|
A . Đặt vấn đề:
Ở phần Ngu thư –
Nghiêu điển sách Thượng Thư
có câu:
申命羲叔,宅南交。平秩南为,敬致。日永,星火,以正仲夏。厥民因,鸟兽希革
Âm
Hán Việt:
Thân mệnh Hy Thúc, trạch Nam
Giao. Bình trật nam ngoa, kính trí. Nhật vĩnh, tinh Hỏa, dĩ
chánh trọng hạ. Quyết dân nhân, điểu thú hy cách.
Dịch nghĩa: “(Vua
Nghiêu) sai Hy Thúc đến Nam Giao, quan sát mặt trời di chuyển về
phương nam, ghi ngày Hạ chí. Lúc ngày dài nhất, sao Hỏa đầu hôm
ở đỉnh đầu sẽ là ngày trọng Hạ (giữa mùa Hạ). Dân ăn mặc quần áo
mỏng, chim thú thay lông”.
Ở góc độ nào đó, Nam Giao
là một trạm quan trắc thiên văn. Theo công bố của giáo sư Hà Nỗ,
nhóm khảo cổ của Sở khảo cổ thuộc Viện khoa học
xã hội Trung Quốc (IACASS) đã kết luận di tích đàn tế tự kiêm
đài quan sát thiên văn tại làng Đào Tự, huyện Tương Phần, tỉnh
Sơn Tây Trung Quốc nhiều khả năng chính là đàn Nam Giao thời
Nghiêu – Thuấn. Tuổi di tích theo niên đại thiên văn xấp xỉ bằng
tuổi đo bằng đồng vị phóng xạ carbon là hơn 4000 năm.
Như vậy, có chăng
một truyền thống quan sát và định vị vùng đất phương nam trên cơ
sở hệ qui chiếu thiên văn cổ điển của người Hoa Hạ?
Tham khảo các sách sử hoặc địa lí chí xưa khi nói đến 1 vùng đất
nào đó đều có mục “phân dã” hoặc “tinh dã”. Ví như một đoạn
trong sách Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ (1775):
Xét theo thiên Vũ Cống,
nước Việt ở về phía nam đất Dương Châu. Theo sách Thiên Quan, từ
sao Đẩu mười một độ qua sao Khiên Ngưu đến sao Chức Nữ bảy độ là
tinh kỷ. Kể về sao thì ở về ngôi sửu, cùng một phận dã tinh
truyện với nước Ngô. Cõi nam là Việt môn, có rất nhiều nước như
Âu Việt, Mân Việt, Lạc Việt, cho nên gọi là Bách Việt. Bởi vì
miền này ở phía nam Dương Châu, nên lại gọi là Nam Việt. Vùng
đất từ núi Ngũ Lĩnh xuống phía nam thuộc về Nam Việt. An Nam là
miền đất ở phía nam nước Việt nay là quốc hiệu thường gọi.
Các thuật ngữ Nam Giao,
Giao Chỉ, Tượng quận có trước thời Tư Mã Thiên (145-87
TCN) và Ban Cố (32-92 SCN). Ngoài vai trò sử quan đã
trước tác Sử kí và Hán thư, hai ông còn là hai
nhà thiên văn có nhiều thành tựu.
Có thể hai ông, theo truyền thống thiên văn cổ xưa ở Hoa Hạ, đã
xác nhận những vùng đất phương nam trên bản đồ thiên văn đương
thời và đề ra những tên gọi mang tính khái niệm như Cửu Chân,
Nhật Nam.
Nhận thấy, từ
những quyển hiến sử đầu tiên của văn minh Việt Nam đến nay, chưa
một tác giả nào dựa trên thiên văn nhằm kiến giải ngữ nghĩa các
thuật ngữ thuộc về cổ sử Việt Nam. Bằng kiến thức thiên văn thực
hành ít ỏi của một người đi biển, tôi xin sơ lược tìm hiểu các
thuật ngữ ấy.
B. Nam Giao, Giao Chỉ.
1. CHỮ CHỈ.
Trong tiếng Hán,
có nhiều chữ Chỉ. Thuở xưa người Trung Quốc có qui tắc “Đồng âm
thông giả”, những chữ đồng âm có thể dùng lẫn lộn. Sau đây xin
liệt kê những chữ Chỉ
(đồng âm)
có liên quan:
1.
止
: Ngừng, giới hạn, cắt đứt, chấm dứt, kết thúc.
Chữ triện:
Chữ trên
giáp cốt
Kim văn
(khắc trên kim lọai)

Thuyết văn
ghi chú:
下基也,
象艸木出有址,
故以止為足,
凡止之屬皆從止 (Hạ
cơ dã, tượng thảo mộc xuất hữu chỉ, cố dĩ chỉ vi túc, phàm chỉ
chi thuộc giai tòng chỉ). Nghĩa: Là căn bản nền tảng, như cỏ cây
mọc lên thì phải có nền đất, vậy nên CHỈ là chân, thuộc về bộ
CHỈ.
2.
址
: Địa chỉ, nền tảng, địa điểm.
Không có chữ giáp cốt và kim văn. Thuyết văn:
阯或從土(Chỉ
hoặc tòng thổ - Như chữ Chỉ阯,
nghĩa
là vùng đất)
3.
趾
: Bàn chân, ngón chân.
Không có chữ giáp
cốt và kim văn. Không có trong
Thuyết văn.
4.
阯
: Dùng giống chữ thứ 2, còn có nghĩa vùng đất, khu vực.
Không có chữ giáp
cốt và kim văn.
5.
沚
: Cái cồn nhỏ giữa vùng nước.
Không có trong Thuyết văn.
Có chữ triện
,
không có kim văn, chỉ có giáp cốt văn
.
6.
軹
: Nghĩa cổ là đoạn cuối của trục xe.
Qua liệt kê trên có thể nhấn mạnh: Chữ Chỉ 1
止
xuất hiện chậm nhất là ở đời Thương, thiên niên kỉ thứ 2 trước
công nguyên. Các chữ Chỉ còn lại xuất hiện sau. Đặc biệt chưa
chắc thời Đông Hán đã xuất hiện chữ Chỉ thứ 3趾.
Chữ Chỉ thứ 5沚
về tự dạng giáp cốt chưa rõ ràng, tuy nhiên nó sẽ bổ xung cho
chữ gốc thứ 1止.
Nhận thấy chữ thứ 6軹
không liên quan đến từ nguyên Chỉ 1止
nhưng nó ít nhiều thông nghĩa với Chỉ 1止
nên xem như lưu í .
2. CHỮ GIAO
Các văn bản cũ đều thống nhất dùng chữ Giao
交 nghĩa là
Tiếp giáp, đưa, xen kẽ, quan hệ… Thuyết văn:
交脛也從大象交形凡交之屬皆從交
(Giao
hĩnh dã tòng đại tượng giao hình phàm giao chi thuộc giai tòng
giao): Giao là cẳng chân, trông như đôi chân bắt chéo, bộ giao.
Ảnh
giáp cốt, kim văn và triện của chữ Giao
Có
thể tham khảo thêm chữ Giao
郊,
Thuyết văn
距國百里為郊從邑交聲
(Cự quốc bách
lí vi Giao, tòng ấp
Giao thanh): Cách (tường)
thành
100 dặm là vùng Giao郊,
chữ Giao郊này
bộ Ấp, đọc như Giao交.
3. NAM GIAO南交
Với thành tựu của
ngành khảo cổ Trung Quốc đã dẫn, có thể tin rằng Nam Giao cách
đây hơn 4000 năm là một địa danh. Nam Giao cũng là một đài quan
sát thiên văn kiêm đàn cúng tế nằm ở cực nam của vương quốc
Trung Hoa cổ, nay là di tích Đào Tự, huyện Tương Phần, tỉnh Sơn
Tây, Trung Quốc.

Hình 1: Vị trí
tỉnh Sơn Tây (xanh đậm) nằm hoàn toàn ở bờ bắc sông Hoàng Hà.

Hình 2: Vị trí
thành phố Lâm Phần (Gần cuối bản đồ, đầu mũi tên xanh, cạnh dòng
chữ Temple of King Yao – Đền thờ vua Nghiêu).

Hình 3 : Toàn
cảnh di tích đàn tế tự (chụp từ đông sang tây)
4. GIAO CHỈ
Xưa nay người
Việt Nam gần như đã đi đến chỗ thống nhất cho rằng tổ tiên họ
ngón chân cái bè ra, nếu đứng thẳng chụm hai bàn chân gần nhau
thì hai ngón chân cái có xu hướng giao nhau. Thực ra cách lí
giải này là của sách Thông Điển, tác giả Đỗ Hựu
thời Đường (viết năm 768 – 801), căn cứ trên dạng chữ tượng hình
Trung Quốc.
Trong một hệ thống ngữ nghĩa phức tạp như liệt kê ở trên, chọn
nghĩa thứ 3趾
(không có trong Thuyết văn) để giải thích thuật ngữ Giao
Chỉ của sách Thông Điển là hoàn toàn khó thuyết phục.
Nguyên văn Thông Điển:
交趾,謂足大趾開闊,並立相交
/ Giao Chỉ, vị túc đại chỉ khai khoát, tính lập tương giao
(Giao Chỉ, nghe nói chân họ có ngón chân cái tòe ra, chụm hai
bàn chân lại thì chúng giao nhau).
Việc lấy một chữ có khả năng chưa xuất hiện vào thời Đông Hán,
lúc Thuyết Văn được xuất bản, để giải nghĩa khái niệm
Giao Chỉ có trước nó là không hợp lí. Hơn nữa về sinh học mà
nói, không có chủng người nào có hai ngón chân cái mọc chĩa ra
ngoài bàn chân, ngoại trừ ít nhiều nhóm cá thể riêng lẻ thiếu
tính đại diện.
Khảo rất nhiều tài liệu
cũ, tôi thấy Abel des Michels (một học giả Pháp nghiên cứu Trung
Quốc) có ý kiến khác người nhất: “Giao Chỉ là chỗ các biên giới
tiếp giáp nhau”.
Không rõ Abel des Michels lí giải thế nào. Tuy nhiên theo tôi,
đế xác định Giao Chỉ là gì, phải cố gắng xem từ Giao Chỉ mang
nghĩa nào.
Những quyển sách
xưa nhất có ghi nhận Giao Chỉ gồm: Thượng Thư, Mặc Tử, Thi
Tử, Hàn Phi Tử, Sử Kí. Văn bản hiện có không thể cho chúng
ta khẳng định nhóm sách ấy dùng chữ chỉ nào, vì đã qua rất nhiều
đời, nhiều lần sao chép… Trong khi chờ đợi các kí tự phát lộ từ
những mộ táng cùng thời, với dữ liệu đã dẫn ở trên, tôi tin chắc
rằng mỗi độc giả quan tâm đến vấn đề Giao Chỉ đều có thể hiểu
Giao Chỉ là gì theo cách riêng của mình.
Ý kiến của tác
giả bài này: Giao Chỉ là khái niệm nói về vùng đất tiếp giáp
phía nam của vương quốc Trung Hoa cổ đại. Nếu hình dung khái
niệm quốc gia cũ của người Hoa Hạ như cơ thể con người, vùng
Giao sẽ là cẳng chân (từ đầu gối đến bàn chân), vùng Chỉ là bàn
chân. Nửa trước thời Tây Hán, Giao Chỉ mang tính khái niệm nhiều
hơn địa danh vì :
a. Không có bất
cứ tài liệu nào ghi nhận có quan lại trấn nhậm ở Giao Chỉ.
b. Sách Mặc
tử, Thi tử, Sử kí có nhắc đến Nghiêu – Thuấn phủ dụ, vỗ về
Giao Chỉ. Hành động này không thể xem là cai trị. Nó không khác
gì phương châm “Hòa tập Bách Việt” mà Hán Cao tổ khuyên Triệu Đà
sau này.
c. Sau thời Đông
Hán có ít nhất hai quyển sách ghi nhận Giao Chỉ với nghĩa “cơ
sở, nền tảng” của đế quốc Trung Hoa: An Nam Chí Lược của
Lê Tắc dẫn Hán Quan Nghi của Ứng Thiện nói
“Trung Quốc tiến tới phương nam lấy làm Cơ Chỉ”.
Lịch Đạo Nguyên
viết trong Thủy Kinh Chú (hoàn thành năm 515): “…thời hựu
kiến Sóc Phương minh dĩ thủy khai bắc thùy toại tịch Giao Chỉ vu
nam vị tử tôn Cơ Chỉ dã”, tức: “Vua (Hán Vũ Đế) vừa khai phá
biên thùy Sóc Phương phía bắc, vừa mở Giao Chỉ phương nam làm
nền móng cho con cháu”.
Lãnh thổ Hoa Hạ
cách đây 4000 năm nằm phía trên dòng Hoàng Hà. Trong quá trình
nam tiến, mở mang vương quốc, lãnh thổ ấy ngày một bành trướng
theo gót chân đế quốc. Như vậy nếu Giao Chỉ là một khái niệm thì
chắc chắn khái niệm ấy sẽ liên tục di chuyển về phương nam. Tôi
tìm ra một căn cứ, tuy rằng chưa chắc chắn lắm nhưng khá bất
ngờ: Nước Sở thời Xuân Thu – Chiến Quốc có thể được hình thành
trên vùng Giao Chỉ của nhà Chu. Thật vậy:
Cơ Chỉ có hai từ
có thể thay thế nhau:
基 阯 , 基 址
Cơ Sở:
基 礎
Chữ Sở (tên đất,
nước):
楚
Chữ
Sở
礎trong Cơ
Sở
基礎chỉ khác
chữ Sở
楚 (tên
nước) bộ Thạch石bên
trái. Với nguyên tắc “đồng âm thông giả” thì nước Sở hoàn toàn
có thể xem là Cở sở của nhà Chu, Giao Chỉ của vương quốc Tây
Chu.
Chu Thành Vương đã phong
cho Hùng Dịch đất Sở
.
Vùng Đan Dương mà Hùng dịch lập nên quốc gia Sở hôm nay thuộc
tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Hùng Dịch không thuộc dòng dõi hoàng
gia triều Chu, nhưng vì có công nên được ưu ái. Mảnh đất ấy chắc
chắn là một vùng hoang sơ, xa xôi nên suốt thời Xuân Thu các
quốc gia trung tâm (Trung Quốc) luôn coi Sở là nước không chính
thống, man di, mọi rợ…
Đến năm 111 trước
công nguyên, sau khi chiếm Nam Việt, nhà Tây Hán đặt chín quận
dưới tên gọi chung là Giao Chỉ Bộ, trong đó lại có một quận tên
là Giao Chỉ.
Như vậy, từ nếu
lấy mốc thời gian của đàn Nam Giao đã dẫn ở trên, sau 1000 năm
(đến thời Chu) Giao Chỉ vượt sông Hoàng Hà, xuống bình nguyên
kẹp giữa Hoàng Hà và Trường Giang, tiếp theo 1000 năm nữa (thời
Hán Võ Đế) Giao Chỉ đã tịnh tiến rất xa về phương nam, tại khu
vực Bắc Việt Nam, Quảng Đông và Quảng Tây Trung Quốc.
C. Tượng quận
象 郡
Khi Tần diệt Sở,
nước Sở bị gộp vào Trung Nguyên, khái niệm Giao Chỉ không thấy
xuất hiện. Sử Ký, Nam Việt úy Đà liệt truyện, viết: Năm 214 TCN
quân Tần cướp Dương Việt đặt 3 quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng.
Quế Lâm và Nam Hải khá rõ ràng, duy Tượng Quận đã tốn không biết
bao nhiêu giấy mực mà hai ngàn năm nay người ta chưa rõ nó ở
đâu. Cũng vì nhà Tần quá ngắn ngủi, chiến tranh sau đó làm sách
vở tiêu tán gần hết.
Một khi khái niệm
Giao Chỉ bị xếp lại, hẳn nhiên phải có một khái niệm khác thay
thế. Phải chăng đó là Tượng? Để mô tả thứ nào đó trừu tượng
người ta hay dùng phép tượng trưng. Giai thoại “Thầy bói mù xem
voi” đã mượn con voi nhằm nói về sự trừu tượng. Nghĩa của chữ
Tượng rõ nhất trong môn cờ tướng, người Trung Hoa đã sáng tạo ra
Tượng Kỳ chậm nhất là vào thời Chiến Quốc, khi chiến xa còn được
coi như “ông kẹ” của chiến trường. Hơn nữa voi đánh trận không
hề có trong thư tịch Trung Quốc trước công nguyên. Trò giải trí
siêu đẳng này hình tượng hóa một trận đánh thời cổ đại vào 64 ô
vuông chia đôi bởi một dòng sông. Bàn cờ có hai quân Tượng. Đây
không phải loài voi như nhiều người lầm tưởng. Quân Tượng không
bao giờ qua sông tham dự trực tiếp vào cuộc công thành đối
phương. Nó biểu trưng cho những yếu tố trừu tượng có ảnh hưởng
nhất định đến toàn cuộc như công tác tâm lý chiến, dân vận, ý
chí của con người, tinh thần xả thân hy sinh… Bình Nguyên Lộc
trong quyển “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam” cho
biết sách Lễ Ký, chương Vương Chế ghi nhận thời
Hạ, Thương, Chu, người Trung Hoa gọi phương nam là Tượng. Triều
Chu đã đặt chức quan “Tượng tư” có nhiệm vụ trông nom việc bang
giao với các man di phương nam.
Tượng quận có thể
hiểu là một vùng đất phương nam tạm để đó, chưa đến lúc xâm
lăng, chưa có dịp “khai phá” và “khai thác” theo đúng ngôn ngữ
Xuân Thu – Chiến Quốc. Tượng Quận là tên gọi tượng trưng mang
tính khái niệm theo cách của nhà Tần và nó tương đương với Giao
Chỉ của nhà Chu. Giao Chỉ của Tần Thủy Hoàng là Tượng Quận, tiếp
theo Tượng Quận là Cửu Chân và Nhật Nam sẽ hoàn toàn hợp lý với
tư duy ngôn ngữ trong giới hạn kiến thức địa lý thiên văn xưa
kia.
D. Cửu Chân
九真
, Nhật Nam
日南
Thời Hán Vũ đế,
việc đặt tên 9 quận mới nằm trong Giao Chỉ bộ đã chính thức biến
thuật ngữ Giao Chỉ nửa mang yếu tố địa danh, nửa vẫn chứa tính
khái niệm. Như vậy thì quận Giao Chỉ là địa danh hay khái niệm?
Có nhiều lí do cho rằng quận Giao Chỉ vẫn còn là khái niệm.
-
Các cánh quân
Hán dừng lại ở Phiên Ngung, không vượt biển xuống đồng bằng
sông Hồng.
-
Đến đầu công
nguyên mới có chức Thái thú quận Cửu Chân và quận Giao Chỉ
Hiển nhiên nếu
khi ấy quận Giao Chỉ mang tính khái niệm, tức một quận ảo, vẽ
vào bản đồ tham vọng Đại Hán cho có, thì hai quận ở xa hơn là
Cửu Chân và Nhật Nam cũng sẽ hoàn toàn mang tính khái niệm.
Cửu
Chân, chữ Hán là
九真.
Có thể hiểu Chân là gốc (như qui chân là trở về gốc) và Cửu
tượng trưng cho trời. Nghĩa “gốc” phải lấy trong từ “qui chân”
nhưng nghĩa “trời” của Cửu hiện diện khá rõ trong sách Thuyết
Văn: 九:
陽之變也
(Cửu : Dương chi biến dã / Là dương (mặt trời) biến hình vậy).
Chiếu
theo hàm nghĩa thiên văn xuyên suốt bài viết này, Cửu Chân có
thể hiểu là vùng đất hai bên gốc mặt trời. Gốc mặt trời tức là
vị trí biểu kiến của mặt trời trên thiên cầu trong ngày xuân
phân và thu phân. Vùng Cửu Chân tương đương với thuật ngữ hiện
đại là vùng Xích Đạo, hoặc cụ thể hơn là vùng đất có khí hậu
Xích Đạo và Nhiệt đới.
Quận
Nhật Nam tiếp nối Cửu Chân, vậy Nhật Nam có phải tương đương với
Bán Cầu Nam trong thiên văn?
Nhật Nam nghĩa là phía nam mặt trời. Sử ký viết: …南至北乡户
(Nam chí bắc hương hộ).
Tạm
dịch:
“(Đất đai nước Tần)… phía nam đến miền cửa nhà quay mặt về hướng
bắc”.
(集解吴都赋曰:“开北户以向日”):
Sách tập giải Ngô Đô Phú chú : “Khai bắc
hộ dĩ hướng nhật – Mở cửa hướng bắc để đón ánh mặt trời." (刘逵曰:“日南之北户,犹日北之南户也”)Lưu
Quỳ chú : "Nhật nam chi bắc hộ , do nhật bắc chi nam hộ dã -
Phía nam mặt trời thì làm cửa quay mặt về hướng bắc, cũng như
phía bắc mặt trời thì cửa nhà quay mặt về hướng nam vậy”.
Tư Mã Thiên
viết câu trên chứng tỏ ngành thiên văn biết vậy nhưng sự thực
người Trung Quốc chưa bao giờ đặt chân đến vùng Nhật Nam. Nghĩa
Nhật Nam với triều Tây Hán là khu vực nằm dưới Nam chí tuyến (vĩ
độ 23 độ 27 phút), đi qua thành phố Rockhamton Bang Queensland
Australia. Trong khi đó Nam Bán Cầu phải được tính từ vĩ độ 0
độ, từ mép phía nam của eo Malacca trở xuống.
Xin lưu í, phần lớn đất
nước Trung Quốc ở trên Bắc Chí Tuyến (vĩ độ 23 độ 27 phút, ngang
qua thành phố Quảng Châu), do đó mặt trời với họ luôn ở về phía
nam, mọc phương đông nam và lặn phương tây nam. Rõ nhất trong
ngày Đông Chí đêm dài ngày ngắn, mặt trời lẩn quẩn hẳn về phía
nam. Vì vậy khi tế trời (cúng mặt trời) thiên tử - con trời phải
quay mặt về phương nam. Có lẽ muộn nhất là thời Tần,
người Trung Quốc đã chế tạo được Hỗn Nghi, một bộ máy đo đạc
thiên văn khá đơn giản nhưng thể hiện đầy đủ vòng tròn xích đạo,
hoàng đạo (quĩ đạo biểu kiến của mặt trời trên thiên cầu). Về cơ
bản đường xích đạo trên Hỗn Nghi và đường xích đạo của con người
thế kỉ 21 tương đồng về bản chất.
Nếu hiểu Cửu Chân
là vùng chứa đường “gốc trời – xích đạo” chứ không phải đường
“gốc trời – xích đạo” trên thiên cầu, sẽ dẫn đến sự chồng lấn
hai khái niệm Cửu Chân và Nhật Nam ở khu vực Nam Chí Tuyến (Vĩ
độ từ 0 độ đến vĩ độ 23 độ 27 phút nam). Tuy vậy sai số trong
khái niệm Cửu Chân và Nhật Nam rất đơn giản và dễ hiểu: sự hạn
chế hiển nhiên của thiên văn Trung Quốc cách nay hơn 2000 năm.
Một lần nữa ta thấy sách vở Trung Quốc thời ấy thiếu hẳn kiểm
nghiệm thực tế. Hay nói cách khác, Cửu Chân và Nhật Nam khởi đi
là hai khái niệm trong thư phòng của những sử quan Tây Hán.
E. Kết luận
Bằng thiên văn
kiến giải Nam Giao, Giao Chỉ, Tượng quận, Cửu Chân, Nhật Nam ta
hẳn thấy tính hệ thống xuyên suốt trong việc tiếp cận phương nam
của văn minh Hoa Hạ: đầu tiên là những quan sát lí thuyết trên
gốc tọa độ là đài quan sát thiên văn Nam Giao. Giao Chỉ, Tượng
quận, Cửu Chân, Nhật Nam khởi sinh đều là khái niệm. Các đoàn
quân đế quốc nam tiến trong hàng ngàn năm đã dần dần chuyển
những khái niệm mơ hồ ấy thành những địa danh xác thực.
Loạt ngữ nghĩa
trên đây rất cần được các chuyên gia lịch sử chuyên nghiệp và am
hiểu về thiên văn làm sáng tỏ thêm. Cổ sử Việt Nam có thể sẽ
được hiểu rất khác với sách vở hiện tại nếu những tồn nghi ngữ
nghĩa này ngày càng trở nên minh bạch.
Thảo Điền 3.2007
http://www.guoxue.com/jinbu/13jing/shangshu/ss_001.htm
Print this site

Trở về Trang Chính |