Bài
viết này được mặc thảo theo đề nghị của Giáo sư trợ giảng Hàn
Hiếu Vinh tức Xiaorong Han (Khoa Lịch sử và Nhân loại học, ĐH
Butler – Hoa Kỳ). Hy vọng đây sẽ là đóng góp nhỏ vào nỗ lực mà
ông Hàn đang ôm ấp cùng một số đồng nghiệp tại Trung Hoa lục
địa: Hóa giải những mâu thuẫn lịch sử quốc gia giữa Việt Nam và
Trung Hoa trên cùng một chủ đề nước Nam Việt thời Tây Hán.
Tuy
vậy, góc nhìn ở đây sẽ bị ràng buộc bởi khuôn khổ những giả
thuyết tổng thể về cổ sử Việt Nam trong “Một cách tiếp cận những
vấn đề cổ sử Việt Nam” mà tác giả đã từng giới thiệu trên báo
điện tử talawas và hiện lưu trữ tại kho sách vnthuquan.net.
Qua
đây, tôi cũng xin thay mặt ông Hàn gửi lời mời trân trọng đến
các cây bút chuyên nghiệp hơn góp thêm tiếng nói, hầu đa dạng và
phong phú hóa các quan điểm Việt Nam về Nhà Triệu và nước Nam
Việt.
1.
Những mô tả về nước Nam Việt của hiến sử Việt Nam trước năm
1400:
Tập
hiến sử đầu tiên của Việt Nam còn bảo tồn dược đến hôm nay là An
Nam Chí Lược của Lê Tắc (viết năm 1335). Ở quyển Đệ nhất Lê Tắc
xếp nhà Triệu là khởi triều, nếu không kể một ít nguồn gốc Giao
Chỉ - Việt Thường dựa vào tích “Giao Chỉ chi nam hữu Việt Thường
quốc” được nhiều sách đời sau dẫn từ Thượng Thư Đại truyện. Song
có một phần sự kiện liên quan được kê cứu như cổ tích.
Nhà
Tần (246-207 trước công nguyên) lấy Giao Chỉ làm Tượng-Quận; đến
khi nhà Tần loạn thì Đô-uý quận Nam-hải là Triệu-Đà nổi binh
đánh lấy hết các quận quốc, rồi tự lập làm vua. Khi ấy,
Hán-Cao-Tổ sai Lục-Giả qua lập Đà làm Việt-Vương. Sau khi Cao-Tổ
băng, Cao-Hậu cấm Nam-Việt mua đồ sắt của Trung-Quốc, Đà tiếm
hiệu xưng đế, rồi phát quân đi đánh Trường-Sa. Văn-đế lại sai
người đưa thư qua trách Đà. Đà có ý sợ, bèn bỏ hiệu đế, nguyện
làm tôi và cống hiến phẩm vật.
Năm
Kiến-Nguyên thứ 3, (vua Võ-đế, 142 trước công nguyên) Đà mất,
con cháu họ Triệu truyền
xuống bốn đời, kể được hơn chín mươi năm.
Võ-đế sai Chung-Quân đi sứ qua Nam-Việt để dụ vua Việt tên là
Hưng vào chầu, Hưng muốn đi, nhưng bị tướng Lữ-Gia can ngăn, vua
không nghe, Gia làm phản, nổi binh đánh giết vua và cả sứ-gả nhà
Hán, lập Kiến-Đức là anh khác mẹ lên làm vua Nam-Việt.
Năm
Nguyên-Đinh thứ 5 (112 trước công nguyên), Vệ-Uý là Lộ-Bác-Đức
xuất mười vạn quân qua đánh Nam-Việt, năm thứ sáu, mới đánh bại
người Việt, lấy đất đó chia làm các quận: Nam-Hải, Thương-Ngô,
Uất-Lâm, Hợp-Phố, Giao-Chỉ, Cửu-Chân, Nhật-Nam, Châu-Nhai và
Đam-Nhỉ, mỗi quận đặt Thái-thú để cai trị.
Phần“Cổ
tích”
Việt-Vương-Thành, tục gọi
là thành Khả-Lũ, có một cái ao cổ, Quốc-vương mỗi năm lấy ngọc
châu, dùng nước ao ấy rửa thì sắc ngọc tươi đẹp.
Giao-Châu Ngoại-Vực-Ký chép: hồi xưa, chưa có
quận huyện, thì Lạc-điền tuỳ theo thuỷ-triều lên xuống mà cày
cấy. Người cày ruộng ấy gọi là Lạc-Dân, người cai-quản dân gọi
là Lạc-Vương, người phó là Lạc-Tướng, đều có ấn bằng đồng và dải
sắc xanh làm huy hiệu.
Vua
nước Thục, thường sai con đem ba vạn binh, đi chinh phục các
Lạc-Tướng, nhân đó cử giữ đất Lạc mà tự xưng là An-Dương-Vương.
Triệu-Đà cử binh sang đánh. Lúc ấy có một vị thần tên là
Cao-Thông xuống giúp An-Dương-Vương, làm ra cái nỏ thần, bắn một
phát giết được muôn người.
Triệu
Đà biết địch không lại với An-Dương-Vương, nhân đó trú lại huyện
Võ-Ninh, khiến Thái-Tử Thuỷ làm chước tá hàng để tính kế về sau.
Lúc
Cảo-Thông đi, nói với vua An-Dương-Vương rằng: "Hễ giữ được cái
nỏ của ta, thì còn nước,
không giữ được thì mất nước".
An-Dương-Vương có con gái tên là Mỵ-Châu, thấy Thái-Tử Thuỷ lấy
làm đẹp lòng, rồi hai người
lấy
nhau. Mỵ-Châu lấy cái nỏ thần cho Thái-Tử Thuỷ xem, Thuỷ xem rồi
lấy trộm cái lẩy nỏ mà đổi đi. Về sau Triệu-Đà kéo quân tới đánh
thì An-Dương-Vương bại trận, cầm cái sừng tê vẹt được nước vào
biển đi trốn, nên Triệu-Đà chiếm cả đất của An-Dương-Vương. Nay
ở huyện Bình-Địa, dấu tích cung điện và thành trì của
An-Dương-Vương hãy còn.
Đại
Việt sử ký (Lê Văn Hưu – 1272)
Năm
1272 Lê Văn Hưu viết xong bộ Đại Việt sử ký gồm 30 quyển. Hiện
nay sách này đã thất truyền. Theo Trần Trọng Kim, quyển sử ấy
chép việc từ Triệu Vũ Vương đến Lý Chiêu Hoàng.
Đại
Việt sử lược (Khuyết danh - năm 1388)
Sách
này đầu tiên kể đến Hoàng Đế, một vị vua truyền thuyết của Trung
Hoa không thống thuộc được Giao Chỉ. Qua đời Trang Vương (696 –
682 TCN) thì vua Hùng xuất hiện. Phần truyền thuyết về họ Triệu
trong An Nam Chí Lược đã được biên tập bớt hoang đường.
Cuối
đời nhà Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi rồi
lên thay.
Phán
đắp thành ở Việt Thường, lấy hiệu là An Dương Vương rồi không
cùng với họ Chu thông
hiếu
nữa.
Cuối
đời nhà Tần, Triệu Đà chiếm cứ Uất Lâm, Nam Hải, Tượng quận rồi
xưng vương đóng đô ở
Phiên Ngung, đặt quốc hiệu là Việt, tự xưng là Võ Vương.
Lúc
bấy giờ An Dương Vương có thần nhân là Cao Lổ chế tạo được cái
nỏ liễu bắn một phát ra
mười
mũi tên, dạy quân lính muôn người.
Võ
Hoàng biết vậy bèn sai con là Thủy xin sang làm con tin để thông
hiếu.
Sau
nhà vua đãi Cao Lỗ hơi bạc bẽo.
Cao
Lỗ bỏ đi, con gái vua là Mỵ Châu lại cùng với Thủy tư thông.
Thủy phỉnh Mỵ Châu mong được xem cái nỏ thần, nhân đó phá hư cái
lẫy nỏ rồi sai người trình báo với Võ Hoàng. Võ Hoàng lại cất
binh sang đánh. Quân kéo đến, vua An Dương Vương lại như xưa là
dùng nỏ thần thì nỏ đã hư gẫy, quân lính đều tan rã. Võ Hoàng
nhân đó mà đánh phá, nhà vua ngậm cái sừng tê đi xuống nước. Mặt
nước cũng vì ngài mà rẽ ra.
Đất
nước vì thế mà thuộc nhà Triệu.
Câu
cuối cùng trong phần trích trên là lí do căn bản để Đại Việt sử
lược xếp nhà Triệu là một triều đại Việt Nam, kéo dài 93 năm với
các đời vua: Triệu Vũ Đế, Triệu Văn Vương, Triệu Minh Vương,
Triệu Ai Vương, Triệu Vệ Dương Vương.
Cái
nhìn của hiến sử Việt Nam với nhà Triệu và nước Nam Việt phải
đặt trong toàn cảnh lịch sử chính trị - xã hội Việt Nam cùng
thời. Dưới lăng kính tiến hóa chính trị và vận động xã hội mới
nêu bật được những mâu thuẫn nội tại của sử sách Việt Nam và con
người Việt Nam trên cùng một dữ liệu lịch sử.
Học giả
người Nhật, Yumio Sakurai, qua nghiên cứu cách định cư và nông
nghiệp thời Lý đã lập luận nhà Lý là một triều đại địa phương,
nhiều thế lực địa phương khác đến thế kỉ 13 mới bị nhà Trần trấn
áp hoàn toàn (1). Đây phải chăng là tàn tích của nạn “xứ quân”
từ thế kỉ 10. Tuy vậy, tác giả bài này không tin rằng thế kỉ 13
mô hình nhà nước phân quyền kia đã được thay bằng công thức
phong kiến tập quyền tuyệt đối. Bằng chứng nằm tại “Hịch tướng
sĩ” năm 1284 của Trần Hưng Đạo. Mặc dù là “Tiết chế” thống lĩnh
toàn quân, lời văn của Trần Hưng Đạo trong “hịch tướng sĩ” mang
phong thái khuyến dụ hơn là quân lệnh bắt buộc phải tuân theo.
Như vậy tại đỉnh cao đoàn kết chống ngoại xâm, ở thời thịnh trị
nhất của nhà Trần, dấu vết phân quyền chưa phai nhạt thì không
có lẽ nào đến khi Trần mạt hình thức ấy có nhiều thay đổi.
Niên
đại 1388 của Đại Việt sử lược là thời kì Trần mạt. Lúc này một
nhân vật lịch sử còn nhiều tranh cãi sắp bước lên vũ đài chính
trị Việt Nam là Hồ Quí Ly. Các chính sách cai trị của họ Hồ một
lần nữa khẳng định quyết tâm tập quyền của ông:
1. Làm
tiền giấy, cải cách thuế má, thống nhất tài chính.
2. Định
phục phẩm quan lại, cải tổ địa giới hành chính như đổi một vài
lộ làm trấn, đặt thêm quan chức ở lộ, phủ, qui ước các lộ ghi
chép sổ sách và đem về kinh báo cáo mỗi cuối năm.
3. Cải
cách giáo dục, thi cử, đưa toán pháp vào quá trình chọn người
tài v.v..
Với nhà
nước phong kiến phân quyền, tính chính thống của kẻ mạnh nhất
đặt trên cơ sở cầu phong Bắc phương. Tệ phân quyền ấy là căn
nguyên của những hành động mà sau này sử sách Việt Nam qui là
“phản quốc”: từ thời Trần qua đến đầu thời Lê, nhiều lần quí tộc
Việt Nam sang Trung Hoa “rước giặc” về để mong thiết lập vương
triều cho chi họ mình. Đến thời Hồ Quí Ly, việc nhập khẩu Nho
Giáo vào Việt Nam đã hạ bệ tính chính thống kia và cố gắng
chuyển việc cầu phong thành quan hệ ngoại giao, tuy chưa được
bình đẳng nhưng cũng nói lên sự trưởng thành to lớn của đất nước
Việt Nam.
Chính
Hồ Quí Ly, chứ không ai khác đã đặt nền móng cho việc nhìn nhận
lại nước Nam Việt và dòng họ Triệu trong dòng chảy lịch sử Việt
Nam.
2.
Các quan điểm sau năm 1400
Ở Đại
Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên - dưới triều Lê Thánh Tông 1460
đến 1497), lần đầu tiên hiến sử Việt Nam truy nguyên gốc tích
của mình từ kỷ Hồng Bàng với Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân rồi
mới đến Hùng Vương, An Dương Vương và Triệu Vũ Vương…
Lê
Thánh Tông là ông vua đã rút ra được bài học nóng vội của Hồ Quí
Ly, để áp dụng thành công đường lối chính trị Nho Giáo Trung Hoa
vào đất nước Việt Nam. Nhu cầu “chính danh” đã đưa rất nhiều
huyền thoại, cổ tích trong dân gian thành chính sử. Ngô Sĩ Liên
được thay mặt trí thức Việt Nam đương thời trả lời câu hỏi “Ta
là ai? Từ đâu tới?” cho dân tộc Việt Nam. Những quyển sử cũ chỉ
đuợc thêm vào chứ không bớt đi hoặc tách ra, và họ Triệu được để
yên cho đến khi xuất hiện Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ năm
1775:
Xét
sử cũ: An Dương Vương mất nước, để quốc thống về họ Triệu, chép
to 4 chữ: "Triệu Kỷ Vũ Đế". Người đời theo sau đó không biết là
việc không phải. Than ôi! Đất Việt Nam Hải, Quế Lâm không phải
là Đất Việt Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Triệu Đà khởi ở Long
Xuyên, lập quốc ở Phiên Ngung, muốn cắt đứt bờ cõi, gồm cả nước
ta vào làm thuộc quận, đặt ra giám chủ để cơ mi lấy dân, chứ
chưa từng đến ở nước ta. Nếu coi là đã làm vua nước Việt, mà đến
ở cai trị nước ta, thì sau đó có Lâm Sĩ Hoằng khởi ở đất Bàn
Dương, Hưu Nghiễm khởi ở Quảng Châu, đều xưng là Nam Việt Vương,
cũng cho theo Quốc kỷ được ư? Triệu Đà kiêm tính Giao Châu, cũng
như Ngụy kiêm tính nướcThục, nếu sử nước Thục có thể đưa Ngụy
tiếp theo Lưu Thiện, thì quốc sử ta cũng có thể đưa Triệu tiếp
theo An Dương. Không thế, thì xin theo lệ ngoại thuộc để phân
biệt với nội thuộc vậy.
Với lý
do này, Ngô Thì Sĩ đã loại họ Triệu khỏi chính sử Việt Nam. Ông
gộp năm đời Triệu Vương thành một kỷ Ngoại thuộc, tương đương
với các kỷ ngoại thuộc Hán, Tùy, Đường sau đó. Thực ra lí luận
của Ngô Thì Sĩ mang tính nhất thời, trong cái nhìn địa phương
hãn hữu. Ông phân biệt rạch ròi “Than ôi! Đất Việt Nam Hải,
Quế Lâm không phải là Đất Việt Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam”,
nghĩa là Việt Nam ngày nay chẳng dính dáng gì đến cương vực bao
la của Nam Việt khi xưa.
Vì
không cùng quan điểm với họ Ngô nên Tự Đức vẫn cho Quốc Sử Quán
ghi danh các vua Triệu như là tiền triều trong Khâm Định Việt sử
thông giám cương mục (giữa TK 19). Hơn nữa lời phê của ông sau
khi nhà Hán diệt nhà Triệu là câu trả lời dứt khoát: ngày xưa bờ
cõi của tổ tiên ông bao gồm nhiều quận trong Giao Chỉ bộ!
Lời phê - Xét chung từ
trước đến sau, đất đai của nước Việt ta bị mất về Trung Quốc đã
đến quá một nửa, tiếc rằng vua sáng tôi hiền các triều đại cũng
nhiều người lỗi lạc hiếm có ở trên đời, mà vẫn không thể nào lấy
lại được một tấc, đó là việc đáng ân hận lắm! Thế mới biết việc
thu hồi đất đai đã mất, từ đời trước đã là việc khó, chứ không
những ngày nay mà thôi. Thật đáng thương tiếc.
Sau khi
Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ thực dân năm 1945, nền sử học cộng
sản non trẻ áp dụng ngay phép biện chứng duy vật lịch sử vào môn
lịch sử. Tình cờ nhãn quan của Ngô Thì Sĩ rất hợp với quyết tâm
xây dựng nền móng bản địa cho lịch sử Việt Nam, cộng với chủ
nghĩa dân tộc dâng cao, vấn đề Nam Việt và Triệu Đà giờ đây có
thể tóm gọn trong một đoạn văn của Đào Duy Anh:
Nhà Triệu không phải là quốc triều
Sách
Toàn thư, sau khi nêu lên quốc
thống của ta bắt đầu từ Hồng Bàng Thị, đến Kinh Dương Vương, Lạc
Long Quân, mười tám đời Hùng Vương, rồi đến Thục An Dương Vương,
thì chép luôn nhà Triệu làm một triều đại chính thống. Các sử
thần thời Lê, kế tục phương pháp và quan điểm Lê Văn Hưu ở đời
Trần (quan niệm lịch sử phản dân tộc) không thấy rằng Triệu Đà
làm vua nước Nam Việt ở miền Quảng Đông, Quảng Tây, đối với nước
Âu Lạc mà nghĩ xâm lược, chỉ là một tên giặc cướp nước chứ không
phải là một đế vương chính thống. Mãi đến cuối đời Lê mới thấy
có một nhà sử học là Ngô Thì Sĩ, tác giả sách Việt sử tiêu
án, phản đối việc cho họ Triệu tiếp nối quốc thống của An
Dương Vương. Có lẽ do ảnh hưởng của ý kiến ấy cho nên sách Khâm
định Việt sử thông giám cương mục của triều Nguyễn không chép
riêng nhà Triệu làm một kỷ chính thống nữa, nhưng vẫn cứ chép cả
lịch sử nhà Triệu vào phạm vi quốc sử của ta. Các nhà sử học tư
sản của ta cũng chịu ảnh hưởng của quan điểm phản dân tộc ấy,
cho nên Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim cũng chép kĩ
càng về lịch sử nhà Triệu, và Những trang sử vẻ vang của
Nguyễn Lân thì biểu dương Lữ Gia là trung thần của nhà Triệu làm
vị anh hùng dân tộc đầu tiên của chúng ta. Đối với dân tộc ta
thì Triệu Đà là giặc cướp nước, mà lịch sử của nhà Triệu ở nước
Nam Việt không thể nằm trong phạm vi lịch sử Việt Nam (2).
Cố giáo
sư Đào Duy Anh là ông thầy uyên bác của đa số các nhà sử học có
tiếng Việt Nam hiện nay, nhóm người mê tín thuyết bản địa của
văn hóa và văn minh Việt Nam. Nhưng trớ trêu, những tác phẩm
nghiên cứu lịch sử quan trọng nhất trong sự nghiệp của ông Đào,
lại khẳng định người Việt “có thể” di cư bằng thuyền đến đồng
bằng sông Hồng sau khi nước Việt của Câu Tiễn bị xóa sổ thời
Chiến Quốc (3)! Lời lẽ nặng nề của Đào Duy Anh ở trên, xét cho
cùng mang khẩu khí chính trị nhiều hơn là tinh thần nghiên cứu
trung thực, khách quan vốn luôn hiện hữu ở nhiều công trình mang
tên ông.
3.
Lời bình
Trong
“Một cách tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam” tôi đã đưa ra
giả thuyết mới về ngữ nghĩa của từ Âu Lạc. Thật may mắn, khi
dùng giả định Âu Lạc = Đất nước = Non nước = Xứ sở trên chủ đề
Nam Việt này thì mâu thuẫn của các nhà sử học Việt Nam phần nào
sáng tỏ.
Quả
tình, thuật ngữ Âu Lạc nếu không phải là tên của vương quốc do
An Dương Vương lập ra, thì nó sẽ thống nhất một vùng đất rộng
lớn là Quảng Tây, Quảng Đông và Bắc bộ Việt Nam thành một lãnh
thổ khá tương đồng về văn hóa. Như vậy, nếu nhìn nhận cương giới
của người dân Việt trước thời Triệu Đà gồm Quảng Đông, Quảng Tây
và Bắc Bộ Việt Nam thì việc Nhà Triệu tiếp nối An Dương Vương
như một triều đại chính thống là hợp lí. Bản thân An Dương Vương
cũng đã “cướp nước” của các vua Hùng kia mà! Nếu đã loại Triệu
Đà, nên chăng loại luôn An Dương Vương, cùng xếp họ vào kỷ nội
thuộc.
Rõ ràng
cái gọi là “quan niệm lịch sử phản dân tộc” của cố Giáo sư Đào
Duy Anh rất khiên cưỡng và khó đứng vững.
Nước
Nam Việt cùng năm đời Việt Vương là một hiện hữu lịch sử không
thể phủ nhận và có liên quan hữu cơ với lịch sử Việt Nam. Tài
liệu xưa nhất đã nhắc đến nó và gần như cùng thời với nó là Sử
Kí của Tư Mã Thiên. Tuy nhiên do đặc điểm quá cô đặc, gãy gọn
của cổ văn Trung Hoa mà hiện hữu ấy không ngừng được tranh cãi,
mổ xẻ, suy luận theo những chiều hướng nhiều khi mâu thuẫn đến
hoàn toàn trái ngược.
Về phía
Việt Nam, nước Nam Việt của Triệu Đà trong những trang sách còn
phải ngụp lặn giữa quá trình tiến hóa nhận thức, xã hội và chính
trị không ngừng của con người Việt Nam hàng ngàn năm qua. Giả sử
nếu mai này thuyết các vua Hùng từng xuất phát từ Động Đình Hồ
rồi di cư xuống đồng bằng sông Hồng qua Quảng Tây được chấp nhận
rộng rãi, thì việc tái chấp nhận Triệu Đà như một vương triều
phong kiến chính thống lại sẽ được đặt ra.
Nói cho
cùng, càng nhiều suy biện, càng nhiều giả thuyết, càng nhiều nỗ
lực cày xới trên những bình nguyên quá khứ mang tên hiến sử,
chẳng qua cũng là việc phải làm vì sự phát triển sử học mà thôi.
Không bao giờ nên để các trang sử bất biến. Tĩnh tức là tử.
Không chỉ có ngày hôm qua là đối tượng nghiên cứu của lịch sử,
mà bản thân khoa học lịch sử cũng rất cần phân luận, bởi nó là
gương mặt, là tư duy, là trình độ phát triển, là thước đo vận
động (tiến hoặc lùi) của chính thời đại dung dưỡng nó.
Thung lũng Đa Thiện,
Đà
Lạt 12.2005
Chú thích
(1) Dẫn theo Keith W. Taylor - Quyền uy và
tính chân chính ở Việt Nam thế kỉ thứ 11. NXB Trẻ 2001.
(2) Đào Duy Anh - Lịch sử cổ đại Việt Nam,
trang 93-94, NXB Văn hóa – Thông tin, 2005.
(3) Xem sđd
Ý Kiến xin gửi về:
truongthaidu@khoahoc.net
Print this site

Trở về Trang Chính |