|
Từ ngày
27.2.2008 đến 6.3.2008 báo Thanh Niên liên tiếp đăng loạt bài
“Thiền sư Lê mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động” của
tác giả Hoàng Hải Vân. Vì yêu thích cổ sử và ít nhiều đã có
những biên khảo nhỏ ở góc độ nghiệp dư, tôi đặc biệt chú ý và
theo dõi rất kỹ vấn đề ông Thát theo đuổi. Từ gợi ý của Thanh
Niên, tôi đã vừa đọc báo, vừa tìm hiểu quyển “Lục độ tập kinh và
lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta” của tác giả Lê Mạnh Thát,
NXB Tổng hợp TP HCM – 2006 (LĐTK).
Một
số điểm nổi bật
Xuyên
suốt loạt bài báo và quyển LĐTK, có thể nhận ra ngay mấy vấn đề
rất mới ông Thát đưa ra là:
1.
Truyện mẹ Âu Cơ đẻ trăm trứng nở trăm con có nguồn gốc từ nước
Phật.
2.
Truyền thuyết An Dương Vương không có thật, nó là phiên bản của
một câu chuyện Ấn Độ.
3.
Triệu Đà chưa từng xâm lược nước Việt cổ.
4. Giao
Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam trước thời Hai Bà Trưng là những quận mà
triều đình Hán “đoạt khống”, tức đặt tên trên bản đồ nhưng không
chiếm đóng trực tiếp.
Kết hợp
với việc giải mã lịch sử ẩn trong kinh Phật, ông Thát chứng minh
từ Vua Hùng đến Hai Bà Trưng nước ta hoàn toàn độc lập, có đầy
đủ chữ viết, luật tục, thi thơ lễ nhạc.
Quan điểm của ông Lê Mạnh
Thát thiên về tính bản địa của văn minh Việt Nam, nó tương đồng
với các nghiên cứu của nhiều sử gia lớn như Phan Huy Lê, Trần
Quốc Vượng, Hà Văn Tấn... Đúng là không thể phủ nhận truyền
thuyết An Dương Vương có cái vỏ Mahãbhãrata. Tuy vậy ông Thát đã
bỏ qua vài chi tiết rất quan trọng góp phần tạo dựng truyền
thuyết An Dương Vương: Tích Trương Nghi theo đường rùa bò xây
thành tại nước Thục (TK 4 TCN). Theo sách “Đông Kinh hoa mộng
lục”, thời Hậu Chu (951-959) tại Trung Quốc có xây dựng Loa
thành hình xoáy trôn ốc, có ba vòng là Thành ngoại, Thành nội và
Hoàng thành. Thành này hiện vẫn còn di tích tại thành phố Khai
Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Đó là chưa kể truyện dân gian
“Thần cung bảo kiếm” của người Choang ở Quảng Tây có motip rất
“An Dương Vương”.
Bằng việc rút mắt
xích An Dương Vương và Triệu Đà khỏi chuỗi Vua Hùng – An Dương
Vương – Triệu Đà – Hai Bà Trưng, ông Thát bắt buộc phải bẻ cong
sử liệu để nối Vua Hùng trực tiếp với Hai Bà Trưng. Phương pháp
luận này lập tức tạo ra một lỗ hổng lớn như sau:
Thời
Hùng Vương qua truyền thuyết nước ta chỉ có thể đang ở chế độ
Phụ hệ hoặc Mẫu hệ với lãnh tụ là nam giới. Trong khi đó thời
Hai Bà Trưng thì chắc chắn nước ta ở chế độ Mẫu quyền. Nội hàm
mẫu quyền bao gồm mẫu hệ và lãnh tụ là nữ giới.
Chuỗi Hùng Vương – Hai Bà Trưng của ông Thát sẽ phô ra sự thụt
lùi phi thực tế của văn minh Việt cổ, đi ngược lại hình thái
phát triển chung của nhân loại là Mẫu quyền đến Mẫu hệ rồi mới
đến Phụ quyền. Hơn nữa, dù tham khảo thêm khái niệm “Mô hình xã
hội lưỡng hệ” của GS sử học Hàn Quốc In Sun Yu trong quyển "Việt
Nam học,
kỷ
yếu
hội
thảo
quốc
tế
lần
thứ
nhất,
Hà Nội
15-17.7.1998 tập
4 (NXB
thế
giới
2001),
ta vẫn thấy sự bất cập của chuỗi Hùng Vương – Hai Bà Trưng.
Nhằm
cởi bỏ mâu thuẫn này, không ít học giả xưa nay nghi ngờ đã có
những cuộc di cư lớn của người Lạc Việt từ miền nam Trung Hoa
đến đồng bằng sông Hồng, dưới sức ép bành trướng lãnh thổ cũng
như xâm lăng văn hóa của văn minh Hoa Hạ. Hệ lụy của cuộc di tản
bất đắc dĩ đã khiến xã hội Lạc Việt đi giật lùi, trở ngược về
hình thái xã hội Mẫu quyền. Tiếc là hướng nghiên cứu ấy sẽ phủ
nhận thuyết bản địa của văn minh Việt Nam, điều mà toàn bộ quyển
sách LĐTK nói riêng và nền sử học Việt Nam không đồng tình.
Vì cố
gắng khỏa lấp lỗ hổng này, Lê Mạnh Thát đã mạnh dạn “Xác định
Việt Thường là Cửu Chân” và “Nói thẳng ra, nước ta gồm 3
quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam cho đến năm 43 sdl vẫn là một
nước độc lập, các vua Hùng vẫn cai trị và nước có tên là Việt
thường hay Việt thường thị” (LĐTK trang 318, 319). Nghĩa là
ông Lê Mạnh Thát chia cho vua Hùng quận Cửu Chân, Hai Bà Trưng
quận Giao Chỉ (!?). Xin các bạn tự kết luận sau khi cùng tôi
tham khảo Đào Duy Anh, Lịch sử cổ đại Việt Nam, NXB VHTT 2005,
trang 218, 219: “Sách Điền Hệ của Súy Phạm viết về các dân
tộc thiểu số ở miền Vân Nam cho biết rằng một dân tộc thiểu số
tên là Sản Lý hay Xa Ly, có truyền thuyết nói rằng đời Chu Thành
vương họ sai xứ giả đến triều cống, khi về được Chu công cho xe
chỉ nam, vì thế họ lấy tên là Xa Lý. Lại có một dân tộc khác là
Lão Qua có truyền thuyết rằng ở thời nhà Chu, tổ tiên của họ là
nước Việt Thường. Sách Điền nam tạp chí thì nói Diến Điện là
nước Việt Thường xưa. Những dân tộc kể trên nhận Việt Thường là
tổ tiên xa của mình đều có thể là di duệ của người Di Việt, tức
của người Việt tộc xưa cả. Do đó chúng ta có thể đoán rằng nước
Việt Thường xưa, một nước của Việt tộc ở miền nam Dương Tử, có
thể tồn tại thực, cho nên một số dân tộc di duệ của Việt tộc
ngày nay, trong ấy có Việt Nam, vẫn còn ghi nhớ mà xem như nước
tổ của mình”.
Nghi ngờ trên phương diện
văn bản học khái niệm “Đoạt khống”
Gút mắc lớn nhất và chấn
động lớn nhất theo tôi, là việc ông Lê Mạnh Thát khẳng định ba
quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam là “…"đoạt
khống" đất đai nhằm thỏa mãn não trạng và ao ước bành trướng của
nhà Hán mà thôi”. Lập luận của bài báo là: Tượng Quận nằm ngoài
lãnh thổ Việt Nam hiện đại. Trích báo “Một
số tài liệu Trung Quốc có chép một cách lầm lạc rằng nó là Nhật
Nam (nước ta) sau này, nhưng đối chiếu với những tài liệu tin
cậy cũng của chính Trung Quốc, từ rất sớm người ta đã biết Tượng
Quận nằm giữa hai quận Uất Lâm và Tường Kha của Trung Quốc chứ
không phải nước ta”.
Quan điểm này đã
có hàng trăm năm nay với những cái tên quen thuộc như Maspero,
hoặc hoàn toàn xa lạ như Guime Saeki (Tạp chí Nam Phong, số 133,
năm 1928). Thực ra Nguyễn Văn Tố
đã bác bỏ Maspero một cách thuyết phục như sau: Hán Thư chép năm
76 TCN bỏ Tượng Quận, lấy đất ấy nhập vào Uất Lâm và Tường Kha.
Đây là Tượng Quận của đời Hán chứ không phải của đời Tần.
Quyển Lĩnh Ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi có đoạn nói Hán Vũ Đế
chiếm Nam Hải đã tách Tượng Quận của Tần làm ba Giao Chỉ, Cửu
Chân, Nhật Nam, lại cắt một ít Nam Hải và Tượng Quận để thành
Hợp Phố. Nguyễn Văn tố đã đi xa hơn khi khẳng
định “… người Tần bấy giờ mới đi đến Quế Lâm, còn từ Quế Lâm
trở vào chẳng biết rộng hẹp thế nào, cứ đặt một quận để gọi là
có tên…”.
Trước tháng 10 năm 2004,
trước khi sách của ông Thát ra đời gần 2 năm, trong nhiều bài
khảo cứu đăng trên mạng tôi đã chứng minh bằng thiên văn một
cách có hệ thống tính khái niệm của ba từ Giao Chỉ, Cửu Chân,
Nhật Nam. Nó tương đồng hoàn toàn với định nghĩa “đoạt khống”
của ông Thát. Về phần tôi, khó ai có thể qui kết tôi đã tham
khảo ông Thát khi dùng thuật toán thiên văn rất riêng của một
người đi biển yêu cổ sử. Trên giấy trắng mực đen của văn bản
học, người nêu ra vấn đề trước (2004) có quyền nghi ngờ người in
sách sau (2006). Nếu độc giả tin tưởng ông Thát, xin vui lòng
giúp ông Thát chứng minh giữa sách in và bản thảo có khoảng cách
“an toàn”, giúp hai hướng nghiên cứu này cùng góp phần làm sáng
tỏ lịch sử Việt Nam.
Về
sử liệu ông Lê Mạnh Thát sử dụng
Sử liệu
về cổ sử Việt Nam thật ít ỏi, phần lớn là sách Trung Quốc và
truyền thuyết dân gian. Đến thời đại văn minh mạng máy tính hôm
nay, chúng ta không những có nhiều công trình biên khảo của
người Việt xuất bản liên tục, mà còn có thể truy đến nguyên văn
Hoa ngữ khá đầy đủ, hệ thống và khoa học trên các trang web
Trung Quốc cũng như Đài Loan. Tiếc là phần lớn LĐTK của ông Thát
viết cách đây đã 40 năm, sử liệu Trung Hoa ông dùng thiếu độ
liền lạc, đầy đủ cũng như không được cập nhật. Hơn nữa ông chỉ
dịch cắt khúc từ những nguồn rất cũ như Tiền Hán thơ 44
7al-11a13, hoặc Sử Ký 112 tờ 7b10-8a3.v.v.. mà không
hề có bản tiếng Hoa kèm theo. Phần dịch sử liệu chiếm hơn một
phần ba của LĐTK dày 365 trang. Điều này gây khó khăn cho người
khảo cứu và các sinh viên khoa sử muốn xem sách của ông như một
tài liệu tham khảo hữu dụng, và lại càng đánh đố những ai muốn
“tra tận gốc” sử liệu của ông Thát như gợi ý của báo Thanh Niên.
Ngoài
ra có thể nói ông Lê Mạnh Thát đã khai thác một chiều sử liệu
Trung Hoa: Suốt LĐTK, ông sử dụng khá nhiều văn bản Trung Hoa,
nhưng đáng tiếc phương pháp của ông rất cảm tính. Thứ gì có lợi
cho thuyết của ông thì ông xem như chân lý và không nhìn nhận nó
dưới nhiều góc độ. Việc “phân đất” Cửu Chân cho vua Hùng ở trên
là ví dụ thứ nhất. Ví dụ thứ hai: Trong mục “Về vấn đề chín
quận” trang 319 đến 327, ông Thát dẫn từ Tiền Hán Thư các con số
thống kê dân số năm thứ 2 sau công nguyên. Ông xem nó đúng một
cách tuyệt đối và dông dài phân tích các con số. Ở đây tôi muốn
trích lời Stephen O’Harrow, trong quyển Những vấn đề lịch sử
Việt Nam, NXB Trẻ 2001, trang 30, bình luận trên cùng những con
số này: “Vào đầu thế kỷ I sau công nguyên, người Trung Hoa
nói chung cũng không thật giỏi giang và chính xác lắm, chưa kể
họ còn sử dụng tri thức vì lợi ích của họ”.
Một dẫn
chứng nữa: Ngày nay, dưới nhãn quan thiên văn hiện đại, người ta
phát hiện rất nhiều ghi chép thiên văn cổ Trung Hoa có những sai
lệch khá ngờ ngệch. Chẳng hạn các sao hung cát đã không ít lần
được các sử quan cho chiếu xuống Trung Quốc không theo chu kỳ mà
đa số sử quan đã rất am tường. Giả thiết là, đây hẳn nhiên mang
dấu ấn chính trị nhằm tác động đến nhóm người mê tín nào đó có
quyền đưa ra các quyết sách quan trọng.
Nếu lật
ngược con số nhân khẩu Giao Chỉ rất lớn ở Tiền Hán Thư, ta hoàn
toàn có thể đưa ra giả thiết: Nhóm mang dã tâm bành trướng trong
triều đình Hán muốn kê dân số Giao Chỉ lên cao để chứng minh nơi
này đất rộng người đông, sản vật phong phú, nếu chiếm đóng sẽ
mang nhiều lợi ích cho Hán tộc. Đọc truyện Giả Quyên Chi trong
Hán thư ta sẽ thấy triều Hán lúc nào cũng có hai nhóm ủng hộ và
phản bác việc mở rộng và trực trị cương giới phía nam.
Tạm
kết luận
Trong
khuôn khổ một bài báo ngắn mà tôi muốn viết, chỉ ra bất cập
trong các nghiên cứu “chấn động” của ông Lê Mạnh Thát, không thể
quá dài dòng và truy đủ cước chú. Mặc dù còn khá nhiều lỗ hổng,
nhưng tôi tin công trình của ông Thát cũng như công trình khảo
sử của bất cứ ai đều đáng trân trọng và cần được đưa ra công
luận một cách bình đẳng. Càng nhiều cày xới, càng nhiều suy biện
thì người đọc càng có cơ hội tiếp cận gần nhất sự thật lịch sử.
Thảo
điền
6.3.2008
Trở về Trang Chính |