|
Thằng
Triều Châu lại ru con. Giọng nó vốn khàn khàn như mèo hen nhưng
mỗi lần lời ru cất lên, y như rằng đứa bé sáu tháng tuổi hết
khóc ngay. Tất nhiên nó hát bằng tiếng Tiều, quay đi quay lại
chủ yếu là bài Kinh Thi số một: Đôi chim thư cưu gọi nhau
“quan quan” trên bãi bồi ngoài sông. Người con gái nết na hiền
lành, kẻ quân tử hằng cầu mong sánh duyên.
Mươi
phút… đã thấy Triệu vừa lui cui sau quầy cà phê, vừa ngó nghiêng
xem có ai gọi gì không. Quán nhỏ, hẻm vắng và thưa khách nhưng
thái độ phục vụ của chủ rất chu toàn, thân thiện.
- Sao
mày không để vợ ở nhà hẳn, có phải hay hơn không? Tôi hỏi.
- Cháu
nhiều phước mới được chăm sóc con đó bác – Nó phân trần – Cho vợ
ra chợ buổi sáng cho mau khôn. Quá trưa, tắm thằng nhỏ xong,
cháu ngồi tiệm tới đêm. Hơi mệt, song xoay vòng vậy nhà cửa gọn
gàng, khỏi phải nuôi vú.
- Tao
hay nghe vợ mày ru tiếng Việt, mày dùng tiếng Tiều. Sợ tẩu hỏa
nhập ma không mậy?
- Lão
bá hàng xóm ơi, tiếng gì đi nữa cũng là chắt gạn thanh âm, làn
điệu. Ngay cả người lớn, đọc thơ mới đi vô hình thức và nội
dung; nghe thơ thì chỉ cảm bằng nhạc tính thôi… Thơ ra đời trước
khi có chữ viết rất lâu. Thơ hoàn toàn sống khỏe ngoài văn bản.
“Bố
khỉ” - tôi rủa thầm - Thằng bán chữ thâm Nho này lại bắt đầu
đây. “Thơ ra đời trước khi có chữ viết rất lâu…” - Ý hắn nói gì
nhỉ? Phải chăng mảnh đất mà thơ tươi tốt là mảnh đất ít chữ,
không có chữ hay mù chữ? Rộng ra nữa thơ là “tình”, văn là “lý”?
Có “lý” thì mới thành chương hồi, tư tưởng mới ở tầm “luận lý”?
* * *
Tôi
cảnh giác với thằng Triệu lâu rồi. Trước kia, xóm giềng nhưng
chúng tôi ít khi giao tiếp. Mấy năm gần đây, qua mai mối hắn lấy
một cô thôn nữ xinh đẹp, trẻ hơn hắn nhiều. Của đáng tội, gái
quê tận Bạc Liêu, hơi khờ và chậm chạp. Triệu mở quán cà phê cho
vợ coi sóc, tôi thành khách ruột của quán. Hắn thuộc loại không
bằng cấp nhưng đọc nhiều. Ngoài hai mươi Triệu đã trở thành cây
bút chính trong một tiệm khắc chữ, thảo đơn, viết phướn liễn
Việt – Hoa ở Chợ lớn.
Có lần
tôi hỏi Triệu nguồn gốc của họ Nguyễn. Hắn bảo không biết gốc
tích họ Nguyễn Việt Nam, nhưng Theo sách Thông Chí, thiên
Thị tộc lược, Nguyễn là một nước chư hầu ở khu vực Kỳ
sơn, sông Vị, sông Kính của nhà Thương (nay thuộc về tỉnh Sơn
Tây, Trung Quốc). Con cháu vua nước ấy sau lấy tên nước làm họ.
Hắn nói về họ của mình: Theo Đường Thư, họ Triệu vốn trước là họ
Doanh. Chu Mục Vương từng phân phong cho (Doanh) Tạo Phủ thành
Triệu (nay nằm trong tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc). Từ đó con cháu
nhà Doanh lấy chữ Triệu làm họ. Mẹ Tần Thủy Hoàng tên là Triệu
Cơ, Tần Thủy Hoàng mang họ mẹ nên đôi khi người ta gọi ông là
Triệu Chính.
Sẵn dịp
Triệu giải thích họ của tôi: Cũng theo sách Thông Chí,
thiên Thị tộc lược, họ Trương vốn là một nhánh của họ Cơ
(thuộc dòng tôn thất nhà Chu). Ở nước Tấn (thời Xuân thu - Chiến
quốc) Trương là họ lớn. Khi Tấn bị chia làm ba nước Triệu - Ngụy
– Hàn, Trương thành dòng họ lớn của nước Hàn.
Nói
chung, mấy cái họ chính mà người Việt đang dùng, trên phương
diện chữ nghĩa, đều có xuất xứ từ trung lưu Hoàng Hà cả. Tất
nhiên tôi phật ý nhưng không bác lại được. Một bữa hắn kể tôi
nghe truyện Khổng Minh Gia Cát Lượng từng đem họ Trương tặng một
tù trưởng nam man khi ông ta tiến hành chiến tranh nô thuộc, mở
rộng đất Thục.
Mãi lâu
sau, đọc ở đâu đó việc nhà Nguyễn lấy các họ Thạch, Sơn… dùng
cho người Khơ me miền tây nam bộ, tôi mới hiểu ý ngầm thằng
Triệu. Tôi định chửi nó một trận, nhưng nghĩ đi nghĩ lại chẳng
có cớ gì chính đáng, nên đành biến tức khí thành nghi kị trong
từng lời nó phát ra.
Phải
nói thằng Triệu ăn ở với xung quanh không có lời qua tiếng lại.
Hắn ít thổ lộ đời tư. Xóm hẻm mới, dân cũng hiền. Chơi với hắn,
trừ việc bàn đến chữ nghĩa là bực mình, còn lại cũng khuây khỏa
tuổi hưu của tôi nhiều lắm. Tết, Triệu hay tặng tôi đôi ba Hán
tự dán ngược như Xuân, Phúc hay Tài, Lộc. Thì ra người Hoa dán
ngược chữ để chơi, “đảo” đồng âm với “đáo”, tức là đến, tới.
- Mày
nghĩ sao về thư pháp Việt hả Triệu?
- Cũng
khá hay, rồng bay phượng múa - Hắn trả lời mà cặp mắt cứ trơ ra.
- Chắc
mày đang so sánh với chữ của mày?
- Cháu
nói thực, phải là họa sĩ ưu hạng mới nên viết thư pháp Việt. Chữ
Hán thì khác, ngoài giá trị tượng hình, tượng ý, nó mang trong
mình cả một nền văn hóa. Nếu chữ xấu thì còn nhiều cái gỡ gạc.
Ví như chữ “tính” tức là “họ” cháu để trên bàn thờ gồm chữ Nữ
bên cạnh chữ Sinh: xưa Hoa Hạ theo chế độ mẫu hệ, con theo họ
mẹ. Ước là thời Nghiêu - Thuấn, ở Trung Quốc vẫn tồn tại mẫu hệ.
Bằng chứng: người ta chưa quan trọng hóa họ nên hay gọi thẳng
tên tù trưởng, chứ hai ông ấy họ Đường và họ Ngu; hơn nữa Nghiêu
truyền ngôi cho Thuấn là con rể của mình.
- Vậy,
cái đuôi mẫu hệ bảo thủ của người Việt là cách gọi tên nhau thân
mật ư?
- Thôi
mà, có sao cháu nói vậy bác đừng suy diễn.
* * *
Triệu
bắt đầu dạy chữ Tàu cho con. Hắn mua bộ bàn ghế mẫu giáo xinh
xắn đặt cạnh cửa sổ, hướng vào tấm bảng trắng nhơ nhỡ. Thằng bé
An chớm bốn tuổi, đôi ngày ê a một từ cụt lủn bố nó vẽ sẵn bằng
bút lông dầu. Tiếng trẻ thơ sóng sánh quyện vào nắng. Mảnh sân
nhỏ lác đác hai ba bộ bàn ghế mây thô. Vài chậu hoa Đỗ quyên đủ
màu rung rinh khoe sương. Uống cà phê trong khung cảnh ấy, quả
thật rất thi vị.
- Chừng
nào mày sẽ dạy tiếng Anh cho nó?
- Lớp
sáu, học theo chương trình phổ thông đại chúng là vừa bác à. Như
vậy các ngôn ngữ không xung đột trong não trẻ ở quá trình định
hình.
- Chẳng
lẽ tiếng Việt và tiếng Tàu lại hòa hợp được sao?
- Bác
để ý nghen, cháu dạy con nhận mặt chữ tượng hình là chính. Chữ
nào có âm quan thoại và âm Hán Việt gần nhau con mới dùng. Ví
như “Pỉng an” là “Bình an” vậy. Học mà chơi, chơi mà học chứ
chẳng nên gò ép, đó mới là bí quyết.
- Thằng
nhỏ sẽ trở thành người Việt hay Tàu?
- Việt
chớ bác! Triệu cười rất tươi – Nó phải hòa hợp với chốn dung
thân của mình. Khai sanh nó con có ghi dân tộc Hoa đâu, theo mẹ
cũng tốt thôi. Văn hóa là của con người nói chung. Trói buộc văn
hóa trong phạm vi một dân tộc, một chủng tộc là thiển cận!
Úi
trời! Tôi xuýt thốt lên lời cảm thán. Thằng này coi bộ bài bản
ra phết. Tôi bỗng muốn tìm hiểu cái chất “Tàu” trong nó.
Triệu
kể: “Ông nội con từ vùng quê Triều Châu nghèo xơ xác ở Quảng
Đông, qua Bạc Liêu khai hoang đầu thế kỷ 20. Người Triều Châu
vốn là cư dân nước Triệu thời chiến quốc. Họ theo đoàn quân viễn
chinh của Tần Thủy Hoàng do Đồ Thư cầm đầu nam tiến cách đây hơn
2200 năm. “Châu”, thời Chu vốn mang nghĩa một đơn vị hành chính
khoảng 2500 nóc nhà. Triều có thể là biến âm, biến tự của Triệu
vì buổi tiên Tần chữ Hoa chưa thống nhất. Thậm chí Triều đã hóa
thành Thiều trong từ vải thiều. Giống quả ngon tuyệt này đã đến
Việt Nam trên con tàu buôn nào đó của người Triều Châu, hàng
trăm năm nay… Một trong những người Triều Châu đầu tiên chính là
Triệu Đà. Ông từng quản chức huyện lệnh Long Xuyên. Địa danh
Long Xuyên ắt hẳn phải có sông, nó chính là vùng Triều Châu
duyên hải Quảng Đông tiếp giáp Mân Việt (Phúc Kiến), từ Sán Vĩ
đến Sán Đầu với cửa Hà Giang chảy ra biển”.
- Hóa
ra mày là con cháu Triệu Đà – Tôi ngắt lời Triệu.
- Chắc
vậy, nếu không có những đứt đoạn hoặc cải họ trong gia tộc từ
xưa mà con không rõ.
- Vấn
đề Triệu Đà trong nhận thức lịch sử Việt Nam còn phức tạp lắm,
cho dù Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi và một số quyển sử xưa đã xem
nhà Triệu là triều đại chính thống.
- Con
biết chứ, nhưng con nhất nhất theo phương châm “Dân vi bản”, mặc
dù tố chất chính trị trong máu thịt dân tộc Triều Châu không ít
chút nào. Ngoài Triệu Đà còn có Trịnh Quốc Anh từng tiếm đoạt
ngai vàng nước Thái lập ra triều đại Thonbury ngắn ngủi ở thế kỷ
thứ 18.
- Cháu
về quê ở bển chưa?
- Dạ
rồi. Làng cũ ông nội con, họ tộc còn nhiều. Cũng vấn vương chút
nghĩa tình ruột rà. Đến khi đi xe lửa qua thành phố Trịnh Châu
và vượt dòng Hoàng Hà, nhìn nước mênh mông màu hoàng thổ con đã
khóc. Nhưng mọi nơi con qua, từ miền bắc Hà Nam, tỉnh Hà Bắc,
Sơn Tây, đất đai nước Tấn tam phân xưa xa lạ lắm. Giọt máu lưu
lạc mấy ngàn năm vẫn còn nóng, nhưng ánh mắt biết đâu mà hồi cố.
Tự nhiên lúc ấy nhớ nhà da diết. Câu thơ Nguyễn Bính trong “Hành
phương nam” dội ra nhói lòng:
Quê
nhà xa lắc xa lơ đó
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay
* * *
Bé An
sáu tuổi thì mẹ nó bỏ nhà ra đi. Tóc Triệu bạc nhiều. Mảnh sân
nhỏ hoang tàn. Mấy chậu Đỗ quyên bị dẹp vào một góc thiếu sáng,
lá loang lỗ, gốc đầy cứt sâu, thân toàn rệp trắng.
Một
chiều muộn, đưa con đi khám bệnh về, thấy tôi Triệu hỏi:
- Theo
bác “Ầu ơi” là gì?
- À ừ…
chắc tiếng đệm lấy đà, lấy hơi, lấy nhịp hát ru vậy mà.
- Chán
thiệt - Triệu lắc đầu - Vậy mà bác cứ nghĩ mình là người Việt
ròng. Theo giả thuyết của cháu “Ầu ơi” là mẹ ơi. Nó xuất phát từ
âm Âu. Âu nghĩa là U, Bu, Rú (núi, tiếng Việt cổ), Núi, Non,
Đất, Mẹ. Khái niệm Đất nước, Nước non (xứ sở) của người Việt cổ
được người Hán ký âm là Âu Lạc. Trong danh xưng Âu cơ, cơ là Hán
Việt chỉ người phụ nữ quyền quí sang trọng, Âu là mẹ. Người Việt
hay nói “đất mẹ” chứ gần như không tồn tại từ “đất cha”…
Triệu
chưa diễn hết ý, thằng An đã la toáng lên đòi vào nhà uống nước.
Cả đêm
thằng bé chắc sốt cao, nó khóc ngằn ngặt gọi mẹ trong mê sảng.
Tôi lại nghe tiếng Triệu ru con. Lần này Kinh thi chẳng còn tác
dụng. Sau đó hắn chuyển điệu:
Ầu
ơ…
Bầu
ơi tin lấy bí cùng
Tuy
rằng khác giống nhưng chung một giàn
Không
gian trở về thanh tịnh. Sâu thẳm đâu đó tiếng mèo hoang gọi bầy.
Trăng cuối tháng theo gió gõ nhè nhẹ vào bức màn trúc trước
hiên. Tiếng ru của Triệu cứ nhỏ dần, nhỏ dần nhưng không mất
hẳn. Phải chăng hắn vẫn ru con khi ngủ, ru bằng câu hát dân dã
Việt Nam đã thấm vào tim óc, đã trở thành máu thịt hắn, từ cánh
nôi của những người phụ nữ phương nam mà hắn gọi là bà nội, là
mẹ…
Ầu
ơ…
Bầu
ơi thương lấy bí cùng
Tuy
rằng khác giống nhưng chung một giàn
Thung
lũng Đa Thiện,
Đà Lạt
tháng 3.2006
Print this site

Trở về Trang Chính |