Ngô Cảnh, Nguyên Nguyên, kể cả bài viết của tôi
với nhan đề là “Bắt được mùa Xuân tình cờ”, năm 2004 (Xin
mời vào Mạng <
www.talawas.org
>, rồi bấm vào Mục Ngôn Ngữ).
“Mùa
Xuân tình cờ” của tôi là một bài tôi dự định phỏng vấn
ông thầy cũ về “tiếng Việt trước thềm thiên niên kỉ mới." Câu
hỏi đã soạn sẵn, chờ trực để được trả lời, với hi vọng Thầy tôi
sẽ làm sáng tỏ quan niệm của ông về việc cải cách chính tả tiếng
Việt, nhưng rất tiếc là việc chưa thành thì ông đã sớm vĩnh viễn
ra đi vào cuối Thu năm 2000, tại miền Bắc California, Hoa Kì.
Như tôi vẫn thường nói “người nào việc nấy”, “chó giữ nhà, mèo
bắt chuột”, nên tôi dành thẩm quyền này cho Giáo sư Tiến sĩ
Nguyễn Đình Hoà, tác giả cuốn sách “Ngữ học Nhập Môn”
(Introduction to Linguistics) [tài liệu học tập dành riêng cho
Sinh viên Đại học Văn khoa Sài Gòn], in tại nhà in Bình Minh,
338 Trương Minh Giảng Sài Gòn, năm 1962. Khi đặt câu hỏi với
ông, không phải là tôi không có sẵn câu trả lời, nhưng tôi vẫn
muốn “mớm”, muốn “câu” ông Thầy cũ cuả tôi để được thông tin từ
“người tinh tường/người biết rõ chuyện”(from the horse’s
mouth), ít ra là uy tín hơn tôi.
Nay tôi
xin trích lại một số câu hỏi để Quí Vị, Quí Bạn có một khái niệm
về những suy tư của tôi:
Hỏi (1): Kính thưa Giáo sư Nguyễn Ðình
Hoà, qua những bài viết trên báo chí Việt ngữ đăng tại Mĩ,
những điện thư của GS mà tôi đã được đọc, tôi nhận thấy GS bày
tỏ mối quan tâm và qua đó ông đã đưa ra một số đề nghị liên quan
đến vấn đề thống nhất chính tả và cải cách quốc ngữ. Như vậy hóa
ra công trình chuyển tả, thiết lập hệ thống văn tự cho tiếng
Việt của các giáo sĩ Dòng Tên phương Tây, trong đó có Alexander
Rhodes, ngay từ thuở ban đầu, cách nay ba thế kỉ, chưa được
hoàn chỉnh hay sao?
Hỏi (2): Khi nói đến thống nhất chính tả, cải cách chữ quốc
ngữ, GS đã dựa vào tiêu chuẩn (phương ngữ, âm tiết, dấu thanh
điệu…) và bình diện (ngữ âm, âm vị, ngữ/hình vị, ngữ ý, chính
tả…) nào để thống nhất, để cải cách?
Hỏi (3): Trước những tiến bộ của khoa học điện tử, dân chúng
toàn cầu sống trong hậu bán thế kỉ 20 đã may mắn được hưởng lợi
khá nhiều về mặt thông tin mà chữ viết, in ấn đóng vai trò chính
yếu. Thưa GS, việc thống nhất chính tả, cải cách chữ quốc ngữ sẽ
mang lại những lợi ích gì thực tiễn hơn nữa?
Hỏi (4): Ðứng trước một đất nước Việt Nam không có một Viện
Hàn lâm Ngôn ngữ có thẩm quyền, đứng trước một cộng đồng người
Việt hải ngoại sống rải rác trên toàn cầu mà ở đó tiếng Việt
không phải là tiếng bản địa, GS hi vọng gì khi gióng lên tiếng
nói cải cách chữ quốc ngữ trong khi thói quen vốn dĩ đã được coi
là bản chất thứ hai (second nature) của con người?
Cuối
cùng tôi còn kêu gọi:
Tôi rất mong
được quí vị độc giả của “talawas” cho biết ý kiến thay cho Thầy
tôi. Riêng những vị nào đã gom góp được những bài viết trước đây
của Gs Nguyễn Ðình Hoà, Gs Bửu Khải, Gs Dương Ðức Nhự, Gs Cao
Xuân Hạo v..v… liên quan đề tài “tu chỉnh văn tự" nêu trên, xin
làm ơn trích dẫn chuyển đến diễn đàn “talawas” để chúng ta được
rộng đường dư luận.
Riêng về cách
viết i (ngắn) thay cho y (dài), thì tôi có thể tạm
thời trả lời vắn tắt chú em tôi và bạn bè của chú là như thế
này:
1.
Tôi không
bắt chước hoặc bị ảnh hưởng do sự tiếp xúc nhiều với các giới
chức trong nước, không phải là chuyện a dua, “thời thượng”, mà
là vì đó là phạm vi nghiên cứu cho bằng Phó Tiến sĩ/Cao học Ưu
hạng [MA (Hons)] về Ngôn Ngữ Học (Linguistics), 1978, tại Đại
Học Macquarie, Australia, của tôi, mà đề tài là về âm vị học
Việt Ngữ (Vietnamese phonology).
2.
Tôi có thể
biện biệt việc chuyển đổi lối viết i (ngắn) thay cho y
(dài), dựa trên cấu trúc âm tíết (syllabic pattern),
trong khi phân tích âm hệ Việt ngữ (hệ thống âm vị học
tíếng Việt = Vietnamese phonological system), qua các bài viết
của Gs Nguyễn Ðình Hoà và Gs Dương Ðức Nhự. Các bài viết của
những tác giả như Đoàn Xuân Kiên, Vũ Dũng, Ngô Cảnh, Nguyên
Nguyên nói chung dựa vào chính tả, cách viết tiếng Việt, hay xa
hơn nữa, quá lắm là dựa vào phân tính ngữ âm thực nghiệm/dụng
cụ (experiemental/instrumental phonetics), và cũng vì thế mà
làm vấn đề trở nên thêm rắc rối (overkill).
3.
Khi nói về
bán mẫu âm [y ] ~ [ j ] hay [w ], (còn gọi theo ngữ âm học là
âm lướt (glide), trong đó âm lướt đi (off-glide),
như [aj ] ai, [aw] ao và âm lướt tới
(on-glide), như [jạ] dạ (giọng Nam), [wa] oa. Sự
phân biệt giữa Thúy và thúi, nếu sửa đổi chính tả
cho phù hợp với lối chuyển tả âm vị thì sẽ được viết như thế
này: / thwí / Thúy , còn /thúj/ ~ /thúy/ thúi.
Khác biệt giữa / i / (nguyên âm) và [ j ] ~ [ y ] (bán mẫu âm)
là ở chỗ đó.
Tôi xin hẹn một
dịp khác để bàn kĩ càng về mô thức âm tiết (syllabic
pattern) tíếng Việt trong đó / i / là một nguyên âm
(vowel) còn [ y ] ~ [j ] được biện biệt như là bán mẫu âm
(semi-vowel) mà thôi. Âm tiết đơn giản nhất là mẫu âm (viết tắt
là V). Âm vị / i /, chứ không phải [ y ] ~ [ j ], là biểu hiện
tối thiểu cho âm tiết đó. Một vài mô thức âm tiết tiêu
biểu là V ( í ), CV ( tí ), VC ( ví ) CVC (
mít ) trong đó V là vowel (= nguyên âm/mẫu âm); C
là consonant (= tử âm/phụ âm).
Quí Vị Quí Bạn
thân thương ơi! Bài viết đã khá dài, tôi xin trở lại chủ đề cho
bài học tuần này là “Mùa Xuân trên Cõi Tiên” (Springtime
in Paradise) cơ! Số là tối Thứ Sáu 5-10-2007 là Đêm Nhạc kỷ niệm
65 năm âm nhạc và ra mắt CD của Nhạc sĩ Xuân Tiên, được tổ chức
tại Bankstown District Sports Club, 8 Greenfield Parade,
Bankstown, với khoảng 600 người tham dự. Người tới dự mua 30$ Úc
một vé, và được tặng một đĩa CD “Dâng Nắng”, gồm 14 bài
do các ca sĩ “cây nhà lá vườn” ở Sydney trình bầy như Lê Xuân
Hân (hát bài “Dâng Nắng”), Ái Phương (“Mùa Lá Vàng”),
Anh Huy (“Trăng Khuya”), Mỹ Linh & Quốc Oanh (“Mây
Chiều”), Analise Võ (“Hoài Vọng” và “Tình Viễn
Khơi”), Duy Tiến (“Chờ Anh Em Nhé”), Quỳnh Xuân (“Nhắn
Mây”), Thu Hằng (“Mong Chờ” và “Lửa Rùng”),
Bích Hà (“Tình Đi Về Đâu”), Ngọc Oanh (“Đón Mùa Xuân
Mới”), Minh Thư (Xa Quê Hương).
Bài học tuần
này được dựa vào trích đoạn bài tôi viết giới thiệu nhạc sĩ Xuân
Tiên trong Tuyển tập Ca khúc “Duyên Tình Xuân Tiên” bẩy năm
trước đây:
“I came
by Xuân Tiên (Spring Fairy) in a surprise
encounter (trong một cuộc hội ngộ tình cờ), late in our
lives (muộn màng trong tuổi đời), when our hair had
turned to grey (khi cả hai đã bạc mái đầu). In the process
of composing music which covers a period of over 60 years
(trải dài hơn 60 năm), even though Xuân Tiên has written
wistful songs (những bài hát bâng khuâng nuối tiếc) about
longing for love and love of homeland, he did not want to
bring into play the joy of pain (không muốn đem thú đau
thương vào nhạc phẩm của ông). There are a number of
compositions (sáng tác) which I have heard and liked
(tôi đã nghe và mê thích), and only recenly finding out they
were his (mà gần đây mới biết là của ông). Works such as
Chờ anh em nhé! (Wait for me! My sweetheart), Mong chờ
(Yearning and waiting), Duyên tình (Fated love),
Xa Quê hương (Away from my homeland)…
The
song, Chờ anh em nhé! (Wait for me! My sweetheart), would
easily move people to raise their voices and start singing
the first two lines in high and low cadence (cất cao
giọng hát hai câu mở đầu lên bổng xuống trầm). In Mong chờ
(Yearning and waiting), the composer uses a typically
Central Vietnamese style melody (giọng Huế du dương),
creating an imagery of a boat drifting (tạo ấn tượng một
chiếc thuyền lênh đênh) on the Perfume River (sông Hương)
in the old Imperial City, which fails to stop (không chịu
ghé bến) and pick up a lover who has been waiting for
a long time (khách tình nhân phải mỏi mắt trông chờ) on the
bank of the river. In Duyên tình (Fated love), with
typical Northern Vietnamese style rhythm (giọng điệu quan họ
nhịp nhàng), village boys and girls compete with each other,
singing and flirting, in the hope that they are destined to
marry (hi vọng se mối duyên đời) through doing this. Whoever
has heard Kim Tước sing Xa Quê hương (Away from my
homeland), in her lovely, ethereal singing voice (giọng
ca thanh cao, trong vắt), cannot help but be overwhelmed by
the poinancy of homesickness (tràn ngập nỗi nhớ nhung quê
hương vời vợi).
Quí Vị
Quí Bạn thân mến! Với bài “Mùa Xuân trên Cõi Tiên”
(Springtime in Paradise) tôi xin được “say good-bye/say
farewell” (tạ từ/tạm biệt) cùng Quí Vị Quí Bạn, sau khi đã
hoàn tất đợt 3, 10 bài (21-30) trong Loạt bài “Anh Ngữ Học Mà
Vui” (“Learning English Can be Fun’ Series). Có một vị nữ
lưu nào đó đã “vui” mà “ngẫu hứng”:
Ai
cho em nửa nụ cười,
Em
xin trả lại một đời tóc xanh!!!
Tạm
dịch thành thơ:
[Whoever makes me smile, in truth,
I’ll
give him all the days of my youth]
Thật không đấy? Một đời “tóc xanh” hay “tóc
bạc”? Xin Quí Vị hỏi vị nữ anh hùng (heroine) Anh Thư!
Trịnh Nhật
Sydney, 11.10.2007
Kết hợp ngữ
(Collocations)
spring
noun
1 Xuân, muà Xuân
-
ADJ
last
trước, qua, năm ngoái,
next
tới, sau,
this (coming)
sắp đến/tới
| early
sớm,
late
trễ,
muộn
mid-
giữa
| wet
ướt át, mưa nhiều
-
SPRING + NOUN
weather
thời tiết
| sun
mặt trời,
sunlight
ánh sáng,
sunshine
nắng
| frost/frosts
sương muối,
rain/rains
mưa,
wind
gió
| tide
con nước, nước triều
The highest spring tides
of the year occur after the equinoxes in March and September
Những con nước triều dâng cao nhất trong năm
xuất hiện/xẩy ra sau những tiết cân phân vào tháng Ba và
tháng Chín.
| equinox
phân điểm, điểm phân, tiết cân phân
[một trong hai lần mỗi năm (khoảng 21.3 và
22.9) khi mặt trời đi qua xích đạo ngày và đêm dài bằng
nhau] | term
khoá, quí
The students spend the whole spring term on teaching
practice
Sinh viên dùng trọn khoá học muà Xuân để dạy thực tập.
| flower
hoa
| lamb
thịt trừu/cừu,
greens
(tiếng Anh-Anh) bắp cải non mềm luộc chín và
ăn như rau
a delicious recipe for
spring lamb
công thức làm món ăn ngon dùng thịt cừu/trừu non mềm
| clean, cleaning ‘mẻ’
làm sạch bóng,
‘cú’ làm sạch bóng/như lau như li
They decided to give the attic a spring clean
Chúng nó quyết định sẽ làm cho cái gác xép
một phen sạch bóng.
| collection
quyên góp, thu nhặt
exhibition
triển lãm, đấu xảo.
2 lò-xo (bằng sắt hay thép)
·
VERB + SPRING
break
làm gẫy
The children broke some springs
jumping on the bed.
Tụi
nhỏ nhẩy trên giường làm giường bị gẫy mấy
cái lò-xo
·
SPRING + VERB
break, go
bị
gẫy/đứt
Most of the springs have gone in the old sofa
Phần lớn những chiếc lò-xo trong cái ghế xô-pha
bị gẫy.
3 suối; suối nước phun lên
·
ADJ
hot, thermal (nước)
nóng | bubbling
sủi, nổi bong bóng
mineral
(nước) khoáng,
mountain
núi
·
SPRING + VERB
bubble
sủi bọt, nối bong bóng
A thermal spring bubbled up out of the rocks.
Một suối nước nóng từ những tảng đá sủi bọt ra.
·
SPRING + NOUN
water
nước
spring
verb
bật lên, chồm (tới), nhảy bật (lại), lao ra
-
ADV
suddenly
bất thình lính, đột ngột
| apart
tung ra, tách ra,
back
trở lại, ngược trở lại
down
xuống,
forward
tới,
về phiá trước,
out
ra,
up
lên
He sprang back in alarm
Nó hoảng hốt nhẩy bật/ngược/lui trở lại.
-
VERB + SPRING
be ready to, be waiting to
sẵn sàng,
đợi sẵn
The lion crouched, ready
to spring
Con sư tử thu mình, sẵn sàng nhảy chồm lên.
-
PREP
at
ở
Therese sprang at him and
kissed him on both cheeks
Therese nhẩy chồm vào hắn rồi hôn
hắn vào hai má,
into
vào trong,
out of
ra ngoài/khỏi
He sprang out of the car
Hắn nhào ra khỏi chiếc xe hơi.
-
PHRASE
spring open
bật mở tung ra, nậy tung ra
He worked a knife blade into the drawer and
it sprang open
Hắn nhét/luồn lưỡi dao vào ngăn kéo và nậy
bật tung ngăn kéo ra, spring to
action
nhẩy bổ vào hoạt
động
spring to attention
đứng phắt vào thế nghiêm
The sentry sprang to
attention
lính gác/canh đứng phắt vào hàng nghiêm
chỉnh/đứng phắt vào thế nghiêm
spring to your feet
đứng phắt dậy
She sprang to her feet and
ran to answer the doorbell
Cô ta đứng phắt dậy ra xem ai bấm chuông
ngoài cửa, spring to mind chợt nảy ra í nghĩ, nảy ra
trong đầu.
fairy
noun
tiên, nàng
tiên, tiên nữ, tiên ông, ông tiên
·
ADJ
good
tốt, hiền lành, hiền từ |
bad,
wicked
xấu, ác, ác độc
·
VERB + FAIRY
believe in
tin là có, tin vào/ở
paradise
noun
1 thiên đường, thiên đàng, cõi tiên,
vườn cực lạc
-
VERB + PARADISE
go to
đi đến/tới
They all expected to go to paradise.
-
PREP
in
~ trên
an angel in paradise
2
(chốn/nơi)
thần tiên, tuyệt hảo, tuyệt vời
·
ADJ
perfect
tuyệt hảo,
unspoilt
tuyệt vời, cao vời,
không vướng bụi trần
| beautiful
đẹp
lost
bị mất
the lost paradise
of
childhood
|
children's
của trẻ em,
walker's
của người đi bộ,
etc.
|
earthly
trần gian, trần thế,
island
hòn đảo,
tropical
vùng nhiệt đới
-
VERB + PARADISE
create
tạo dựng, làm thành, tạo thành
She worked on the garden
until she had created her own little paradise.
|
find
tìm thấy
They moved to the country
hoping to find paradise.
-
PARADISE + NOUN
island
đảo, hòn đảo
-
PREP
in
(a) ~
trong, ở, tại
We found ourselves in a tropical paradise.
| ~
for cho
The airport is a paradise
for pickpockets.
~
of
cuả
a paradise of golden
beaches
-
PHRASE
a paradise on earth
thiên đàng dưới hạ giới/trần gian.
Trịnh Nhật
Sydney, 11.10.2007
Trở về Trang Chính |