|
Trịnh
Thanh Thủy (TTT): Chào Giáo sư
Trần Quang Hải. Là một nhạc sĩ chuyên về nghệ thuật cổ truyền
Việt Nam đương đại và nhạc đương đại Tây phương, GS nghĩ
thế nào về hai ngành nghề GS đang theo đuổi, liệu hai ngành này
có nguy cơ mai một hay sụp đổ không?
GS Trần Quang Hải (TQH):
Là một nhạc sĩ nhạc truyền thống Việt Nam và nhạc đương đại Tây
phương từ hơn 40 năm tại Pháp, có thể tôi có một cái nhìn khác
với một số nhạc sĩ tại quốc nội. Đôi lúc, tôi nghĩ mình được may
mắn hơn người khác, tỷ như:
-
Tôi sinh ra trong một gia đình nhạc sĩ cổ
truyền từ hơn 150 năm, là đời thứ 5 trong gia đình họ Trần
và được hấp thụ hai nền âm nhạc Đông Tây.
-
Cái may mắn thứ hai là tôi được học suốt 10
năm, vừa thực tập vừa học lý thuyết nhạc Á châu tại Trung
tâm nghiên cứu nhạc Đông phương (Centre of Studies for
Oriental Music) tại Paris do thân phụ tôi làm giám đốc. Tôi
được học nhạc truyền thống Ả rập, nhạc Ba Tư, nhạc Ấn độ,
nhạc Trung quốc, Đại Hàn, Nhật, Nam Dương. Chính sự tiếp xúc
trực tiếp với những truyền thống nhạc dân tộc của các quốc
gia Á châu qua các nhạc khí mà tôi luyện tập đã làm giàu số
vốn âm nhạc sẵn có trong tôi, và mở rộng tầm mắt tôi trong
việc sáng tác và trình diễn.
-
Cái may thứ ba là tôi học nhạc cổ điển Tây
phương ở trường quốc gia âm nhạc Sài Gòn (1955-61), và sau
đó theo học lớp sáng tác nhạc điện thanh (electro-acoustical
music) năm 1965 với cố nhạc sư Pierre Schaeffer, người sáng
lập ra nhạc điện tử (electronic music), và nhạc cụ thể
(concrete music).
-
Cái may thứ tư là tôi học môn nghiên cứu
nhạc học (musicology) tại đại học đường Sorbonne (1962-67)
để có dịp nghe tất cả loại nhạc cổ điển Tây phương từ thời
Trung cổ tới đương đại (Schönberg, Xenakis, Boulez, v.v.).
Từ năm 1962 tới 1969 tôi học thêm bộ môn dân tộc nhạc học
(ethnomusicology) để khám phá gia tài âm nhạc truyền thống
thế giới.
-
Cái may thứ năm là tôi được đào tạo thành
một nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, thủ đô của văn
hóa và văn minh thế giới, và tạo cả một sự nghiệp âm nhạc từ
hơn 40 năm qua. Tôi thuộc thế hệ tiên phong của bộ môn
nghiên cứu dân tộc nhạc học, tham gia tích cực vào phong
trào chấn hưng dân nhạc tại Pháp và Âu châu từ năm 1965 tới
1975.
- Cái may thứ sáu là tôi
vừa là nhà nghiên cứu và vừa là nhạc sĩ trình diễn. Tôi đã
trình diễn trên 3.000 buổi tại hơn 60 quốc gia trên thế
giới, tham gia tại hơn 130 đại hội liên hoan nhạc truyền
thống quốc tế.
Về nhạc cổ truyền, cách đây 50 năm, ít có ai để ý tới nhạc cổ
truyền nói chung. Nhạc sĩ Ravi Shankar, một danh cầm đàn Sitar
Ấn độ, đã chinh phục Tây phương từ cuối thập niên 50. Ông còn là
thầy của George Harrisson (một nhạc sĩ của nhóm The Beatles),
của John Coltrane (Jazz). Ông đã làm vang danh nhạc Ấn độ khắp
nơi trên thế giới. Ảnh hưởng của nhạc Ấn độ có thể tìm thấy ở
nhạc đương đại Âu Mỹ (sáng tác của nhà soạn nhạc Pháp Jacques
Charpentier), ở nhạc trẻ pop (The Beatles, và nhiều nhóm nhạc
pop khác trong thập niên 60 ở Anh Quốc). Nhạc cổ truyền Nam Mỹ,
đặc biệt của xứ Péru, Bolivia đã xâm chiếm thị trường nhạc mới
suốt thập niên 60. Rồi tới nhạc Phi Châu, nhạc RAI Ả rập, nhạc
du mục Gypsy Đông Âu trong thập niên 70 và 80. Hiện tượng nhạc
thế giới (World Music) được phát hiện vào giữa thập niên 80 là
sự giao lưu giữa nhạc cổ truyền và nhạc trẻ Tây phương đã giúp
cho giới trẻ thế giới khám phá những truyền thống âm nhạc cổ xưa
của các lục địa. Gần đây nhất, kỹ thuật hát đồng song thanh của
dân Tuva, dân Mông cổ, và dân Xhosa (Nam Phi) được thế giới khâm
phục. Cách đây 30 năm, nguyên cả xứ Tuva và xứ Mông cổ chỉ có
khoảng vài chục người biết về kỹ thuật hát hai giọng cùng lúc
này. Năm 2004, tại hai quốc gia vừa kể có trên 3.000 người hát
chuyên nghiệp và hàng năm đều có tổ chức đại hội liên hoan hát
đồng song thanh. Nhạc Phật giáo Tây Tạng rất được ưa chuộng từ
hơn 40 năm. Ống thổi Didjeridu của thổ dân Úc trở thành nhạc khí
rất được ưa thích tại Âu Mỹ từ 1990. Đàn môi Mông của miền
thượng du Bắc phần Việt Nam trở thành nhạc khí bán chạy nhất ở
Âu Mỹ, đến nỗi có một người Đức đã làm một trang nhà lấy tên là
Đàn Môi chuyên bán đàn môi Mông (www.danmoi.de),
một phần lớn là nhờ vào sự biểu diễn đàn môi Mông do tôi trình
diễn từ hơn 20 năm nay tại nhiều đại hội liên hoan nhạc dân tộc
trên thế giới. Nhạc đàn gamelan của Nam Dương, nhạc cung đình
Gagaku, nhạc tuồng Kabuki, nhạc múa rối Bunraku, nhạc đàn tranh
koto của Nhật, nhạc cung đình Ah Ak, nhạc đàn tranh kayakeum của
Đại Hàn, nhạc đàn cổ cầm Trung quốc, nhạc cung đình Huế, ca trù,
múa rối nước của Việt Nam được thế giới ngưỡng mộ. Sự phát triển
và bành trướng nhạc cổ truyền Á châu và thế giới nói chung, và
Việt Nam nói riêng, đã cho thấy là nhạc dân tộc ngày càng được
phổ biến rộng rãi chứ không có mai một hay sụp đổ...
Nhạc đương đại Tây phương được dạy tại hầu hết các trường quốc
gia âm nhạc khắp năm châu. Sự giao lưu giữa các nhạc ngữ cổ điển
và dân gian đã tạo một trường phái mới cho nền âm nhạc thế giới.
Những nhà sáng tác nhạc đương đại gốc Việt đang sống ở hải
ngoại, có thể kể: Cung Tiến, Nghiêm Phú Phi, Phan Quang Phục ở
Hoa kỳ; Nguyễn Văn Tường (từ trần 1996), Trương Tăng (từ trần
1989), Tôn Thất Tiết, Nguyễn Thiên Đạo, Trần Quang Hải ở Pháp,
Hoàng Ngọc-Tuấn, Nguyễn Mạnh Cường, Lê Tuấn Hùng, Đặng Kim Hiền
ở Úc châu. Chỉ có Trần Quang Hải, Hoàng Ngọc-Tuấn, Lê Tuấn Hùng
và Đặng Kim Hiền là vừa sáng tác và vừa trình diễn nhạc của
mình.
Gia đình tôi (GS Trần Văn Khê, em gái tôi Trần Thị Thủy Ngọc và
tôi) đã đào tạo hàng trăm nhạc sinh Việt và ngoại quốc về đàn
tranh tại Pháp. Bạch Yến và tôi đã có mặt tại trên cả trăm đại
hội liên hoan nhạc quốc tế và trình diễn cả ngàn chương trình
tại trên 60 quốc gia. Nữ nhạc sĩ Phương Oanh và nhóm Phượng Ca,
sau 35 năm kiên trì đã tạo hàng nghìn nhạc sinh đàn tranh và các
nhạc khí khác tại Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ, Na Uy, Úc, Canada, và luôn
cả ở Việt Nam. Nữ nhạc sĩ Quỳnh Hạnh cũng mở lớp dạy đàn tranh,
bầu, trưng, thu hút khá nhiều nhạc sinh tại Paris. Nhóm Hồng Lạc
ở Canada, nhạc sĩ Phạm Đức Thành, nhạc sĩ Khắc Chí, Bích Ngọc ở
Canada, nhạc sĩ Nguyễn Thuyết Phong, nữ nhạc sĩ Ngọc Dung, nhóm
Lạc Việt ở Hoa kỳ, đã có nhiều sinh hoạt nhạc dân tộc ở khắp Bắc
Mỹ.
Nhìn vào nhạc quốc nội, sự phục hưng hay tái sinh của nhạc cung
đình Huế (Ngày 7 tháng 11. 2003, UNESCO ban tặng một giấy khen
nhìn nhận Nhạc Cung Đình Huế là «kiệt tác phi vật thể và truyền
khẩu của nhân loại» - Chef d’œuvre de l’oral et de l’héritage
intangible de l’humanité / Masterpiece of the Oral and
Intangible Heritage of Humanity), ca trù, chầu văn, múa rối nước
và sự phát triển đàn tranh (nhờ sự đóng góp của nhạc sư Nguyễn
Vĩnh Bảo, nữ nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan, nữ nhạc sĩ Phương Bảo, hai
nữ nhạc sĩ trẻ Hải Phượng và Thanh Thủy) đã làm cho nhạc cổ
truyền khởi sắc với nhiều chuyến đi trình diễn ở nước ngoài từ
15 năm nay. Các nhóm nhạc sĩ trẻ như Phù Đổng, Tre Xanh, nhạc sĩ
Đỗ Lộc, Phạm Thúy Hoan, Hải Phượng, ban ca trù Thái Hà, đoàn múa
rối nước Hà nội và Thành phố HCM, cũng như nhiều nghệ sĩ cải
lương có mặt thường xuyên tại nhiều đại hội liên hoan quốc tế.
Viện âm nhạc Hà nội (32 Nguyễn Thái Học, Hà Nội) là nơi tàng trữ
hàng chục ngàn bài hát dân ca, xuất bản nhiều CD, VCD nhạc dân
tộc Kinh và các sắc tộc Thái, Gia Rai, Ba-Na, v.v., sách nghiên
cứu âm nhạc nói chung, và một phòng triển lãm hàng trăm nhạc khí
dân tộc. Bao nhiêu đó đủ cho thấy nhạc cổ truyền Việt Nam vẫn
còn sống mạnh tại hải ngoại cũng như trong quốc nội.
TTT: Tôi được biết Giáo Sư có nghiên cứu, thí nghiệm
và giảng dạy về kỹ thuật hát đồng song thanh (overtone singing).
Giáo Sư có thể cho độc giả biết nó là gì? Và kỹ thuật này có ứng
dụng được vào âm nhạc Việt Nam không? Giả dụ một bài tình ca hay
dân ca chẳng hạn?
TQH: Hát đồng song thanh là hát cùng một lúc ra hai giọng
ở hai cao độ khác nhau. Một giọng trầm phát ra từ cổ họng tức là
giọng chánh (fundamental sound) và một giọng bổng thoát ra từ
những bồi âm (overtones) của giọng chánh. Mỗi bồi âm mang một số
chỉ định thứ tự cao độ. Điểm quan trọng cần phải biết trong cách
hát đồng song thanh là làm sao phải giữ nguyên một cao độ cố
định trong khi đó phải di chuyển các bồi âm theo một giai điệu
nào đó tùy theo bài bản lựa chọn trong giới hạn giữa bồi âm số 4
và bồi âm số 16. Người Mông cổ và người Tuva chuyên sử dụng bồi
âm từ số 6 tới 13. Nếu tôi bắt đầu giọng chánh là Do thì các bồi
âm 6, 7, 8, 9, 10, 12, 13 sẽ có cao độ là Sol, La, Do, Ré, Mi,
Sol tức là các nốt của một âm giai ngũ cung. Những bài hát thuộc
âm giai ngũ cung của các quốc gia khác đều có thể hát với âm
giai ngũ cung tạo bởi bồi âm, chẳng hạn như bài “Amazing Grace”.
Cái khó thứ ba trong cách hát đồng song thanh là làm sao hãm
giọng chánh cho thật nhỏ để cho bồi âm được nghe lớn hơn. Cách
này có thể luyện tập với phương pháp nín hơi trong cách lặn dưới
nước
Hát đồng song thanh (danh từ này do tôi đề nghị có nghĩa là hát
hai giọng cùng một lúc) trong khi người Mông cổ và người Tuva
dùng từ ngữ KHOOMEI (có nghĩa là “giọng hầu”). Hát đồng song
thanh được phát triển tại Âu châu từ hơn 30 năm nay nhờ vào công
trình nghiên cứu của tôi khởi xướng từ năm 1969 tại Paris. Thế
giới âm nhạc Tây phương chỉ biết nghệ thuật tạo bồi âm của các
nhà sư Tây Tạng thuộc nhánh Gyuto của trường phái Gelugpa (Dalai
Lama thuộc trường phái này) qua cách tụng kinh giọng thật trầm
và phát ra bồi âm số 10 (quãng 3 trưởng trên 3 bát độ đối với
cao độ của giọng chánh của người hát). Nhà soạn nhạc Đức
Stockhausen soạn một ca khúc “Stimmung” cho 6 giọng vào năm
1968. Nhưng nghệ thuật hát lạ lùng này chưa được phát triển cho
lắm. Phải đợi tới năm 1974, khi dĩa hát “Chants mongols et
bouriates” do hãng dĩa Vogue phát hành, theo tài liệu thu thanh
của GS Roberte Hamayon và do tôi lựa chọn, rồi khi tôi đã khắc
phục kỹ thuật này và bắt đầu dạy và phổ biến khắp Âu châu, thế
giới nhạc Tây phương bắt đầu khám phá hát đồng song thanh. Đầu
thập niên 80, hát đồng song thanh Tuva được phát hiện qua đại
hội liên hoan giọng hầu tại xứ Tuva và một vài ca sĩ Tuva giới
thiệu cách hát này tại Âu Mỹ. Lúc đầu tại Mông cổ và Tuva chỉ có
vài chục ca sĩ hát kỹ thuật giọng hầu khoomei. Bây giờ (2004),
có tới vài ngàn ca sĩ chuyên môn hát khoomei trình diễn khắp các
nơi trên thế giới, nổi tiếng nhất của Mông cổ là các ca sĩ
Sundui, Tserendava, Ganbold, các nhóm Eschiglen, Altai Kanga,
các ca sĩ Genadi Tumat, Mongush Kandar, các nhóm Huun Huur Tu,
Shu De, Tuva Ensemble, v.v.
Năm 1995, tôi được mời làm chủ tịch cuộc thi hát giọng hầu tại
thủ đô Kyzyl, xứ Tuva, Tây bá lợi Á, với sự tham gia của trên
300 ca sĩ Tuva, và trên 100 thí sinh thuộc các quốc gia Mông cổ,
Altai, Khakassia, Nhựt Bổn, Pháp, Hòa Lan, Đức, Canada, Hoa Kỳ.
Tôi được mời làm hội viên danh dự của hội ca sĩ hát khoomei của
Tuva, hội viên danh dự của Trung tâm quốc tế giọng hầu
(International Center of Khoomei). Từ hơn 10 năm nay, đề tài hát
đồng song thanh được một số sinh viên nghiên cứu dân tộc nhạc
học chọn làm đề tài cho thạc sĩ (M.A. / Maitrise), tiến sĩ
(Ph.D. / Doctorat). Tôi đã theo dõi và hướng dẫn trên 10 luận án
về đề tài này do các sinh viên thuộc các trường đại học Pháp,
Đức,Hòa Lan, Ý, Na Uy, Nhật. Hát đồng song thanh có liên hệ tới
âm thanh học (acoustics), y học (phoniatrics), âm nhạc điều trị
học (music therapy), tâm lý điều trị học (psychotherapy) và sáng
tác (composition).
Trong lĩnh vực dạy ca hát, tôi đã dạy nhiều lớp master classes
tại các trường âm nhạc nổi tiếng thế giới như trưòng âm nhạc
Tshaikovsky ở Moscow (Nga), Paris (Pháp), trường âm nhạc hoàng
gia Nhật ở Tokyo (Nhật), trường âm nhạc hoàng gia ở Rotterdam
(Hòa Lan), hàn lâm nhạc viện ở Basel (Thụy Sĩ). Một số đông các
ca sĩ chuyên nghiệp Tây phương đã theo học với tôi để học cách
giữ hơi, hãm hơi, lấy hơi. Trong cách hát đồng song thanh, cách
thở ra hít vào hoàn toàn khác với kỹ thuật dạy về thở ở các
trường âm nhạc.
Trong lĩnh vực trị bịnh, hát đồng song thanh giúp cho người nhút
nhát bớt nhút nhát, người bị cà lăm bớt cà lăm (nói lắp), mang
lại tự tin cho người tập loại hát này. Ngoài ra loại hát này
giúp cho người học Yoga có hơi thở dài hơn, cho người học khí
công có nhiều điện lực hơn và cho người học Thiền có nhiều nghị
lực tập trung tư tưởng trong khi ngồi thiền.
Từ trên 30 năm nay, có hơn 7000 người theo học với tôi từ 60
quốc gia. Hiện nay có khoảng 20 người học trò Tây phương theo
học với tôi đã mở lớp dạy hát đồng song thanh và bành trướng môn
phái hát đồng song thanh do tôi đề xướng tại Âu châu từ 1972.
Áp dụng vào trong nhạc Việt Nam: Về nhạc đương đại, tôi là người
đầu tiên dùng hát đồng song thanh trong nhạc điện thanh qua bài
“Về Nguồn” soạn chung với cố nhạc sĩ Nguyễn văn Tường từ năm
1972 và trình diễn lần đầu vào năm 1975. Sau đó Lê Tuấn Hùng tại
Melbourne (Úc), rồi Hoàng Ngọc-Tuấn tại Sydney (Úc) có dùng hát
đồng song thanh trong những sáng tác mới. Trong dân nhạc Việt
Nam, tôi có thu bài “Cò lả” với kỹ thuật hát đồng song thanh
trong dĩa 33 vòng “Music of Vietnam / Tran quang Hai & Hoang
Mong Thuy”, hãng Albatros sản xuất, Milan, Ý, 1978.
Các bạn có thể vào đây xem video về kỹ thuật hát đồng song
thanh:
http://www.canalu.com/canalu/affiche_programme.php?
programme_id=1440745852&chaine_habillage=512
&vHtml=0&cycle_id=&num_sequence=&largeur=1024
Dùng quang tuyến X để xem bên trong miệng khi hát đồng song
thanh:
http://media.cines.fr/ramgen/3517/real/
canalu/science/1440745852/1440745852-1.rm
http://honque.com/PhongVan/pvTQH/
SongThanh_LaMelodieDesHarmoniques.mp3
http://honque.com/PhongVan/pvTQH/
SongThanh_LaMelodieDesHarmoniques.ra
TTT: Giáo sư đang hoạt động trên hai lĩnh vực song
song: “âm nhạc cổ truyền” và “âm nhạc đương đại”. Theo Giáo sư,
hai hoạt động này đóng góp thế nào cho âm nhạc hải ngoại nói
riêng và âm nhạc Việt Nam nói chung? Có thể nào chúng ta vừa bảo
tồn và giới thiệu di sản âm nhạc cổ truyền với thế giới, vừa
phát huy sáng tạo hay ứng dụng nó vào âm nhạc đương đại? Có khó
khăn không?
TQH: Với trên 3.000 buổi trình diễn nhạc Việt Nam ở hải
ngoại từ 1966 tới nay, tôi lúc đầu và từ 1978 cùng với Bạch Yến
đã mang dòng nhạc Việt qua tiếng đàn tranh, đàn cò, sinh tiền,
muỗng, đàn môi và giọng hát đến với cộng đồng quốc tế và Việt
Nam để cho thấy sự phong phú của nhạc dân tộc. Những buổi thuyết
trình tại các đại học đường hay hội thảo quốc tế giúp cho người
ngoại quốc hiểu thêm về sự đa dạng của các loại nhạc Việt và các
sắc tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam. Đó là hình thức giới thiệu
nhạc Việt Nam với thế giới.
Muốn hội nhập vào thế giới âm nhạc Tây phương, tôi đã sáng tác
giai điệu mới dựa trên các thang âm ngũ cung, chế biến tiết tấu
mới lạ dựa trên kỹ thuật đánh trống Việt Nam (toong, tà- roong,
táng, cắc, rắc, trắc, sậm, tịch, rù, v.v.), áp dụng vào kỹ thuật
gõ muỗng (với trên 10 kỹ thuật mới do tôi sáng tạo). Tôi đã dùng
tiếng đàn tranh, đàn môi, muỗng, hát đồng song thanh trong nhạc
điện thanh (electro-acoustical music) do cố nhạc sĩ Nguyễn Văn
Tường và tôi hợp tác với nhau trong nhạc phẩm “Về Nguồn” trình
bày lần đầu tiên vào tháng 2. 1975 tại thành phố Champigny,
Pháp. Tôi đã ứng dụng tiết tấu muỗng vào nhạc tùy hứng tiết tấu
để trình diễn với trống zarb của Ba Tư (1972) với free jazz đối
thoại với saxo tenor (1982) (dĩa hát 33 vòng “SHAMAN”, hãng
Didjeridou Records DJD 001, Paris, 1983, tôi cùng nhạc sĩ Misha
Lobko song tấu tùy hứng), đàn môi, hát đồng song thanh với ống
thổi Didjeridu của thổ dân Úc (1997) (dĩa CD “Philip Peris /
Didjeridu”, hãng Les 5 Planètes, Paris, 1997, tôi cùng Philip
Peris tùy hứng qua hai nhạc phẩm trong CD này). Tôi đã hòa đàn
môi Việt với các loại đàn môi Na Uy, Anh quốc, Nhật Bản trong
một CD chuyên về đàn môi xuất bản tại Na Uy (2000). Tôi sử dụng
kỹ thuật hát đồng song thanh để đệm cách tụng kinh Mantra Tây
Tạng (2004) tại đại hội liên hoan nhạc quốc tế tại Genova, Ý.
Tôi đã dùng âm thanh của đàn tranh, đàn bầu, đàn cò, muỗng, sinh
tiền, đàn môi, hát đồng song thanh cho nhạc các phim thương mại
của các nhà viết nhạc phim Pháp như Vladimir Cosma, Philippe
Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, Jean Claude Petit từ 1970
tới nay.
Lúc đầu tiên, tôi gặp rất nhiều khó khăn vì không biết phải làm
thế nào để cho thế giới biết tới nhạc Việt Nam. Với thời gian và
học hỏi trường kỳ, cũng như với tuổi đời và sự tham gia hàng năm
tại các chương trình dân nhạc thế giới, tôi đã gọt giũa những gì
thừa thãi, không ích lợi mà chỉ giữ lại những tinh hoa sáng giá
và đặc trưng của nhạc Việt. Kinh nghiệm được rút tỉa qua hàng
ngàn buổi trình diễn nhạc Việt cho trẻ em Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ và
Na Uy đã giúp tôi làm một chương trình hoàn hảo để chinh phục
người ngoại quốc qua các buổi giới thiệu nhạc cổ truyền Việt
Nam.
TTT: Xin Giáo Sư cho độc giả biết thêm về mình và
những hoạt động cùng thành tựu trong lĩnh vực Giáo sư hoạt động.
TQH: Những hoạt động của tôi từ 40 năm qua được kê khai
trên các trang nhà (www.tranquanghai.org;
http://tranquanghai.phapviet.com). Đứng về mặt nghiên cứu , tôi
là hội viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế như Society
for Ethnomusicology (Hoa kỳ từ năm 1969), Asian Music Society
(Hoa kỳ từ năm 1980), International Council for Traditional
Music (Hoa kỳ từ năm 1969), European Seminar for Ethnomusicology
(Đức từ năm 1983), Société Francaise d’Ethnomusicologie (sáng
lập viên từ năm 1985), International Society for Musicology
(Thụy Sĩ từ năm 1977), International Society of Sound Archives
(Na Uy từ năm 1978 tới 1995). Tôi vào làm việc cho Trung tâm
quốc gia nghiên cứu khoa học (National Center for Scientific
Research) của Pháp từ năm 1968, chuyên về ngành dân tộc nhạc học
thuộc nhóm nghiên cứu nhạc dân tộc có trụ sở tại Musée de
l’Homme (Viện Bảo Tàng Con Người) ớ Paris quận 16. Nơi đây tôi
được đặc trách giao phó về nhạc Việt Nam và nhạc sắc tộc ở Việt
Nam. Sau đó tôi chuyên về nghiên cứu các kỹ thuật giọng hát trên
thế giới và trở thành chuyên gia về hát đồng song thanh có uy
thế nhất trên thế giới. Tôi được mời dạy tại trên 100 trường đại
học ở khắp năm châu, tham gia trên 50 hội nghị quốc tế về âm
nhạc, viết cho tự điển âm nhạc New Grove Dictionary of Music and
Musicians (ấn bản 1980 và 2002) và nhiều tự điển âm nhạc khác ở
Âu châu, viết 4 quyển sách về nhạc thế giới, có bài viết trong
12 quyển sách tập thể về nhạc truyền thống (xuất bản tại Pháp,
Hoa kỳ, Đức, Lituania, Ý, Anh Quốc, Nhật, Việt Nam) và trên 400
bài viết về nghiên cứu âm nhạc bằng tiếng Pháp, Anh và Việt. Tôi
đã thực hiện chung với một nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học gốc
Thụy Sĩ tên là Hugo Zemp một cuốn phim 16 ly tựa là “ Le chant
des harmoniques” (the Song of Harmonics / Bài hát bồi âm vào năm
1989) đã gặt hái 4 giải thưởng quốc tế. Năm 2004, tôi đồng thực
hiện với Luc Souvet một DVD về hát đồng song thanh tựa là “Le
chant diphonique” do Trung tâm quốc gia tài liệu sư phạm (CNDP –
Centre National de Documentation Pédagogique) của đảo La
Réunion, Pháp sản xuất. Ngoài ra tôi hướng dẫn trên 10 luận án
về hát đồng song thanh của các sinh viên thuộc đại học Pháp,
Đức, Ý và Na Uy.
Về trình diễn âm nhạc với tư cách nhạc sĩ, tôi đã tham gia trên
150 đại hội liên hoan nhạc cổ truyền quốc tế, trình diễn trên
3.000 buổi giới thiệu nhạc Việt Nam tại 60 quốc gia cùng với
Bạch Yến. Chúng tôi đã diễn trên 1.500 buổi cho học sinh các
trường tiểu trung và đại học do các cơ quan chính phủ các nước
Na Uy (Rikskonsertene), Pháp (Jeunesses Musicales de France
JMF), Bỉ (Jeunesses Musicales de Belgique JMB), Thụy Sĩ
(Jeunesses Musicales Suisses JMS), Úc châu (25 chương trình tại
các tỉnh Melbourne, Sydney, Brisbane, Perth). Đối với cộng đồng
người Việt hải ngoại, mỗi năm chúng tôi dành 10 chương trình
giới thiệu nhạc dân tộc tại những nơi có người Việt cư ngụ từ
gần 30 năm qua.
Về sáng tác nhạc, tôi là hội viên của hội tác quyền Pháp (SACEM
– Société des Auteurs, Compositeurs et Editeurs de la Musique)
từ năm 1980. Số lượng bài hát đủ các loại (tân nhạc, nhạc cho
đàn tranh, đàn môi, đàn bầu, hát đồng song thanh, nhạc điện
thanh, nhạc tùy hứng) tổng cộng trên 500 bài đã được cầu chứng.
Ngoài ra tôi còn là hội viên của hai cơ quan bảo vệ nghệ sĩ
trình diễn của Pháp (ADIDAM, và SPEDIDAM).
Về mặt báo chí, tôi viết cho nhiều báo nghiên cứu nhạc dân tộc
của nhiều xứ trên thế giới. Ngoài ra tôi viết cho trên 30 tờ báo
Việt ngữ ở hải ngoại, đặc biệt có nhiều bài đăng ở các trang nhà
trên mạng lưới như
www.vietnhac.org;
www.honque.com;
www.talawas.org.
Về mặt tiểu sử, tôi là cố vấn quốc tế (international adviser)
của hai hội tiểu sử nổi tiếng nhất thế giới là WHO’S WHO của Hoa
kỳ (American Biographical Institute ABI) và WHO’S WHO của Anh
Quốc (International Biographical Centre IBC). Từ 25 năm nay, tôi
đã đề nghị nhiều người Việt có tiểu sử ở một trong 26 loại tự
điển Who’s Who. Tiểu sử của tôi có trong 15 loại tự điển tiểu sử
Who’s Who, quyển Vẻ Vang Dân Việt (1996) Trọng Minh, quyển Fils
et Filles du Việt Nam (1997) Trọng Minh, Tuyển Tập Nghệ Sĩ
(1995) của Trường Kỳ. Tôi là nhạc sĩ Việt Nam chuyên nghiệp đàn
cho nhạc các phim của Pháp về nhạc có màu sắc Á châu có tên
trong quyển Guide Du Show Business từ 30 năm nay.
Về mặt các giải thưởng quốc tế, tôi đã thu thập trên 30 giải
thưởng, đặc biệt là những giải thưởng sau đây:
1967: Giải Vua Muỗng (King of Spoons) tại Cambridge Folk Music
Festival
1983: Giải thưởng của Hàn lâm viện dĩa hát Charles Cros cho dĩa
hát “Vietnam / Tran Quang Hai & Bach Yen” (hãng dĩa SM, Pháp)
1986: Huy chương vàng của Hàn lâm viện văn hóa Á châu, Pháp
1990: Giải thưởng ưu hạng của Đại hội liên hoan quốc tế về Phim
nghiên cứu tại Parnu, Estonia cho cuốn phim “Le chant des
harmoniques” (Bài hát bồi âm) do tôi là đồng tác giả, diễn viên
chánh và nhạc sĩ sáng tác nhạc cho phim
1990: Giải thưởng phim hay nhứt về dân tộc nhạc học của Hàn lâm
viện khoa hoc Estonia cho phim “Le Chant des Harmoniques”
1990: Giải thưởng về nghiên cứu khoa học của đại hội liên hoan
quốc tế phim nghiên cứu cho phim “Le chant des harmoniques”,
Palaiseau, Pháp .
1991: Giải thưởng ưu hạng Northern Telecom của đại hội liên hoan
quốc tế phim khoa học của Québec cho phim “Le chant des
Harmoniques”, Montréal, Canada.
1991: Giải thưởng Van Laurens của British Association of the
Voice và Ferens Institute, Luân đôn, Anh quốc
1995: Giải thưởng đặc biệt về hát đồng song thanh, đại hội liên
hoan quốc tế hát đồng song thanh, Kyzyl, Tuva
1996: Huy chương thủy tinh (Medal of Cristal) của Trung Tâm Quốc
gia nghiên cứu khoa học, Pháp
1997: Giải thưởng của Hàn lâm viện dĩa hát Charles Cros cho CD
Voices of the World, Pháp .
1998: Huy chương công dân danh dự thành phố Limeil Brévannes,
Pháp
2002: Bắc đẩu bội tinh (Legion d’Honneur) của Pháp
TTT: Công việc bảo tồn, phát huy và sáng tạo âm nhạc
cổ truyền Việt Nam thật khó nhọc và lớn lao. Giáo sư có ai tiếp
sức không? Giáo sư có ước vọng gì trong tương lai? Nếu có thể
Giáo sư sẽ làm được gì cho nền âm nhạc Việt Nam?
TQH: Đối với nhạc cổ truyền Việt Nam, ở hải ngoại tôi
không có ai tiếp nối. Điều rất dễ hiểu, học nhạc không phải là
đối tượng của đa số người Việt di tản. Âm nhạc chỉ là thú tiêu
khiểu hơn là cứu cánh trong cuộc đời. Tôi nghĩ là sự phát huy
nhạc cổ truyền Việt Nam phải từ trong xứ Việt Nam chứ không thể
từ bên ngoài đưa vào. Bổn phận của tôi chỉ là dọn chỗ, lót đường
để cho người ngoại quốc khám phá và tìm hiểu nhạc Việt thêm khi
có dịp viếng thăm đất nước Việt Nam. Mặt khác là mang lại cho
những trẻ em sinh ra và lớn lên ở hải ngoại những hình ảnh âm
thanh của văn hóa Việt để các em đừng quên cội nguồn. Sau đó khi
các em có dịp quay về quê hương, sẽ không bị bỡ ngỡ.
Ước vọng của tôi là một ngày nào đó tôi có dịp trở về quê hương
với điều kiện thuận tiện, tôi sẽ mang lại cho tất cả những trẻ
em Việt Nam hay những sinh viên âm nhạc những kinh nghiệm mà tôi
đã thu thập ở hải ngoại, trao lại gia tài âm nhạc mà tôi đã lĩnh
hội, hấp thụ suốt cả cuộc đời cho dân tộc Việt. Chỉ có ở Việt
Nam là tôi hy vọng tìm được người thừa kế di sản âm nhạc tôi để
lại. Ngày đó chưa biết là lúc nào, nhưng tôi tin rằng sẽ có ngày
đó trước khi tôi vĩnh viễn ra đi.
Ý
kiến, Phê bình xin gửi về:
trinhthanhthuy@khoahoc.net
Trở về Trang Chính
|