|
LTS.
Bài học Anh ngữ nói chung chủ yếu là bàn về tiếng Anh thời sự,
đã đọc được trên báo chí, nghe được trên đài phát thanh truyền
hình, với các độc giả trong tinh thần “Tôi học, Anh học, Chị
học, Em học, Chúng ta cùng học!”. Các từ vựng, đoản ngữ, tục
ngữ, thành ngữ, châm ngôn... tiếng Anh, tiếng Việt sẽ được lồng
vào những mẩu chuyện vui, cà kê dê ngỗng, cốt là giúp cho người
học dễ nhớ, vui mà học được. Những lời bàn tán ở đây nhất định
không thể được coi là những lời “thánh phán”, mà các độc giả,
tất nhiên có những người biết chuyện, sẽ được mời đóng góp ý
kiến của mình hoặc đặt câu hỏi để chúng ta có dịp cùng nhau tìm
hiểu, đồng thời chia xẻ niềm vui chung là học hỏi lẫn nhau. Bài
học còn có thêm phần liệt kê những kết hợp ngữ (collocations)
trong tiếng Anh, tiếng Việt để người học tham khảo.
Lo bò trắng răng
|
Trong lúc chờ đợi tìm
í cho bài viết cho muà nghỉ Lễ Phục Sinh (Easter
Holiday), tôi thả hồn viết đôi dòng thăm hỏi và chúc
lành cho nhóm bạn “đi rừng, đi bụi” (bushwalkers)
và giới thiệu họ vào mạng
www.khoahoc.net
để đọc bài “Mai ta vào Chuà trong” đã đăng trong
Tuần báo Dân Việt trước đây. Với tiêu đề “Mời
người lên xe hoa”, tôi viết:
Thân chào Các bạn hiền! Lâu không nghe
"tin …tức ...mình" gì cuả nhau!!! Chợt nghe văng vẳng
đâu đây một mẩu đối thoại trong truyện "Hồn Bướm Mơ
Tiên" cuả Khái Hưng:
- Chú đưa tay nải
đây cho tôi.
- Đưa làm gì?
- Thì chú cứ đưa
đây!
- Thì đây!
[Nếu ai không còn nhớ
câu chuyện tình lãng mạn giữa chàng thanh niên tên Ngọc
và chú tiểu Lan, gái giả trai đi tu, thì đây là đoạn đối
thoại khi Lan ra đón Ngọc lên đồi thăm chuà cuả ông chú
chàng]
Happy Easter to you
all!
 MTS
Không bao lâu sau khi viết “email” này,
tôi nhận được một “lời chào từ phương xa”, với nội dung
như thế này:
|
Anh
Trịnh Nhật kính mến. Nhiều khi ở gần (Sydney) mà thật xa. Vậy mà
khi ở xa lại nghe về anh ngày một, ngày hai. Số là, trong lần
họp bạn ở Washington DC cách đây vài ngày, tình cờ Loan gặp anh
Vũ Quang Bân, bạn cũ cuả anh, thế là tên cuả anh được nhắc tới
nhiều lần. Buổi tối ở khách sạn, trăn trở không ngủ được, mang
tờ Văn Nghệ cũ ra đọc, lại gặp bài anh viết tưạ "Cánh
đồng bất tận" (The endless pasture). Loan thích mấy câu anh
dịch về bài nhạc “All the Way” (Tha thiết, da diết, mãi
mãi không thôi). Cái lãng mạn tuyệt vời cuả anh, chắc chắn chết
sẽ mang theo để kiếp sau lãng mạn tiếp cho đời đáng yêu. Nằm
nghe News (Tin tức) bàn về Depression (Chứng trầm
cảm/Nỗi chán chường), Sadness (Niềm ưu buồn/ Nỗi phiền
muộn), Loneliness (Niềm đơn côi/Nỗi cô đơn)!!! Giữa tỉ tỉ
người mà sao mỗi cá nhân lại cô đơn não nùng như thế!
Một
ngày như mọi ngày
Buồn nhỏ giọt lên tay
Một ngày như mọi ngày,
Tôi trơ thành tĩnh vật! (trơ, không phải trở)
(Mì
ăn liền)
“Meo” cuả người em gái “lương y như từ mẫu” này đến với tôi thật
là lạ, như “hoa có một linh hồn”, vì “người đã đi xa”, mà nay
chỉ vọng về, tôi nào có hay? Người em gái cho biết tôi có “cái
lãng mạn tuyệt vời” ư? Thank you kindly! Người ấy cũng cho biết
“tên tôi được nhắc đến nhiều lần” ư? Xấu hay tốt? Chắc lại nói
là “Ảnh/Ổng ‘quậy’ lắm” chứ gì?
Vũ
Quang Bân là cựu Đại Úy Quân Y sĩ trong QLVNCH, đồn trú tại Quân
Y Viện Long Khánh, trước 75. Tôi biết Bân và đại gia đình gồm Bố
Mẹ và 8 anh chị em (4 trai 4 gái, Bân là con trưởng) từ giữa
thập niên 60 tại Sài Gòn. Cùng với một nhóm bạn, Bân và chúng
tôi đã làm báo cho Tập san của Hội Giáo sư Anh ngữ Trung học
Việt Nam (Vietnamese Association of High School Teachers of
English—VAHSTE), trong giai đoạn giữa thập niên 60 và đầu thập
niên 70.
Ngày 30
tháng Tư năm 1975, gia đình Bân chạy loạn, vượt biển sang Đảo
Guam, thì sau đó anh được tuyển chọn cùng với 24 y sĩ khác đã
tốt nghiệp tại Việt Nam về Arkansas, Tiểu bang nhà của Cựu Tổng
thống Bill Clinton, để theo học khoá đào tạo bác sĩ bổ túc đặc
biệt vào cuối năm 1975. Tôi nghe nói trong nhóm 25 bác sĩ học
lại, anh được bầu làm “hoa khôi” (beauty queen) đấy! Có í
tốt thôi! Chắc là vì “dáng cao, trắng trẻo, đẹp giai” chứ gì?
Hiền lành nữa là đằng khác. Không “quậy” là cái chắc!
Lúc đó
tôi đang học chương trình Cao học [Master’s Degree
(Honours)] ở Úc. Nhân dịp nghỉ hè khoảng tháng 11, 1975, tôi
liền bay sang Mĩ thăm bà con bạn bè sau “cuộc đổi đời/vật đổi
sao rời” (the so-called metamorphosis) ấy, và trong chuyến
đi này, ngoài việc thăm những người thân quen ở San Francisco,
Carbondale, (Illinois), Washington DC, Boston (Massachusetts),
Providence (Rhodes Island), tôi đã có dịp về ở chung với gia
đình Bân ở Little Rock (Arkansas), cả nửa tháng trời. Ai không
biết thì tưởng tôi thân với Bân là vì Bân có đến 4 cô em gái
khả ái/dễ thương (lovely sisters), trong đó có 2 cô “still
available” (còn không). Nhưng không, tôi xin thề! (I
swear). Ai đã biết tôi, thì họ chắc cũng biết rằng tôi chơi với
nhiều loại bạn lắm: hiền lành có, ăn chơi có, loại học hành khoa
bảng có, loại “sờ bụng thầy không một chữ gì” cũng có, cái hay
là mình đối tốt, có chân tình với nhau, bạn bè lúc khó đó mới
thực sự là bạn (a friend in need is a friend indeed), cứu
giúp được người khi họ có hoạn nạn, sẵn sàng tôn trọng, chiụ
đựng được những cái khác biệt cuả nhau.
Sau khi
tốt nghiệp thành bác sĩ Mĩ và làm việc 2 năm tại Little
Rock, theo hợp đồng (agreement/contract), thì Bân được về
mở phòng mạch tư (run a doctor’s surgery) ở Cali. Thời kì
đó, tôi đang làm việc với Đài BBC Luân Đôn (1979-1982), nên mỗi
khi tôi có dịp nghỉ phép thường niên (annual
leave), tôi thường sang Mĩ, và đều ghé thăm gia đình Bân, lúc Bà
Cụ thân sinh ra Bân còn sống.
Mới gần
đây, cuối năm 2005 chứ gì, tôi sang Mĩ chơi thăm bà con, bạn bè
ở vùng Santa Ana (Nam Cali), Stockton, Mountainview, Sacramento
(Bắc Cali), và rồi Tampa (Florida), thì sau đó lại được mời dự
đám cưới một đưá cháu gái, con cuả một cô em gái Bân, cháu
Vivian Tường Vi Vũ, kết hôn với chàng trai Mĩ gốc Nhật, Andrew
Hideki Yasutake. Đám cưới của hai cháu được tổ chức linh đình
tại nhà hàng Hyatt, khu đông người Việt, có Bân làm MC, có ca sĩ
Tuấn Ngọc [được trả thù lao (fee) 2.000 đô Mĩ một đêm] và
một số ca sĩ khác hát giúp vui cho tiệc dạ vũ (dinner
dance).
Lá thư
cuả “người từ phương xa” còn đoạn tiếp như sau:
Trong
một bài viết mới đây, anh nhắc lại hai câu thơ Bờ vai.
Bờ vai đó không
phải cuả ai cả, mà chỉ có trong mộng, như cả đời Loan vẫn đi tìm
mà không bao giờ gặp. Có thể vì Loan quá lý tưởng hoặc quá khó
khăn chăng? Do đó, như trong câu thơ ngày nào Loan viết: "Em
như thân ốc nhỏ, cuộn mình trong mộng du... tình yêu vẫn mịt mù…(Loan
không nhớ rõ mấy câu “mì ăn liền” này).
Trong
nhóm bạn bè, tôi đã đọc thông điệp (message) loại “kể
khổ” này khá nhiều lần. Câu thơ mà “mì ăn liền” (instant
noodles) không nhớ rõ thì thật ra nó có nguyên văn như thế này:
Niềm Đau cuả Đá, ai hay?
Con sâu nằm cuộn giấc dài mộng du,
Trong ta tình vẫn mịt mù…
Làm sao
tôi biết à? Xin Quí Vị, Quí Bạn vào Báo Mạng
www.khoahoc.net,
số tháng 3, năm 2006 (http://www.khoahoc.net/baivo/trinhnhat/230306-quehuongcondo.htm)
để đọc bài “Quê hương còn đó”.
Nói đến
Quê hương là nói đến mối bất đồng dai dẳng, lập đi lập lại giữa
người Việt chúng ta, cả trong lẫn ngoài nước.
Nhưng thôi, tôi xin tạm gác việc nước sang
một bên để nói về việc nhà cái đã.
Số là,
trong khoảng cuối tháng 3, 2007, cô Anh Thư nhà tôi gặp chuyện
“tai bay vạ gió". Bỗng đâu từ trên trời rơi xuống (out of
the blue), cảnh sát gọi điện thoại về nhà báo tin cho cô biết
rằng chiều ngày 27 tháng 3, 2007, cô lái xe đụng/tông vào một
chiếc xe hơi khác rồi bỏ chạy (‘hit and run’ accident), tài
xế xe kia đã ghi bảng số xe (number plate) và đã nhận
diện đúng loại xe, màu xanh lá cây (green) và màu
trắng bạc (silver) cuả cô là xe Terios, loại Daihatsu, ngoại
diện giống FW Drive nhưng nhỏ bề ngang hơn. Cảnh sát cho biết
vào khoảng 3 giờ hơn chiều hôm Thứ Ba đó cô lái xe trong vùng
Auburn và đã tông vào một xe khác, gây hư hại cho xe đó rồi bỏ
chạy. Cô bèn “thanh minh thanh nga” (explained) trong
điện thoại là lúc đó cô vừa rời sở ở Bonnyrigg, tức là cách xe
nơi đụng xe đến 40 phút lái xe, để đi bơi và tập gym
(gymnastics = thể vận) ở Whitlam Centre thuộc khu vực Liverpool.
Cảnh sát nghe cô nói là nghe vậy thôi, chứ họ vẫn hẹn ngày cho
cô lại bốt cảnh sát Auburn (Auburn police station) để họ
lấy lời khai (statement) chính thức và đồng thời kiểm
tra (inspect) xem xe cuả cô bị hư hại ra sao. Cô Anh Thư,
tên cuả cô nghiã chữ là nữ anh hùng (= heroine) đấy chứ
chẳng phải chuyện chơi, thế mà cô lo lắng, bồn chồn, gọi điện
thoại cho hết người này đến người khác, kể lể khúc nôi, hết giờ
này đến giờ khác, ngày này qua ngày khác. Ai mà nghe được câu
chuyện lập đi lập lại như thế chắc chắn là phải sốt ruột, sốt
gan.
Cô Anh
Thư đã đến trình diện cảnh sát đúng ngày giờ hẹn, sau khi đã hỏi
tới hỏi lui người này người khác kể cả luật sư bạn bè, ghi nhận
nhưng cú điện thoại từ sở gọi đi cho những ai vào giờ mà được
báo cáo là lúc tai nạn xảy ra. Trong đó có cú điện thoại gọi cho
tôi vào khoảng 3 giờ 30 chiều, là lúc tôi còn đang làm việc
thông dịch (interpreting assignment) tại bốt cảnh sát
Cabramatta, để báo cho tôi biết là cô không thể tới đón tôi
(pick me up) bằng xe được, và cô trên đường ra hồ bơi
(swimming pool). Cô nghĩ là nếu cần cô có thể dùng những cú điện
thoại nói trên để làm bằng chứng (evidence), là cô không
có mặt tại chỗ tai nạn xẩy ra. Danh từ luật pháp cuả loại bằng
chứng này là alibi (bằng chứng ngoại phạm/không có mặt
tại hiện trường).
Tôi
không muốn kể thêm dài dòng mà chỉ nhấn mạnh một điều là cô biết
là cô không gây tai nạn, cô không bỏ chạy, và xe cuả cô không có
trầy xước đáng kể nào, mà cô vẫn bị căng thắng tinh thần
(get stressful) cả tuần lễ. Cô còn căng thẳng tinh thần hơn nữa
khi cảnh sát nói họ sẽ đưa cô ra Toà để cô chứng minh là mình
vô can/vô tội (not guilty) trước Toà. Cô Anh Thư còn có lí
do khác để lo lắng, để bị căng thẳng thần kinh (under
stress) vì theo cô nói cô sợ có kẻ nào thù vặt, dùng chi tiết xe
hơi cuả mình làm nhiều chuyện động trời khác. Tôi, người sống
chung/người chồng (partner/husband), vô hình trung trở thành
nạn nhân (victim) cuả chuyện “tai bay vạ gió”
(unexpected calamity) vì được nghe đầy tai câu chuyện “trời ơi
đất hỡi” này. Có lúc tôi nói đuà với Cô Anh Thư là cô đã “lo con
bò trắng răng”.
Nói đến
chuyện “lo bò trắng răng” là nói đến ai đó hay lo lắng vu vơ, lo
những chuyện không đâu, những chuyện không đáng phải lo. Răng
cuả bò thì lúc nào chả trắng. “Bò trắng răng” là một sự thật
hiển nhiên.
Trở lại
chuyện tranh cãi trong cộng đồng về việc biểu tình chống mấy
buổi trình diễn văn nghệ ca hát (variety shows) tại mấy
thành phố lớn ở Úc, sau muà nghỉ Lễ Phục Sinh (Easter
Holiday), trong đó, ngoài các nghệ sĩ từ Mĩ qua, còn có các nghệ
sĩ, và 2 danh hài từ Việt Nam qua, với Luật sư Trịnh Hội là một
trong hai MCs (Emcees = Người giới thiệu chương trình).
Tôi đã nghe, đã đọc quan điểm của Ban Chấp hành Cộng đồng, qua
Bác sĩ Nguyễn Mạnh Tiến, quan điểm riêng tư của Luật sư Trịnh
Hội, cũng như cuả riêng ba cơ quan truyền thông: Nhật Báo
Chiêu Dương, Tuần Báo Nhân Quyền, và Đài phát thanh
2VNR, liên hệ đến “con ngáo ộp” (big bogey-man) Nghị
Quyết 36.
Tôi xem
ra có nhiều điều chia sẻ với quan điểm sáng suốt, thức thời của
Ls Trịnh Hội. Xin nói thêm ở đây là: tôi Trịnh Nhật không có bà
con gì với Trịnh Hội, mặc dù tôi được nghe là nhà báo Nhất Giang
cuả Nhật Báo Chiêu Dương nói đuà, “nhắn với” cho cô Anh
Thư biết Trịnh Hội là em Trịnh Nhật. Tôi chỉ gặp mặt-đối-mặt
(face-to-face) với anh Luật sư “trẻ tuổi, cao ráo, đẹp trai”
và “có lòng” này, một lần duy nhất là khi anh đi cùng với Nữ Bác
sĩ Lâm Kim Loan tới dự tiệc sinh nhật và tiệc ăn mừng tôi lãnh
bằng Tiến sĩ về Ngôn ngữ học (PhD in Linguistics) vào năm
2002. Thế thôi!
Quí Vị,
Quí Bạn thân thương cuả tôi ơi! Đế làm nền cho bài học Anh Ngữ
tuần này, tôi xin trích lại những đoạn tôi viết bằng tiếng Anh
cách đây 7 năm, liên hệ đến việc biểu tình chống Nghị Quyết
210 (Decision 210) hồi đó.
Chúng
ta đạt được những thành quả gì qua những sinh hoạt chống đối
tính đến năm 2000?
When
making an assessment of our Australian Vietnamese community's
past activities, I think some questions should be raised. Who
has openly protested against overseas Vietnamese sending money
home? (Ai đã biểu tình ngăn cấm đồng bào hải ngoại gửi tiền
về nước?) Who has 'dobbed in' his or her Vietnamese fellow
countrymen at airports heading 'home' for a visit? (Ai đã
‘chỉ điểm’ đồng hương/đồng bào người Việt ở phi trường lên đường
về nước thăm nhà?) Who has vocally protested about the goods
and foodstuffs imported from Vietnam? (Ai đã bô bô phản đối
hàng hoá và thực phẩm nhập cảng từ Việt Nam sang?) Who has
harassed the theatrical groups from Vietnam and their audiences
(Ai đã khủng bố/sách nhiễu tinh thần những người đi xem cải
lương, ca nhạc, muá rối nước do nghệ sĩ từ Việt Nam qua trình
diễn?) After 25 years, let us look back and see what
achievements have been accomplished in respect of the above
situations. I believe that those, who are our community leaders,
should ultimately take into account the idea of 'the state of
the nation and the will of the people (Thế nước, lòng dân)'.
All too often, we are concerned with the vocal minority
(thiểu số ồn ào) rather than the silent majority (đa số
thầm lặng).
Chống
những hoạt động tư nhân nhằm mục đích thương mại văn hoá, nghệ
thuật ư?
Why should we not think there are individuals in Vietnam, as
well as in Australia, and not just the Vietnamese government,
who would like to make 'a fast buck' by commercialising the Arts
(những người muốn kiếm chút cháo bằng cách thương mại hoá nghệ
thuật)? If they want to raise their flag in a foreign land to
show off their artistic achievements or as the Vietnamese say
"To take your bell and strike it in a strange land"(Đem
chuông đi đấm xứ người) and it is of poor quality (chuông
tịt), then no one will come to watch. But reality shows that
the people vote with their feet (dân chúng bỏ phiếu bằng
chân), and literally swarm around to patronise these cultural
and creative troupes.
Hi vọng
mối lo âu chống các buổi trình diễn ca hát, văn nghệ, giúp vui
với các nghệ sĩ đến từ Mĩ, từ Việt Nam do Trịnh Hội và Nguyễn
Cao Kỳ Duyên làm MCs chỉ là mối “lo con bò trắng răng.”
Trịnh Nhật
Sydney, 10
tháng 4, 2007
Kết hợp ngữ
(Collocations)
worried
adj
lo lắng, bồn chồn, áy náy
§
VERB be, feel, look, seem xem ra, coi
bộ | get trở nên I started to get worried
when they didn't arrive home.
§
ADV deeply, desperately, dreadfully,
extremely, frantically,
genuinely, particularly, really, seriously, terribly,
very vô cùng,
cực kì, rất là | increasingly càng ngày càng
tăng/nhiều | a bit, quite, rather, slightly đôi chút, một
ít, khá, hơi | rightly đúng Citizens in inner-city
areas are desperately worried
and rightly so.
§
PREP
about về We were really worried about you!
§
phrase
worried sick
She was worried sick about her
son.
worry
noun
(sự, nỗi, niềm) lo âu, lo lắng,
bồn chồn, áy náy
§
ADJ big,
considerable, great, main, major, real, serious lớn, to
lớn, thật sự, nghiêm trọng Paying the mortgage is a big worry
for many people.
o Her
mother's poor health caused her considerable worry.
o My greatest
worry is that he'll do something stupid. |
growing, increasing
ngày càng tăng | slight nhỏ | day-to-day
thường nhật, hàng ngày | constant liên tục, triền miên
The money side of things has been a constant worry.
| unnecessary
không cần thiết, vô bổ She gave her parents unnecessary worry
when she forgot
to phone them. |
immediate tức thì, trước mắt, ngay bây giờ đây My
immediate worry
is money Nỗi lo
âu trước mắt cuả tôi là tiền.
| nagging, niggling
dai dẳng, canh cánh bên lòng I had a nagging
worry that we weren't going to get there Tôi có
mối lo canh cánh là chúng ta sẽ không tới nơi đó được. |
secret bí mật, thầm kín | business
doanh nghiệp,
economic kinh tế, financial tài chính, money
tiền bạc | health sức khoẻ It was a relief
to share my secret
worries with him
Thật là nhẹ cả mình được chia xẻ những nỗi lo âu thầm kín cuả
tôi với chàng.
§
VERB
+ WORRY have có That year he had
major health worries
Năm đó chàng ta có những mối lo âu lớn về sức khoẻ.
| be beset by bị bao vây bởi, bị ám ảnh bởi, bị đe doạ bởi She
wanted to enjoy her retirement
without being beset by
financial worries.
| be frantic/ill/out
of your mind/sick with
bị điên cuồng lên, phát bệnh, mất trí I didn't know
where he was and
I was frantic with worry.
| express biểu lộ |
share chia sẻ |
cause (sb), give (sb)
tạo ra, gây ra,
đưa đến (cho ai) | arouse, prompt khơi gợi, nhắc
nhở đến The earth tremors
prompted worries of a second major earthquake
Các cơn điạ chấn gây ra những
mối lo lắng về một trận động đất lớn thứ hai.
| add to, increase cộng
thêm vào, làm tăng thêm The fact that she heard
nothing from him only increased her worry Sự
thể là cô ta không nghe tin gì từ riêng anh làm cho cô thêm lo
lắng. | forget quên Try and forget your worries
for a little while
Cố gắng quên đi mối lo âu cuả bạn trong chốc lát xem nào.
| ease làm giảm/nhẹ bớt | remove, take out gạt bỏ, loại trừ
Take the
worry out of travelling with our holiday insurance offer
Tránh khỏi lo âu khi du lịch bằng cách lấy bảo hiểm cho ngày
nghỉ.
§
worry +
VERB disappear biến mất, hết | prove
groundless/unfounded
chứng
tỏ/cho thấy vô căn cứ/không có cơ sở Most of Nigel's worries
proved groundless Phần lớn những lo âu cuả Nigel đã chứng tỏ
là vô căn cứ.
§
prep
amid ~
trong số
The pound has fallen to a new low amid
worries that the British economy is heading for trouble Đồng
bảng Anh lại mất giá thêm nữa giữa những có mối lo ngại là nền
kinh tế Anh rồi sẽ gặp khó khăn.
with ~
với, bởi
He was sick with worry about everything Chàng ta lo sốt vó
về mọi chuyện. | ~ about về,
~ over
về They
will not have worries over money Họ sẽ không có những mối lo
lắng về tiền bạc. ~ to cho, đối với
His
mother's health
is an enormous worry to him
Sức khoẻ cuả mẹ
hắn là mối lo âu vô cùng lớn đối với hắn.
§
phrase
cause for worry
lí do/nguyên nhân cho nỗi lo lắng There is no immediate cause
for worry,
free from worry, freedom from worry, have no
worries on that account/score
không chút lo
lắng/ bận tâm gì vì lí do/vấn đề đó The staff all
work very hard—we've
got no worries on that account Toàn thể nhân viên đều làm
việc rất chăm chỉ/cật lực—chúng ta không phải lo lắng gì về
mặt/chuyện đó, the least of
your worries
cái ít lo lắng/lo âu nhất cuả bạn When he lost his job, the
size of his flat was
the least of his worries
a source of worry
nguồn gốc/rường mối lo âu Money is a constant source of
worry Tiền bạc là rường mối lo âu thường xuyên/canh cánh bên
lòng.
worry
verb
lo âu, lo lắng, bận tâm
§
adv
a lot, particularly, really, terribly
nhiều, đặc biệt, thật sự, kinh khủng She worries a lot
about crime
Cô ta lo lắng nhiều về tội phạm,
o What really worries me is
what we do if
there's nobody there
Điều làm tôi thật sự lo lắng là những gì chúng tôi làm mà không
có ai hiện diện ở đó.
| slightly chút ít,
phần nào | needlessly, unduly, unnecessarily vô ích, vô
bổ, không cần thiết You do worry unnecessarily, you know
Bạn quả là lo lắng vô bổ/không đâu vào đâu, bạn biết chứ.
| not too much không quá nhiều/quá đáng Don't worry
too much about it Đừng lo buồn quá nhiều về chuyện
đó/việc ấy. | constantly liên miên, liên tục,
thường xuyên
§
VERB + WORRY not let sth, not need to
đừng để (cái gì) làm cho Don't let it worry you unduly Đừng
để điều đó/chuyện ấy làm cho anh lo lắng quá đáng. |
begin to bắt đầu, khởi sự | tell sb not to bảo/biểu
ai đừng
§
prep
about
về/cho Don't worry about me, I’ll be fine
Chớ bận tâm về tôi,
tôi lo được mà
with
bằng, với
Don't worry the
driver with unnecessary requests Đừng
làm cho tài xế lo lắng/bận
tâm bằng những yêu cầu/đòi hỏi không cần thiết.
§
phrase
enough/nothing
to worry about
có đủ/không có
gì để lo lắng về Don't
bother Harry—he
has enough to worry about as it is Đừng làm phiền Harry--hắn
có đủ chuyện để phải lo như hiện có rồi . Stop
worrying
Thôi đừng/Chớ
có lo lắng nữa Stop worrying, Dad, we'll be fine Thôi
đừng lo nữa. Ba/Bố à, chúng con rồi đâu cũng vào đó thôi
worry yourself sick/to
death (nôm na/thông tục)
Làm cho mình lo lắng điên lên/chết vì lo lắng/lo bắn (toé)
khói/lo muốn chết.
worrying
adj
lo lắng, lo âu, bận tâm, muộn phiền
§
verb
be
§
ADV deeply,
extremely, particularly, seriously, terribly,
very
sâu xa,
vô cùng, đặc biệt, cực kì, khủng khiếp, rất là
| a bit, rather,
slightly
đôi chút, khá,
hơi, sơ sơ
Trịnh Nhật
Sydney, 10 tháng 4, 2007
Trở về Trang Chính |