1.
Ghi chép lịch sử:
Ở phần
Ngu thư – Nghiêu điển sách Thượng Thư
có câu:
申命羲叔,宅南交。平秩南为,敬致。日永,星火,以正仲夏。厥民因,鸟兽希革
Âm Hán Việt:
Thân mệnh Hy Thúc, trạch Nam
Giao. Bình trật nam ngoa, kính trí. Nhật vĩnh, tinh Hỏa, dĩ
chánh trọng hạ. Quyết dân nhân, điểu thú hy cách.
Dịch nghĩa:
“(Vua Nghiêu) sai Hy Thúc đến Nam Giao, quan sát mặt trời di
chuyển về phương nam, ghi ngày Hạ chí. Lúc ngày dài nhất, sao
Hỏa đầu hôm ở đỉnh đầu sẽ là ngày trọng Hạ (giữa mùa Hạ). Dân ăn
mặc quần áo mỏng, chim thú thay lông”.
Trong
bài khảo cứu (viết từ năm 2004) “Một cách tiếp cận những vấn đề
cổ sử Việt Nam”,
dưới mắt của một người từng đi biển, có chút ít kiến thức thiên
văn thực hành, tôi đã mạnh dạn đề cặp đến Đàn Nam Giao nói ở
trên:
Nam Giao nằm trong hệ thống địa danh gồm: Dương
Cốc (phía đông), Muội Cốc (phía tây), Sóc Phương (phía bắc), Nam
Giao (phía nam). Từ 4 nơi này, các vị quan mà vua Nghiêu phái
đến sẽ quan sát qui luật chuyển động của mặt trời, mặt trăng và
các vì sao rồi tổng hợp các qui luật ấy thành lịch phù hợp với
sự vận hành của thiên nhiên nhằm áp dụng thẳng vào đời sống nhân
dân. Bốn địa danh trên chính là bốn trạm quan trắc thiên văn cổ
xưa của loài người.
Khảo
cổ hiện đại ở Trung Quốc vẫn chưa thể xác định kinh đô Nghiêu –
Thuấn ở đâu, dù vẫn biết nó không nằm ngoài trung lưu Hoàng Hà
(thuộc ba tỉnh Thiểm Tây, Hà Nam, Sơn Tây). Bốn trạm thiên văn
sẽ nằm về bốn hướng mà kinh đô Nghiêu – Thuấn là trung tâm.
Trong một bài toán thiên văn, sai số đo đạc (ắt phải có) càng ít
ảnh hưởng đến kết quả nếu khoảng cách các trạm càng xa nhau. Tuy
nhiên khi các trạm quá xa thì mối liên hệ giữa các trạm lại gặp
nhiều trở ngại. Theo tôi, khoảng cách giữa hai trạm Đông – Tây
hoặc Nam – Bắc sẽ cỡ 10 kinh – vĩ độ là tối đa. Một vĩ độ trên
mặt đất dài hơn 111 km. Do đó Nam Giao không thể xa hơn kinh đô
Nghiêu – Thuấn 500 km, và lại càng không thể vượt khỏi dòng
Trường Giang rộng lớn hung dữ phía nam.
Tóm
lại Nam Giao chính là một địa danh. Sau này kiến thức thiên văn
của con người sâu sắc hơn, các dụng cụ quan trắc tinh tường hơn
thì không cần thiết đi quá xa để đo đạc. Đài Nam Giao có thể
dựng ở ngay kinh đô vương quốc. Vua dễ dàng cúng mặt trời trên
đài, lần hồi Đài Nam Giao đã biến thành Đàn Nam Giao cho nghi
thức tế trời. Vai trò trạm thiên văn của Nam Giao bị che khuất
bởi hành vi tín ngưỡng. Hơn nữa chỉ cần một máy đo cao độ thiên
thể, cùng với việc tra các bảng tính sẵn trong sách vở, mọi bài
toán thiên văn phức tạp nhất đều có thể tính ra.
Ở Việt
Nam, dưới ảnh hưởng Nho Giáo Trung Hoa, từ thời Trần gần như
triều đại phong kiến nào cũng có xây dựng đàn Nam Giao và nhiều
lần tổ chức Tế Giao. Xin lược trích mô tả của tác giả Ngô Minh
về Đàn Nam Giao triều Nguyễn ở Huế, trong tạp chí Kiến thức ngày
nay số tân niên 2006: “Đàn Nam Giao được xây 3 tầng, cao
6,65m, theo thuyết Tam tài: Thiên – Địa – Nhân. Tầng trên là
Trời (Thiên) gọi là Viên Đàn, hình tròn, đường kính khoảng 42m.
Tầng giữa hình vuông, là Địa gọi là Phương Đàn, thấp hơn Viên
Đàn 2,8m, mỗi cạnh 85m. Tầng dưới cùng là Nhân, hình vuông, mỗi
cạnh 165m…”
Cũng
Ngô Minh trong bài đã dẫn: “Tế Giao là cúng tế lễ trời đất.
Tức là lễ cúng lớn nhất thiên hạ, đại lễ của trăm họ xưa, do
thiên tử đích thân chủ lễ. Vua Tế Giao một năm một lần vào mùa
Xuân, thường giữa tiết Đông Chí và Xuân Phân, lúc đầu trăng, để
cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa…”
Thật sự là theo sách Lễ Ký của Nho Giáo, lễ tế Nam Giao tiến
hành đúng vào ngày Đông Chí. Ngày này mặt trời dịch xuống vĩ độ
23 độ 27 phút Nam (đi qua thành phố Rockhamton Bang Queensland
Australia, mặt trời ban trưa sẽ ở trên đỉnh đầu của người quan
sát tại đây),
nghĩa là nó ở xa Bán cầu bắc nhất, đây cũng là ngày lạnh nhất
trong năm ở Bán cầu Bắc, đêm rất dài. Ngày xưa phương Tây dùng
lịch Julian, Đông Chí là 25 tháng 12. Giáo hội Thiên chúa giáo
khi chọn ngày giáng sinh tượng trưng cho chúa Jesu đã chọn đúng
Đông Chí. Khi lịch Gregorio thay thế lịch Julian thiếu chính xác
Đông Chí bị điều chỉnh về ngày 21 (hoặc 22)
tháng 12 hằng năm, giáng sinh đã không thay đổi theo vì thói
quen.
Theo
tôi, văn minh loài người phát triển mạnh mẽ hơn ở Bắc bán cầu.
Lễ tế Nam Giao hay Giáng sinh đều có gốc từ tục thờ mặt trời.
Chắc chắn khi chưa có tên Tế Giao hoặc Giáng sinh thì Đông Chí
là một ngày lễ khá trọng đại. Việc cầu khẩn mặt trời ở xa trở về
đem nắm ấm cho mùa màng và nhân sinh là điều dễ hiểu. Thậm chí
nó có thể trở thành “bí quyết” cho những vị chủ tế đầy quyền
lực: “Khi ta cầu nguyện, mặt trời sẽ quay trở lại với mùa
xuân!”. Qui luật chuyển động tương đối Mặt trời và Trái đất là:
khi đã đến điểm Đông Chí thì mặt trời mỗi ngày lại mọc cao hơn
một chút, tạo nên chu kỳ quay lại Bán cầu bắc với điểm tới là Hạ
Chí (đi qua thành phố Quảng Châu Trung Quốc, mặt trời ban trưa
sẽ ở trên đỉnh đầu của người quan sát tại đây).
Có một
sự trùng hợp khá thú vị: năm 2004 trong khi tôi đang mày mò trên
những trang viết của mình về Đàn Nam Giao và khái niệm lân cận
là Giao Chỉ; thì ở Trung Quốc, tại làng Đào Tự, huyện Tương
Phần, Tỉnh Sơn Tây dưới sự chỉ huy của Giáo sư Hà Nỗ, các nhà
khảo cổ và thiên văn Trung Quốc cũng đang tiến hành khảo sát, đo
đạc trên nền di tích của một kiến trúc hình bán nguyệt có niên
đại từ 4000 đến 4100 năm.
Đến
ngày 28 tháng 4 năm 2005, Giáo sư Hà Nỗ đã công bố trên trang
web Khảo cổ
và hãng tin Tân Hoa Xã: di tích kia nhiều khả năng là trạm quan
trắc thiên văn của Hy Thúc, thời vua Nghiêu cách nay 4100 năm.
Nhận thấy đây là một chủ đề rất lý thú tôi tạm lược dịch để mọi
người cùng tham khảo. Trong bản dịch này, đoạn toán thiên văn
thuộc chuyên ngành hẹp khá khô khan, tôi chỉ tóm tắt cách tính
và ghi thẳng luôn kết quả.
2.
Lược dịch
Niên
đại thiên văn của “Đài thiên văn” ở di chỉ Đào Tự
Tác
giả: Hà Nỗ, ngày 28 tháng 4 năm 2005.
Lời
dẫn
Bao
trùm một diện tích khoảng 300 ha, di tích Đào Tự nằm ở phía bắc
huyện Tương Phần, tỉnh Sơn Tây. Từ cuối thập niên 1970 đến đầu
thập niên 1980, nhóm khảo cổ của Sở khảo cổ thuộc Viện khoa học
xã hội Trung Quốc (IACASS) đã khai quật các khu định cư và một
nghĩa trang nhỏ. Thành quả khám phá đạt được là hình thành Văn
hóa Đào tự có niên đại cách đây 3900 năm đến 4300 năm. Từ chín
ngôi mộ chính (có lẽ là của vua chúa) thuộc văn hóa Đào tự niên
đại sớm, đã hiện ra nhiều đồ vật nghi lễ đặc biệt, chẳng hạn
phiến gốm sơn hình rồng, trống gốm, trống da cá sấu, nhạc khí
bằng đá, vật dụng trang trí bằng gỗ, ngọc bích và rìu đá; chúng
có thể thể hiện hình ảnh “vương quốc” nào đó.

Hình
1: Vị trí tỉnh Sơn Tây (xanh đậm)
nằm hoàn toàn ở bờ bắc sông Hoàng Hà.

Hình
2: Vị trí thành phố Lâm Phần (Gần
cuối bản đồ, đầu mũi tên xanh, cạnh dòng chữ Temple of King Yao
– Đền thờ vua Nghiêu).
Từ năm
1999 đến 2001, các nhà khảo cổ của IACASS đã tìm thấy một cấu
trúc đất sét đầm chặt khổng lồ thuộc Giữa kỳ Văn hóa Đào tự
(cách nay 4000 đến 4100 năm). Đó là bức tường thành hình chữ
nhật bao quanh diện tích 280ha, lớn nhất thời tiền sử Trung
Quốc. Năm 2002, công cuộc khảo cổ tại Đào Tự được đưa vào dự án
“Mô hình định cư và biến cải xã hội” – một dự án nhánh của dự án
“Nghiên cứu khởi thủy văn minh Trung Hoa”. Công tác ngoài hiện
trường đã khai mở những kiến trúc đất sét đầm chặt của Sơ kỳ văn
hóa Đào tự (4100 đến 4300 năm trước): khu vực hoàng cung, nghĩa
địa của quan lại và khu kho lẫm.
Những phát hiện gần đây
Từ năm
2003 đến 2004, các nhà khảo cổ học của IACASS, Viện khảo cổ tỉnh
Sơn Tây và Văn phòng di tích văn hóa thành phố Lâm Phần, đã khai
lộ một kết cấu nền móng hình bán nguyệt thuộc Giữa kỳ văn hóa
Đào Tự, nằm ngay cạnh bức tường thành phía nam (mã số Q6) cùng
niên đại. Nó bao gồm một lối đi hình bán nguyệt phía ngoài đường
kính 60m và phía trong là một nền đất nện chặt cũng hình bán
nguyệt, tổng diện tích cỡ 1700 m2.

Hình
3 : Toàn cảnh di tích đàn tế tự
(chụp từ đông sang tây)
Nền đất
đường kính 42m, diện tích hơn 1000 m2. Nó có thể đã được tái xây
dựng thành một đàn tế tự tam cấp. Cấp thứ nhất ngoài cùng có
hình dáng lưỡi liềm, cách tâm đàn tế tự 23 đến 30m. Cấp thứ hai
phía trong hình bán nguyệt, cách tâm 19 đến 21 m. Cấp thứ ba hay
đỉnh của đàn tế tự cũng hình bán nguyệt cách tâm khoảng 13m.
Nền đất
nện trên cùng hình vòng cung hướng về phía đông với 12 khe hẹp,
mỗi khe rộng 0.15 đến 0.2m, cách nhau 1,4m.

Hình
4 : Nền móng với những khe rãnh
trên đàn tế tự
Những
nét đặc trưng chắc chắn của các khe rãnh cho biết đá hoặc trụ gỗ
tiết diện hình chữ nhật hoặc hình thang có thể đã được dựng
thẳng đứng trên móng nền đất nện để tạo nên chúng.
Đứng
giữa trung tâm của đàn tế tự và nhìn qua các khe rãnh, người ta
có thể thấy phần lớn khe rãnh được xếp theo trật tự hướng đến
một điểm nhất định trên dãy Sùng sơn phía Đông. Bởi vậy, sự suy
luận hợp lý là những khe rãnh đó có thể đã được xây dựng với mục
đích quan trắc thiên văn lúc bình minh ở những điểm cụ thể vào
những ngày nhất định, nhằm thiết lập lịch mặt trời trong khu
vực, hướng đến phục vụ công việc đồng áng và mùa màng. Nói cách
khác, đàn tế tự kia từng là một trạm quan trắc thiên văn.
Khám
phá cuối cùng về gốc quan trắc ở tâm điểm đàn tế tự càng khẳng
định suy luận của chúng tôi. Đó là một hố tròn với một vòng đất
đầm nện chặt và hai vành đai cũng là đất nén chặt bao quanh. Cái
hố sâu 145cm, vành đai ngoài 86 cm, đai trong 42 cm, tâm điểm
của đàn tế tự đường kính 25 cm. Chỉ có sai biệt 4 cm giữa tâm
điểm thực và tâm điểm theo tính toán của chúng tôi trước khi
khảo sát.
Quan
trắc thử
Để kiểm
chứng giả thuyết của chúng tôi về chức năng trạm quan trắc thiên
văn của đàn tế tự, chúng tôi đã quan trắc 45 lần mặt trời mọc từ
giữa mùa đông năm 2003 đến giữa mùa đông năm 2004.
Vào
ngày Đông Chí 22 tháng 12 năm 2003, chúng tôi quan sát từ mép
rộng 0.25m (trong) đến 0.3m (ngoài) của khe rãnh Số 2, nằm giữa
trụ D9 và D10. Nó chiếu thẳng đến chỏm S8 của dãy Sùng sơn với
phương vị là 130 độ 30 phút (hình 5 và 6).

Hình
5 : Quan trắc thử

Hình
6 : Quan trắc thử
Lúc 8:17:38 am, chúng tôi thấy mặt trời mọc một nửa, chếch về
phía bắc chỏm S8 (hình 7). Nó xuất hiện không phải trên đỉnh
chỏm S8 mà cũng không phải giữa rãnh Số 2. Lúc 8:23:48 am, mặt
trời lọt vào giữa rãnh Số 2, trên đỉnh chỏm S8 (hình 8). Như thế
khoảng thời gian giữa hai thời điểm này là
⊿τ
= 6 m 10 s = 1° 32′ 30″ (hình 9 và 10).

Hình
7 : Mặt trời mọc được một nửa ngày
Đông Chí 22.12.2003

Hình
8 : Mặt trời mọc trọn vẹn ngày
Đông Chí 22.12.2003
Phân
tích
Theo
quan trắc chúng tôi thấy khi nhô lên một nửa vào ngày Đông Chí,
mặt trời gần với phía bắc của rãnh Số 2, và không nằm trong
rãnh. 6 phút 10 giây sau, khi mặt trời lên đến đỉnh chỏm S8, nó
mới lọt vào rãnh, tuy nhiên viền đáy của mặt trời đã tách khỏi
chỏm S8. Dù vậy mặt trời mọc ngày Đông Chí ở một thời điểm nào
đó trong quá khứ chắc phải nằm đúng ngay đỉnh chỏm S8 trong khi
nó lọt hoàn toàn vào giữa rãnh Số 2. Như thế rãnh Số 2 ở phía
đông có thể là rãnh dùng để quan sát mặt trời Đông chí thời tiền
sử. Sự sai lệch vị trí này có khả năng do tác động của sự dịch
chuyển hoàng đạo.
Niên
đại thiên văn
Chúng
ta thi thoảng cũng nghe về hiện tượng “tiến động” hay “tuế sai”
trong thiên văn. Tuế là năm, sai là chệch đi, tuế sai là sự sai
lệch nhỏ hằng năm trong quĩ đạo chuyển động của trái đất, mặt
trời cũng như các hành tinh. Với trái đất sự sai lệch này tích
tụ theo chu kỳ khoảng 25800 năm. Nghĩa là nếu hôm nay chúng ta
thấy mặt trời ở phương vị X, thì đúng 25800 năm sau chúng ta mới
lại thấy mặt trời ở đúng vị trí ấy, trên cùng một thời điểm
(trong ngày) và vị trí quan trắc ở trái đất.
Dùng
công thức Newcomb (tên một nhà thiên văn Mỹ, người lập ra công
thức này năm 1901), ta có thể tính ra khoảng thời gian từ lúc
đài quan sát thiên văn Đào Tự được xây dựng cho đến hôm nay trên
cơ sở đã đo được sự chênh lệch
⊿τ
= 6 m 10 s = 1° 32′ 30″ ở trên.
Kết quả
là niên đại thiên văn của đài quan sát Đào Tự là 4026 năm, tính
từ năm 2003.

Hình
9: Vị trí các khe rãnh và đường
chuẩn thiên văn.

Hình
10: Độ dịch chuyển vị trí mặt trời
Đông Chí sau 4026 năm.
夯土柱
(Kháng thổ trụ): cột bằng đất đầm nện chặt D9 và D10.
今冬至日出
(Kim đông chí nhật xuất): vị trí mặt trời đông chí mọc hiện nay.
古冬至日出
(Cổ đông chí nhật xuất): vị trí mặt trời đông chí mọc xưa kia.
地平线
(Địa bình tuyến) : Đường thẳng mặt đất nơi quan sát.
冬至测缝
(Đông chí trắc phùng): Đường nối hai vị trí mặt trời đông chí
giữa hai thời điểm quan trắc.
崇山
(Sùng Sơn) : Dãy Sùng Sơn.
Kết
luận
Niên
đại thiên văn phụ thuộc vào số liệu thực hành quan trắc và một
vài phỏng đoán nền tảng. Không có những phỏng đoán cần thiết,
thì không thể xác định niên đại thiên văn cho các công trình
khảo cổ. Phỏng đoán ở đây là rãnh Số 2 có thể đã được dùng để
quan sát mặt trời mọc ngày Đông Chí. Khi mặt trời nằm lọt giữa
rãnh Số 2, cư dân Đào Tự gọi đấy là ngày Đông Chí. Phỏng đoán
này dựa trên những lý do sau:
Trước
nhất, rất dễ xác định vị trí mặt trời mọc ngày Đông Chí bằng mắt
thường. Đứng ở một vị trí quan sát nhất định, ta sẽ thấy điểm
mặt trời mọc thay đổi theo chu kỳ: đi dần về phương nam đến Đông
Chí rồi lại chuyển lên phương bắc cho đến ngày Hạ Chí. Ta có thể
đánh dấu vị trí mặt trời mọc Đông Chí bằng cách liên kết với một
vật chỉ thị trên mặt đất (như bóng một cây cột dựng thẳng đứng
chẳng hạn). Mắt thường rất khó tìm ra thay đổi của vị trí mặt
trời mọc ngày Đông Chí trong vòng 100 năm (vì thay đổi này rất
nhỏ). Nhưng rất có thể người Đào Tự cổ xưa đã ghi nhận một đường
thiên văn chuẩn với đài quan sát để tính toán chính xác Đông Chí
(đường thiên văn chuẩn ở đây là đường thẳng nối từ tâm đàn tế tự
đến đỉnh chỏm S8). Theo những văn bản cổ, có những cách khác để
xác định Đông Chí: Đo bóng mặt trời ban trưa (bóng dài nhất nhằm
ngày Đông Chí, ngắn nhất trong ngày Hạ Chí), ghi nhận độ dài
ngày đêm (Đông Chí đêm dài nhất, Hạ Chí ngày dài nhất), theo dõi
mặt trời mọc, quan sát bầu trời sao, đo độ cao các ngôi sao lúc
bình minh và hoàng hôn. Những phương pháp này, dù sao đi nữa
cũng phức tạp hơn nhiều so với việc áp dụng đường thiên văn
chuẩn của người Đào Tự xưa. Do vậy đường thiên văn chuẩn có thể
là phương pháp sớm nhất được người tiền sử dùng để quan sát bầu
trời nhằm tính ra dương lịch (lịch mặt trời).
Thứ
hai, nhiều học giả tin rằng thành Đào Tự là kinh đô của vua
Nghiêu, người được truyền kể là tù trưởng vĩ đại và nổi tiếng
nhất trong huyền sử Trung Quốc (trước nhà Hạ và nhà Thuơng).
Theo một số sách cổ như Nghiêu Điển trong Thượng Thư, Ngũ đế bản
kỷ trong Sử ký; vua Nghiêu đã sai những vị quan theo dõi các
hiện tượng trên bầu trời như mặt trời mọc, mặt trời lặn, cao độ
các ngôi sao để làm dương lịch và âm lịch với 366 ngày một năm,
cũng như đưa ra phương án tháng nhuận. Đài thiên văn Đào Tự khớp
với những ghi chép nói trên.
Thứ ba,
dựa trên những quan trắc thử trên các khe rãnh khác, đài thiên
văn Đào Tự cũng có thể theo dõi nhiều hiện tượng nữa trên bầu
trời để tính ra dương lịch. Chúng tôi sẽ giới thiệu điều này ở
một tài liệu tiếp theo.
Cuối
cùng, niên đại thiên văn dựa trên số liệu quan trắc tại hiện
trường đã trùng khớp với việc xác định niên đại bằng đồng vị
phóng xạ carbon C 14 của Đào Tự giữa kỳ. Niên đại thiên văn là
(4026 +/- 115) năm. Niên đại C 14 thì tròm trèm 4100 đến 4000
năm (xem bảng 1).
Bảng 1:
Niên đại C 14 của di chỉ Đào Tự
Số thí
nghiệm Đơn vị địa tầng Niên đại (đến nay)
Trước công nguyên
ZK1086 IVT422④D
4080±95 2130±95
ZK1086 IVH420
4045±95 2095±95
ZK1085 IVT423④D
4030±95 2080±95
ZK1102 IVH419
3770±130 1820±130
Mặc dù
chức năng của đài thiên văn Đào Tự cần nhiều nghiên cứu bổ xung
nữa, nhưng những khảo cứu hiện tại cũng đã mở ra triển vọng tìm
hiểu thời đại Đào Tự và sự hiện diện của những nhà nước sơ khai
tại Trung Quốc.

Hình
11 : Đàn tế trời hiện nay ở Bắc
Kinh
3.
Những câu hỏi
Nhìn
trên bản đồ tỉnh Sơn Tây, nơi có di chỉ Đào Tự, ta thấy phát
tích của văn hóa Hoa Hạ nằm hoàn toàn phía bờ bắc Hoàng Hà. Các
triều đại sau thời Nghiêu Thuấn đã nam tiến, vượt Hoàng Hà vào
Trung Nguyên. Đất đai bị sát nhập, văn hóa bị thôn tính. Nền văn
minh Thần Nông bên bờ Dương Tử trở nên nhạt nhòa trong lịch sử
văn minh Trung Hoa. Trả lời được câu hỏi “Cái gì của phương Nam,
cái gì của phương Bắc?” trong văn hóa Trung Quốc cũng sẽ gián
tiếp trả lời câu hỏi “Cái gì là văn hóa gốc của người Việt Nam,
cái gì là văn hóa giao lưu (cưỡng bức hoặc tự nguyện) giữa Việt
Nam và trung Quốc”.
Thời
Nghiêu Thuấn, đàn tế tự ba tầng, hình bán nguyệt chồng lên nhau.
Muộn nhất là từ thời Chu trở đi mới xuất hiện quan niệm trời
tròn – đất vuông (chẳng hạn xe thiên tử khung vuông, mái tròn).
Phải chăng người Trung Quốc đã vay mượn yếu tố “đất vuông” từ
phương nam? Gần đây lễ tế Nam Giao ở cố đô Huế đang dần được
phục dựng lại như một nét văn hóa truyền thống Việt Nam. So hình
ảnh của Thiên Đàn Bắc Kinh và Đàn Nam Giao Huế sẽ thấy sự sai
khác: Đàn Việt Nam một bậc tròn, hai vuông; Đàn Trung Quốc ba
bậc tròn. Như vậy cần xem lại triết lý “bánh chưng vuông” không
phải của người Việt Nam, theo cố giáo sư Trần Quốc Vượng?
Có thể
xác tín thuật ngữ Nam Giao có cách đây ít nhất 4000 năm. Giao =
tiếp giáp, nên Nam Giao là lãnh thổ tiếp giáp phương nam của
vương triều sơ khai Nghiêu – Thuấn. Đây sẽ là mốc thời gian và
không gian cho thuật ngữ lân cận: “Giao Chỉ”. Như đã tiền luận
trong “Một cách tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam”, Giao Chỉ
là khái niệm chỉ vùng đất tiếp giáp phía nam của vương quốc
Nghiêu – Thuấn (và độc lập với vuơng quốc này). Nếu Giao Chỉ đầu
thời Chu nằm ở Đan Dương – Hồ Bắc, cũng là gốc tích tên gọi nước
Sở vì Giao Chỉ = Cơ Chỉ = Cơ Sở, thì phải chăng Giao Chỉ cách
đây 4000 năm dịch lên phía bắc rất nhiều? Nói cách khác, Giao
Chỉ là một khái niệm liên tục di chuyển về phía Nam theo sự bành
trướng của văn minh Hoa Hạ.
Truyền
thống vẽ bản đồ đế quốc Trung Hoa, bao gồm cả Giao Chỉ
(một khái niệm biến thiên theo thời gian), của nền chính trị
Trung Hoa, thống nhất và xuyên suốt 4000 năm nay. Rõ nhất phải
kể đến mô tả biên giới Trung Quốc trong “Tần Thủy Hoàng bản kỷ”
– Sử Ký: Biên giới phía nam nước Tần đến vùng nhà cửa quay mặt
về hướng bắc.
Truyền thống ấy hiện vẫn đang rành rành trong lập luận sở hữu
Trường Sa, Hoàng Sa và các phần phụ cận giữa Biển Đông của Bắc
Kinh. Để giữ vững chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ Việt
Nam ở thế kỷ 21, bất cứ quan điểm đàm phán và trao đổi thông tin
nào giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn nên tham khảo cổ sử. Như vậy
có quá đáng không nếu xuất hiện yêu cầu tái thảo luận cổ sử Việt
Nam nói riêng, cổ sử vùng đất từ sông Trường Giang trở xuống nói
chung, để nâng nó lên tầm lý luận mới, làm nền tảng cho văn minh
Việt Nam hôm nay?
Đàn Nam
Giao Đào Tự là bằng chứng hết sức khoa học và vững chắc để đả
phá luồng giả thuyết “quá mù sa mưa”, đi từ tự ti qua tự hào
khôi hài, của một số nhà khảo cứu Việt Nam gần đây: họ dựa vào
các sách vở tài tử kiểu “Địa đành phương đông”, cũng như các
nghiên cứu di truyền sơ khởi để an ủi nhau “Tổ tiên người Việt
Nam đã di cư lên phía bắc, cụ thể là khu vực Trung Nguyên và xây
dựng văn hóa Trung Hoa cổ”!!!
Thung lũng Đa Thiện,
Đà Lạt tháng 2.2006
http://www.guoxue.com/jinbu/13jing/shangshu/ss_001.htm
Print this site

Trở về Trang Chính |