Anh Ngữ Học Mà Vui:

Mùa Xuân trên Cõi Tiên



 

 LTS. Bài học Anh ngữ nói chung chủ yếu là bàn về tiếng Anh thời sự, đã đọc được trên báo chí, nghe được trên đài phát thanh truyền hình, với các độc giả trong tinh thần “Tôi học, Anh học, Chị học, Em học, Chúng ta cùng học!”.  Các từ vựng, đoản ngữ, tục ngữ, thành ngữ, châm ngôn... tiếng Anh, tiếng Việt sẽ được lồng vào những mẩu chuyện vui, cà kê dê ngỗng, cốt là giúp cho người học dễ nhớ, vui mà học được. Những lời bàn tán ở đây nhất định không thể được coi là những lời “thánh phán”, mà các độc giả, tất nhiên có những người biết chuyện, sẽ được mời đóng góp ý kiến của mình hoặc đặt câu hỏi để chúng ta có dịp cùng nhau tìm hiểu, đồng thời chia xẻ niềm vui chung là học hỏi lẫn nhau. Bài học còn có thêm phần liệt kê những kết hợp ngữ (collocations) trong tiếng Anh, tiếng Việt để người học tham khảo.

 

Mùa Xuân trên Cõi Tiên

 

Bài học tuần này, xin được mở đầu bằng một lời chào mời (start with an invitation):

 

Hello everyone, you are welcome to visit Tạp chí Thứ Bẩy (Saturday Magazine): http://www.bbc.co.uk/vietnamese/magazine/ để đọc tản mạn về “ANHMV”, đã được Đài BBC trích đăng và biên tập thành nhiều mục hấp dẫn (intriguing topics), cùng với hình ảnh minh hoạ đẹp và khéo chọn (beautiful and well-chosen pictures).

 

Một trong những người đầu tiên vào viếng Mạng BBC đã thổ lộ (stated):

 

Tôi rất vui bắt gặp (to have come across) bài học Tiếng Anh “Học Mà Vui”  trên báo BBC. Những bài ông viết rất khôi hài và sâu sắc (very humourous and incisive) lại thực dụng (also of a practical nature) cho người học và nghiên cứu tiếng Anh thực dụng nữa. Rất mong ông có sức khoẻ (continued good health) và đóng góp gì thêm (contribute more) trên trang báo này (to this website) và cả của Đài VOA nữa. Ở Việt Nam sẽ biết nhiều về tính trào phúng rất hay đó của ông (your highly satirical writings), nếu có nhiều bài viết trên 02 Đài này (if your articles are carried on these two stations). Rất tiếc ông chưa có dịp ghé thăm Miền Trung và Tuy Hòa. Mong có dịp gặp ông (Looking forward to seeing you one day).

 

Tác giả lá thư này là ông Võ Dũng, Giám Đốc Trung Tâm Anh Ngữ Quốc Tế Duy Tân (DTC), mới thành lập (newly established) tại Tuy Hoà, Phú Yên. Qua người giới thiệu cách nay mấy tháng, tôi đã được ông mời thăm viếng Trung Tâm và hợp tác, cùng là tìm giúp cho Trung Tâm giáo viên tiếng Anh bản ngữ người Úc (Australian native-English teacher), vì họ hiện chỉ có một giáo viên bản ngữ người Mĩ, nên chưa đủ cung ứng cho số đông học viên (large number of students), gồm cả thiếu niên lẫn tráng niên.  Hi vọng chuyến đi Việt Nam sắp tới, tôi sẽ có dịp đến thăm Trung Tâm cuả ông và tìm lại kỉ niệm với Tuy Hoà sau hơn 4 thập kỉ.

 

Liên hệ đến chuyện dạy Anh Ngữ, anh bạn ở Toronto, Canada gửi “meo” (email) cho tôi thêm í kiến về việc làm của anh ấy như sau:

The proper term of this programme is L.I.N.C. [acronym (= chữ tắt) Language Instructions for Newcomers to Canada)] [Tiếng Anh cho Người Mới Đến Gia-Nã-Đại], prior to this it was given the name S.L.P. (Settlement Language Program), starting in the 1980s. All newcomers -- not yet acquired Canadian citizenship (regardless of stay in the country), legal residents status (có qui chế thường trú nhân) -- are eligible (đủ điều kiện được theo học). The courses are offered free (miễn phí), including childcare and some transportation subsidy (trợ cấp tiền giữ trẻ và phần nào tiền xe cộ chuyên chở).

Ở Úc hiện giờ, các thường trú nhân (permanent residents) được theo học miễn phí 510 giờ trong Chương trình AMEP (Adult Migrant English Program), ngày học 4 tiếng, tuần học 5 ngày. Chính tôi đã được tuyển vào dạy “Survival English” (Anh Ngữ sinh tồn/cứu sống/thực dụng) cho đồng bào tị nạn Đông Dương (Indo-Chinese refugees) lúc họ mới chân ướt chân ráo tới Úc (new arrivals/newly-arrived migrants/refugees to Australia) trong chương trình của Sở Giáo dục Di dân Tráng Niên [Adult Migrant Education Service (AMES)] trong thời gian 20 tháng (đầu 1978-cuối 1979), trước khi sang Anh Quốc làm việc.

Trong số những phản hồi, tôi xin kể sau đây:

Dear Frank, This and other informal lessons from you make for very good reading. Keep up the good work. Send emails to me via the other address: vienchu@gmail.com (CXV, Virginia, USA)

Kính gửi bác Trịnh Nhật. Tôi vẫn thích đọc bài viết của bác vì luôn có những khúc tiếu ngạo giang hồ, tuy không thiếu sự bén nhậy của tình người. (NCT, Melbourne, Australia)

 

Tôi còn nhận được ‘email’ phản hồi của một người em con chú con bác với tôi, hiện ở California, Hoa Kì:

“…Cám ơn những bài học Anh Ngữ, chắc chắn không ít thì nhiều cũng hữu ích. Tiện đây em cũng gởi đến anh vài góp ý xây dựng của 2 thằng bạn thân: thằng thứ nhất hiện ở Hanover đi du học từ năm 67, còn thằng thứ hai hiện ở Florida từ hơn 10 năm nay.”

 

Người bạn của chú em ở Hanover, Đức viết:

“´USA' tiếng Việt là nước Mỹ hay là nước Mĩ,  Hoa Kỳ hay là Hoa Kì?   Bên Việt Nam mình bây giờ tụi nhỏ học viết  Mĩ Tho hay là Mỹ Tho? Tại sao lại phải thay đổi thành chữ i (ngắn) thay vì chữ y (dài). Sự thay đổi này phải chăng chỉ có thất lợi mà thôi?”

 

Người bạn của chú em ở Florida, Hoa Kì viết:

“Có một ông thầy giáo tên là Nguyễn Ngu Í muốn hô hào viết chữ i thay cho chữ y, nhưng trong nhiều trường hợp của tiếng Việt đâu có thể thay thế được. Thí dụ: Thanh Thuý đâu có thể viết là: Thanh Thúi được.”

 

Chú em của tôi sau đó nêu nhận xét:

“Em thấy những thắc mắc về chữ iy là chính đáng. Em cũng đồng tình với ý kiến của thằng bạn thứ nhất và cũng đã tạm hài lòng với lối phân tách, giải thích của thằng bạn thứ hai. Xin lỗi anh nếu anh cho rằng em nhận xét như vậy là chưa đúng, em thấy là anh chịu nhiều ảnh hưởng về cách dùng chữ iy trong nước, có lẽ vì anh tiếp xúc nhiều với các giới chức trong nước nên bị ảnh hưởng chăng?”

 

Chú em của tôi viết tiếp:

“Riêng em có câu chuyện liên quan tới gia đình em: Hồi tháng 7/05 đại gia đình em cùng về VN (dự đám hỏi, cưới của Hà, con gái em) gồm 18 người, trừ bà già em (my mother) vào phút chót phải nhập viện bất ngờ (hospitalised unexpectedly/unexpected hospital admission) . Ở VN nhà trai đã lo, chuẩn bị mọi thứ nên cũng đỡ, đám hỏi và cưới diễn ra rất tốt đẹp (went off very well), em cũng đã gởi thiệp mời (sent invitations) ra ngoài Bắc [Hải-phòng (gia đình chị Nhạn) và Hà-nội (gia đình thím Chuẩn cùng gia đình Quang/Thúy, gia đình Thăng/Thu Hà, cùng gia đình Minh Hoa/Khải)], nhưng tất cả đều không vô được vì đường xá xa xôi, nhưng có gởi tiền mừng tổng cộng 3 “checks” (mỗi “check” 2 trăm ngàn tiền VN) ở đây điều đáng nói cả 3 “checks” đều gởi tên người nhận là em nhưng có sự rắc rối (trouble) là tên em có chữ lót (middle name) “Quí” mà cả 3 “checks” đều ghi chữ “Quý” (Trịnh Quí Mạnh thay vì Trịnh Quý Mạnh), thế là không được mặc dù bà xã em (my wife/missus) có trình bầy và đưa “passport” (hộ chiếu) cho họ xem nhưng vẫn không được, đành thôi vậy, về tới nhà em có điện thoại cám ơn những tình cảm mà họ hàng đã dành cho gia đình em. Ở Mỹ hoặc các nước khác, em tin chắc là đều nhận thấy sự hơi vô lý đó.  Em cũng nhớ hồi 79 đám cưới em, có chị Nhạn vào dự, em vẫn cảm kích lắm.”

 

Trong khuôn khổ bài học Anh Ngữ này, tôi không thể trả lời, giải thích cặn kẽ những điều tôi muốn nói về việc tại sao người ta lại muốn đổi cách viết chữ y (dài) thành i (ngắn), một thói quen đã “ăn sâu cắm rễ” trong tâm hồn người Việt khi họ đọc, họ viết tiếng mẹ đẻ của mình. Câu hỏi và những điều thắc mắc của chú em và bạn bè của chú ấy đã được nhiều người bàn đi bàn lại trên www.talawas.org trong 5 năm qua, trong đó phải kể đến các tác giả như Đoàn Xuân Kiên, Vũ Dũng, Ngô Cảnh, Nguyên Nguyên, kể cả bài viết của tôi với nhan đề là “Bắt được mùa Xuân tình cờ”, năm 2004 (Xin mời vào Mạng < www.talawas.org >, rồi bấm vào Mục Ngôn Ngữ).

 

“Mùa Xuân tình cờ” của tôi là một bài tôi dự định phỏng vấn ông thầy cũ về “tiếng Việt trước thềm thiên niên kỉ mới." Câu hỏi đã soạn sẵn, chờ trực để được trả lời, với hi vọng Thầy tôi sẽ làm sáng tỏ quan niệm của ông về việc cải cách chính tả tiếng Việt, nhưng rất tiếc là việc chưa thành thì ông đã sớm vĩnh viễn ra đi vào cuối Thu năm 2000, tại miền Bắc California, Hoa Kì.

Như tôi vẫn thường nói “người nào việc nấy”, “chó giữ nhà, mèo bắt chuột”, nên tôi dành thẩm quyền này cho Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đình Hoà, tác giả cuốn sách “Ngữ học Nhập Môn” (Introduction to Linguistics) [tài liệu học tập dành riêng cho Sinh viên Đại học Văn khoa Sài Gòn], in tại nhà in Bình Minh, 338 Trương Minh Giảng Sài Gòn, năm 1962. Khi đặt câu hỏi với ông, không phải là tôi không có sẵn câu trả lời, nhưng tôi vẫn muốn “mớm”, muốn “câu” ông Thầy cũ cuả tôi để được thông tin từ “người tinh tường/người biết rõ chuyện”(from the horse’s mouth), ít ra là uy tín hơn tôi.

Nay tôi xin trích lại một số câu hỏi để Quí Vị, Quí Bạn có một khái niệm về những suy tư của tôi:

Hỏi (1): Kính thưa Giáo sư Nguyễn Ðình Hoà,  qua những bài viết trên báo chí Việt ngữ đăng tại Mĩ, những điện thư của GS mà tôi đã được đọc, tôi nhận thấy GS bày tỏ mối quan tâm và qua đó ông đã đưa ra một số đề nghị liên quan đến vấn đề thống nhất chính tả và cải cách quốc ngữ. Như vậy hóa ra công trình chuyển tả, thiết lập hệ thống văn tự cho tiếng Việt của các giáo sĩ Dòng Tên phương Tây, trong đó có Alexander Rhodes,  ngay từ thuở ban đầu, cách nay ba thế kỉ, chưa được hoàn chỉnh hay sao?

Hỏi (2): Khi nói đến thống nhất chính tả, cải cách chữ quốc ngữ, GS đã dựa vào tiêu chuẩn (phương ngữ, âm tiết, dấu thanh điệu…) và bình diện (ngữ âm, âm vị, ngữ/hình vị, ngữ ý, chính tả…) nào để thống nhất, để cải cách?

Hỏi (3): Trước những tiến bộ của khoa học điện tử, dân chúng toàn cầu sống trong hậu bán thế kỉ 20 đã may mắn được hưởng lợi khá nhiều về mặt thông tin mà chữ viết, in ấn đóng vai trò chính yếu. Thưa GS, việc thống nhất chính tả, cải cách chữ quốc ngữ sẽ mang lại những lợi ích gì thực tiễn hơn nữa?

Hỏi (4): Ðứng trước một đất nước Việt Nam không có một Viện Hàn lâm Ngôn ngữ có thẩm quyền, đứng trước một cộng đồng người Việt hải ngoại sống rải rác trên toàn cầu mà ở đó tiếng Việt không phải là tiếng bản địa, GS hi vọng gì khi gióng lên tiếng nói cải cách chữ quốc ngữ trong khi thói quen vốn dĩ đã được coi là bản chất thứ hai (second nature) của con người?

Cuối cùng tôi còn kêu gọi:

Tôi rất mong được quí vị độc giả của “talawas” cho biết ý kiến thay cho Thầy tôi. Riêng những vị nào đã gom góp được những bài viết trước đây của Gs Nguyễn Ðình Hoà, Gs Bửu Khải, Gs Dương Ðức Nhự, Gs Cao Xuân Hạo v..v… liên quan đề tài “tu chỉnh văn tự" nêu trên, xin làm ơn trích dẫn chuyển đến diễn đàn “talawas” để chúng ta được rộng đường dư luận.

Riêng về cách viết i (ngắn) thay cho y (dài), thì tôi có thể tạm thời trả lời vắn tắt chú em tôi và bạn bè của chú là như thế này:

1.      Tôi không bắt chước hoặc bị ảnh hưởng do sự tiếp xúc nhiều với các giới chức trong nước, không phải là chuyện a dua, “thời thượng”, mà là vì đó là phạm vi nghiên cứu cho bằng Phó Tiến sĩ/Cao học Ưu hạng [MA (Hons)] về Ngôn Ngữ Học (Linguistics), 1978, tại Đại Học Macquarie, Australia, của tôi, mà đề tài là về âm vị học Việt Ngữ (Vietnamese phonology).

2.      Tôi có thể biện biệt việc chuyển đổi lối viết i (ngắn) thay cho y (dài), dựa trên cấu trúc âm tíết (syllabic pattern), trong khi phân tích âm hệ Việt ngữ (hệ thống âm vị học tíếng Việt = Vietnamese phonological system), qua các bài viết của Gs Nguyễn Ðình Hoà và Gs Dương Ðức Nhự. Các bài viết của những tác giả như Đoàn Xuân Kiên, Vũ Dũng, Ngô Cảnh, Nguyên Nguyên nói chung dựa vào chính tả, cách viết tiếng Việt, hay xa hơn nữa, quá lắm là dựa vào phân tính ngữ âm thực nghiệm/dụng cụ (experiemental/instrumental phonetics), và cũng vì thế mà làm vấn đề trở nên thêm rắc rối (overkill).

3.      Khi nói về bán mẫu âm [y ] ~ [ j ] hay  [w ], (còn gọi theo ngữ âm học là âm lướt (glide), trong đó âm lướt đi (off-glide), như  [aj ] ai, [aw] aoâm lướt tới (on-glide), như [jạ] dạ (giọng Nam), [wa] oa.  Sự phân biệt giữa Thúythúi, nếu sửa đổi chính tả cho phù hợp với lối chuyển tả âm vị thì sẽ được viết như thế này:  / thwí / Thúy , còn  /thúj/ ~ /thúy/  thúi.  Khác biệt giữa  / i / (nguyên âm) và [ j ] ~ [ y ] (bán mẫu âm) là ở chỗ đó.

Tôi xin hẹn một dịp khác để bàn kĩ càng về mô thức âm tiết (syllabic pattern) tíếng Việt trong đó / i / là một nguyên âm (vowel) còn [ y ] ~  [j ] được biện biệt như là bán mẫu âm (semi-vowel) mà thôi. Âm tiết đơn giản nhất là mẫu âm (viết tắt là V). Âm vị / i /, chứ không phải [ y ] ~ [ j ], là biểu hiện tối thiểu cho âm tiết đó. Một vài mô thức âm tiết  tiêu biểu là V ( í ), CV ( ), VC ( ) CVC ( mít ) trong đó V là vowel (= nguyên âm/mẫu âm); C là consonant (= tử âm/phụ âm).

Quí Vị Quí Bạn thân thương ơi! Bài viết đã khá dài, tôi xin trở lại chủ đề cho bài học tuần này là “Mùa Xuân trên Cõi Tiên” (Springtime in Paradise) cơ! Số là tối Thứ Sáu 5-10-2007 là Đêm Nhạc kỷ niệm 65 năm âm nhạc và ra mắt CD của Nhạc sĩ Xuân Tiên, được tổ chức tại Bankstown District Sports Club, 8 Greenfield Parade, Bankstown, với khoảng 600 người tham dự. Người tới dự mua 30$ Úc một vé, và được tặng một đĩa CD “Dâng Nắng”, gồm 14 bài do các ca sĩ “cây nhà lá vườn” ở Sydney trình bầy như Lê Xuân Hân (hát bài “Dâng Nắng”), Ái Phương (“Mùa Lá Vàng”), Anh Huy (“Trăng Khuya”), Mỹ Linh & Quốc Oanh (“Mây Chiều”), Analise Võ (“Hoài Vọng”“Tình Viễn Khơi”), Duy Tiến (“Chờ Anh Em Nhé”), Quỳnh Xuân (“Nhắn Mây”), Thu Hằng (“Mong Chờ”“Lửa Rùng”), Bích Hà (“Tình Đi Về Đâu”), Ngọc Oanh (“Đón Mùa Xuân Mới”), Minh Thư (Xa Quê Hương).

Bài học tuần này được dựa vào trích đoạn bài tôi viết giới thiệu nhạc sĩ Xuân Tiên trong Tuyển tập Ca khúc “Duyên Tình Xuân Tiên” bẩy năm trước đây:

“I came by Xuân Tiên (Spring Fairy) in a surprise encounter (trong một cuộc hội ngộ tình cờ), late in our lives (muộn màng trong tuổi đời), when our hair had turned to grey (khi cả hai đã bạc mái đầu). In the process of composing music which covers a period of over 60 years (trải dài hơn 60 năm), even though Xuân Tiên has written wistful songs (những bài hát bâng khuâng nuối tiếc) about longing for love and love of homeland, he did not want to bring into play the joy of pain (không muốn đem thú đau thương vào nhạc phẩm của ông). There are a number of compositions (sáng tác) which I have heard and liked (tôi đã nghe và mê thích), and only recenly finding out they were his (mà gần đây mới biết là của ông). Works such as Chờ anh em nhé! (Wait for me! My sweetheart), Mong chờ (Yearning and waiting), Duyên tình (Fated love), Xa Quê hương (Away from my homeland)…

The song, Chờ anh em nhé! (Wait for me! My sweetheart), would easily move people to raise their voices and start singing the first two lines in high and low cadence (cất cao giọng hát hai câu mở đầu lên bổng xuống trầm). In Mong chờ (Yearning and waiting), the composer uses a typically Central Vietnamese style melody (giọng Huế du dương), creating an imagery of a boat drifting (tạo ấn tượng một chiếc thuyền lênh đênh) on the Perfume River (sông Hương) in the old Imperial City, which fails to stop (không chịu ghé bến) and pick up a lover who has been waiting for a long time (khách tình nhân phải mỏi mắt trông chờ) on the bank of the river. In Duyên tình (Fated love), with typical Northern Vietnamese style rhythm (giọng điệu quan họ nhịp nhàng), village boys and girls compete with each other, singing and flirting, in the hope that they are destined to marry (hi vọng se mối duyên đời) through doing this. Whoever has heard Kim Tước sing Xa Quê hương (Away from my homeland), in her lovely, ethereal singing voice (giọng ca thanh cao, trong vắt), cannot help but be overwhelmed by the poinancy of homesickness (tràn ngập nỗi nhớ nhung quê hương vời vợi).

Quí Vị Quí Bạn thân mến! Với bài “Mùa Xuân trên Cõi Tiên” (Springtime in Paradise) tôi xin được “say good-bye/say farewell” (tạ từ/tạm biệt) cùng Quí Vị Quí Bạn, sau khi đã hoàn tất đợt 3, 10 bài (21-30) trong Loạt bài “Anh Ngữ Học Mà Vui” (“Learning English Can be Fun’ Series). Có một vị nữ lưu nào đó đã “vui” mà “ngẫu hứng”:

 

Ai cho em nửa nụ cười,

Em xin trả lại một đời tóc xanh!!!

Tạm dịch thành thơ:

[Whoever makes me smile, in truth,

I’ll give him all the days of my youth]

 

Thật không đấy? Một đời “tóc xanh” hay “tóc bạc”? Xin Quí Vị hỏi vị nữ anh hùng (heroine) Anh Thư!

 

Trịnh Nhật

Sydney, 11.10.2007

 

Kết hợp ngữ
(Collocations)

 

spring noun

1          Xuân, muà Xuân

  • ADJ last trước, qua, năm ngoái, next tới, sau, this (coming) sắp đến/tới | early sớm, late trễ, muộn mid- giữa | wet ướt át, mưa nhiều
  • SPRING + NOUN weather thời tiết | sun mặt trời, sunlight ánh sáng, sunshine nắng | frost/frosts sương muối, rain/rains mưa, wind gió | tide con nước, nước triều The highest spring tides of the year occur after the equinoxes in March and September Những con nước triều dâng cao nhất trong năm xuất hiện/xẩy ra sau những tiết cân phân vào tháng Ba và tháng Chín. | equinox phân điểm, điểm phân, tiết cân phân [một trong hai lần mỗi năm (khoảng 21.3 và 22.9) khi mặt trời đi qua xích đạo ngày và đêm dài bằng nhau] | term khoá, quí The students spend the whole spring term on teaching practice Sinh viên dùng trọn khoá học muà Xuân để dạy thực tập. | flower hoa | lamb thịt trừu/cừu, greens (tiếng Anh-Anh) bắp cải non mềm luộc chín và ăn như rau a delicious recipe for spring lamb công thức làm món ăn ngon dùng thịt cừu/trừu non mềm | clean, cleaning ‘mẻ’ làm sạch bóng, ‘cú’ làm sạch bóng/như lau như li They decided to give the attic a spring clean Chúng nó quyết định sẽ làm cho cái gác xép một phen sạch bóng. | collection quyên góp, thu nhặt exhibition triển lãm, đấu xảo.

2          lò-xo (bằng sắt hay thép)

·    VERB + SPRING break làm gẫy The children broke some springs                            jumping on the bed. Tụi nhỏ nhẩy trên giường làm giường bị gẫy mấy                    cái lò-xo

·    SPRING + VERB break, go bị gẫy/đứt Most of the springs have gone in the old sofa Phần lớn những chiếc lò-xo trong cái ghế xô-pha bị gẫy.

3  suối; suối nước phun lên

·        ADJ hot, thermal (nước) nóng | bubbling sủi, nổi bong bóng   mineral (nước) khoáng, mountain núi

·        SPRING + VERB bubble sủi bọt, nối bong bóng A thermal spring bubbled up out of the rocks. Một suối nước nóng từ những tảng đá sủi bọt ra.

·      SPRING + NOUN water nước

 

spring verb

bật lên, chồm (tới), nhảy bật (lại), lao ra

  • ADV suddenly bất thình lính, đột ngột | apart tung ra, tách ra, back trở lại, ngược trở lại down xuống, forward tới, về phiá trước, out ra, up lên He sprang back in alarm Nó hoảng hốt nhẩy bật/ngược/lui trở lại.
  • VERB + SPRING be ready to, be waiting to sẵn sàng, đợi sẵn The lion crouched, ready to spring Con sư tử thu mình, sẵn sàng nhảy chồm lên.
  • PREP  at Therese sprang at him and kissed him on both cheeks Therese nhẩy chồm vào hắn rồi hôn hắn vào hai má, into vào trong, out of ra ngoài/khỏi He sprang out of the car Hắn nhào ra khỏi chiếc xe hơi.
  • PHRASE spring open bật mở tung ra, nậy tung ra He worked a knife blade into the drawer and it sprang open Hắn nhét/luồn lưỡi dao vào ngăn kéo và nậy bật tung ngăn kéo ra, spring to action nhẩy bổ vào hoạt động spring to attention đứng phắt vào thế nghiêm The sentry sprang to attention lính gác/canh đứng phắt vào hàng nghiêm chỉnh/đứng phắt vào thế nghiêm spring to your feet đứng phắt dậy She sprang to her feet and ran to answer the doorbell Cô ta đứng phắt dậy ra xem ai bấm chuông ngoài cửa, spring to mind chợt nảy ra í nghĩ, nảy ra trong đầu.

fairy noun
tiên, nàng tiên, tiên nữ, tiên ông, ông tiên

·          ADJ good tốt, hiền lành, hiền từ | bad, wicked xấu, ác, ác độc

·        VERB + FAIRY believe in tin là có, tin vào/ở

paradise noun

1          thiên đường, thiên đàng, cõi tiên, vườn cực lạc

  • VERB + PARADISE go to đi đến/tới They all expected to go to paradise.
  • PREP  in ~ trên an angel in paradise

2                    (chốn/nơi) thần tiên, tuyệt hảo, tuyệt vời

·          ADJ perfect tuyệt hảo, unspoilt tuyệt vời, cao vời, không vướng bụi trần | beautiful đẹp  lost  bị mất the lost paradise of childhood | children's của trẻ em, walker's của người đi bộ, etc. | earthly trần gian, trần thế, island hòn đảo, tropical vùng nhiệt đới

  • VERB + PARADISE create  tạo dựng, làm thành, tạo thành She worked on the garden until she had created her own little paradise. | find tìm thấy They moved to the country hoping to find paradise.
  • PARADISE + NOUN island đảo, hòn đảo
  • PREP  in (a) ~  trong, ở, tại  We found ourselves in a tropical paradise. | ~ for cho The airport is a paradise for pickpockets. ~ of cuả a paradise of golden beaches
  • PHRASE  a paradise on earth thiên đàng dưới hạ giới/trần gian.

 

Trịnh Nhật

Sydney, 11.10.2007

 

Trở về Trang Chính