|
Tháng
1/2007, những bài viết tôi từng giới thiệu trên mạng về cổ sử
Việt Nam đã được NXB Lao Động chi nhánh TP HCM mua bản quyền in
thành sách dưới nhan đề “Cổ sử Việt Nam – Một cách tiếp cận vấn
đề”. Vì bản tính nóng vội và ẩu tả cố hữu của một người tìm hiểu
lịch sử nghiệp dư tùy hứng, tôi đã không nhuận bổ được gì thêm
vào hình tượng An Dương Vương trước khi bàn giao bản thảo. Điều
đó khiến tôi có cảm giác chưa trọn vẹn với quyển khảo cứu đầu
tay của mình.
Trước
đây tôi đã đặt dấu hỏi về âm mưu thực dân của đế quốc Hán, liên
quan đến sự giải thích thuật ngữ Giao Chỉ trong sách Tàu rất mù
mờ và khác xa logic thực tế. Nếu khả năng này có thật, thì hiển
nhiên âm mưu ấy không thể đơn độc, nó ắt phải thuộc về một hệ
thống. Kết quả là, hệ thống này không đời nào bỏ qua hình tượng
An Dương Vương.
An
Dương Vương được xem là vua khai quốc Âu Lạc nên trước tiên tôi
nhắc lại mấy vấn đề về Âu Lạc trong quyển sách giới thiệu ở
trên: Âu Lạc là kí âm Đất nước, Xứ sở của người Việt bằng Hán
tự. Người Việt ở Phiên Ngung, người Việt dưới mé sông Hồng, hay
người Việt tại đất Mân đều gọi nơi mình sống là Âu Lạc. Cũng có
thể xem Âu Lạc là tên bằng tiếng Việt của nước Nam Việt. Khi
Tư Mã Thiên viết Tây Âu Lạc, ông ta hàm ý phía tây Phiên
Ngung. Tất cả những gợi ý này được tôi rút ra từ cách dùng từ
Tây Âu Lạc và Âu Lạc trong Sử Kí của Tư Mã Thiên.
Câu hỏi
ở đây là: Tại sao trong mạch Sử Kí, Âu Lạc là một vùng
đất khá rộng lớn. Các sách ra đời sau Sử kí lại dần dần
giới hạn Âu Lạc và gắn nó với An Dương Vương.
Phải
chăng muốn đồng hóa một dân tộc, đầu tiên nên cố gắng xóa sạch
kí ức phát tích và nguồn cội của chính dân tộc đó?
Thực thi phương châm này, đế quốc Trung Hoa đã không ngừng thu
hẹp thuật ngữ Âu Lạc trong địa lí hành chính cũng như sách vở?
Sử
Kí hoàn toàn không nói về An Dương
Vương, song có đề cặp đến Tây Âu Lạc, Tây Vu Vương. Cùng thời
với Sử Kí có Hoài Nam Tử của Lưu An chép quân
trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống bị Đồ Thư giết. Hán Thư
tổng hợp Sử Kí và Hoài Nam Tử đã xem Tây Âu Lạc là
Tây Âu khi rút gọn Tây Âu Lạc thành Tây Âu.
Tài
liệu đầu tiên nói về An Dương Vương là Giao Châu Ngoại vực kí
(TK IV) nhưng do sách này đã thất truyền nên chúng ta chỉ có thể
tham khảo lời dẫn ở sách Thủy Kinh Chú (TK VI). Sách thứ
hai trên cùng chủ đề là Quảng Châu Kí (TK V), được dẫn ở
Sử kí sách ẩn (TK VIII). Hai sách này nội dung như nhau:
Giao Chỉ có ruộng Lạc, dân lợi dụng mùa nước mà cày cấy. Dân gọi
là Lạc dân. Có Lạc vương, Lạc hầu. Quận huyện có Lạc tướng. Sau
con vua Thục đem quân đánh chiếm, xưng là An Dương Vương. Sau
nữa úy Đà thu phục An Dương Vương.
Sử kí sách ẩn
còn ghi
thêm: Âu Lạc tức Giao Chỉ và Cửu Chân.
Xâu
chuỗi dữ liệu này, tôi xin đề nghị một hướng giải mã mối nối
thực - ảo mang tên An Dương Vương: Dịch Hu Tống chết, nhân dân
Tây Âu Lạc không chịu làm nô lệ đã quật khởi kháng chiến và giết
được Đồ Thư. Không lâu sau, Triệu Đà bắt đầu dòm ngó sang hướng
tây. Trước nguy cơ bị thôn tính, quân trưởng An Dương Vương đã
liên kết các bộ lạc Tây Âu Lạc, xưng vương. Triệu Đà thất bại
trong việc thôn tính Tây Âu Lạc bằng quân sự nên quay ra dùng kế
li gián. Tay chân của An Dương Vương ăn của đút lót, đánh đuổi
vua rồi xưng vương, chịu sự giám sát của Triệu Đà. An Dương
Vương cùng một số quí tộc di tản bằng thuyền qua cửa biển Hợp
Phố xuống đồng bằng sông Hồng, sông Mã. Năm 111 TCN Hán Vũ Đế
xâm lăng Nam Việt. Tây Vu Vương toan chống lại thì bị Hoàng Đồnghttp://www.guoxue.com/shibu/24shi/shiji/sj_113.htm
(nguyên tả tướng của triều đình Phiên Ngung được cử qua giám sát
Tây Vu Vương) thủ tiêu. Truyền thống “di tản” của người Âu Lạc
vẫn diễn tiến sau khi bọn Việt gian Tô Hoằng và quan lang Đô Kê
chặn bắt thuyền của Lữ Gia và Kiến Đức.
Hai lần
di tản năm 179 và 111 TCN ấy, ngoài con người, văn hóa của Âu
Lạc cũng đã di tản xuống phương nam. Thời gian xóa nhòa mọi thứ,
biến một phần những chi tiết thực tế thành cổ tích truyền từ đời
này sang đời khác. Đó là lí do tại sao An Dương Vương trong kí
ức dân tộc Việt Nam có một phần rất thực, trùng khớp với tín sử.
Sau
chín thế kỉ, từ ngày Hán Vũ Đế thôn tính Nam Việt. Sách vở Trung
Quốc đã rút vùng đất Âu Lạc rộng lớn xuống thành hai quận Giao
Chỉ và Cửu Chân. Dưới ảnh hưởng của hệ thống xuyên tạc ấy, quyển
sách sử đầu tiên của dân tộc Việt Nam ghi nhận An Dương Vương
như sau:
An Nam chí lược của Lê Tắc (1335)
Việt-Vương-Thành, tục gọi
là thành Khả-Lũ, có một cái ao cổ, Quốc-vương mỗi năm lấy ngọc
châu, dùng nước ao ấy rửa thì sắc ngọc tươi đẹp. Giao-Châu
Ngoại-Vực-Ký chép: hồi xưa, chưa có quận huyện, thì Lạc-điền tuỳ
theo thuỷ-triều lên xuống mà cày cấy. Người cày ruộng ấy gọi là
Lạc-Dân, người cai-quản dân gọi là Lạc-Vương, người phó là
Lạc-Tướng, đều có ấn bằng đồng và dải sắc xanh làm huy hiệu.
Vua
nước Thục, thường sai con đem ba vạn binh, đi chinh phục các
Lạc-Tướng, nhân đó cử giữ đất Lạc mà tự xưng là An-Dương-Vương.
Triệu-Đà cử binh sang đánh. Lúc ấy có một vị thần tên là Cao-
Thông xuống giúp An-Dương-Vương, làm ra cái nỏ thần, bắn một
phát giết được muôn người. Triệu Đà biết địch không lại với
An-Dương-Vương, nhân đó trú lại huyện Võ-Ninh, khiến Thái-Tử
Thuỷ làm chước tá hàng để tính kế về sau.
Lúc
Cảo-Thông đi, nói với vua An-Dương-Vương rằng: "Hễ giữ được cái
nỏ của ta, thì còn nước, không giữ được thì mất nước".
An-Dương-Vương có con gái tên là Mỵ-Châu, thấy Thái-Tử Thuỷ lấy
làm đẹp lòng, rồi hai người lấy nhau. Mỵ-Châu lấy cái nỏ thần
cho Thái-Tử Thuỷ xem, Thuỷ xem rồi lấy trộm cái lẩy nỏ mà đổi
đi. Về sau Triệu-Đà kéo quân tới đánh thì An-Dương-Vương bại
trận, cầm cái sừng tê vẹt được nước vào biển đi trốn, nên
Triệu-Đà chiếm cả đất của An-Dương-Vương. Nay ở huyện Bình-Địa,
dấu tích cung điện và thành trì của An-Dương-Vương hãy còn.
* * *
Tóm
lại, hình tượng An Dương Vương trong hiến sử Việt Nam là một tổ
hợp phức tạp những ghi chú có chủ ý của sách vở Trung Quốc và
lời truyền miệng dân gian. Yếu tố Thục trong truyện An Dương
Vương, về sau đến Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên đã
được nhấn mạnh, bằng cách sao chép tích Trương Nghi theo vết rùa
bò mà xây được các vòng thành tại nước Thục.
Rất lạ
là, hàng ngàn năm giới viết sử rất hiếm khi nghi vấn độ tin
cậy của các tài liệu Trung Hoa, chứ đừng nói đến chuyện
nghiêm túc lọc lựa tìm hiểu các vỉa nghĩa kín đáo thể hiện chính
sách thực dân phương Bắc. Hiển nhiên lớp lớp sử quan Hoa Hạ
không ít người tiết tháo, trung thực như Thôi Trữ, Tư Mã Thiên;
nhưng sẽ tuyệt đối hoang đường nếu vận dụng kinh nghiệm dân
gian: “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”. Phàn nàn
duy nhất hay được nêu ra chỉ gói gọn ở sự kiêu ngạo, kẻ cả của
con mắt Trung Hoa khi nhìn sang các nền văn hóa xung quanh mình.
Tưởng rằng điều này thức tỉnh suy nghĩ, nhưng ngược lại, nó âm
thầm lây truyền, dẫn đến thái độ không đúng mực của chữ nghĩa
Việt đối với các láng giềng như Chiêm Thành, Ai Lao, Khơ Me,
Xiêm La…
Như vậy
có thể khẳng định, giống mọi dân tộc khác thuở bán khai, lịch sử
sơ khởi của người Việt Nam là những câu chuyện thời xưa nửa hư
nửa thực, nhuốn màu hoang đường, truyền kể từ thế hệ này qua thế
hệ khác. Tất nhiên nó vẫn phản ánh sự thật khách quan, song ở
mức độ rất thấp. Sau khi giành được độc lập, sử gia kết nối hiện
thực (đã bị kẻ xâm lược bóp méo) với truyền thuyết. Thành ra cổ
sử Việt Nam luôn mang tính hư cấu vừa chủ quan, vừa khách quan
và sai lạc với thực tế rất nhiều.
Tưởng
rằng về sau, tư liệu dễ truy cập, các tồn nghi lịch sử dần dần
sẽ được giải quyết, hay ít nhất là đi đến chỗ tạm đồng thuận.
Tuy nhiên vào thời hiện đại, dưới ảnh hưởng thời tiết chính trị
khu vực, cộng với tầm nhìn chưa bao quát và độc lập của ngành sử
học, thuyểt “bản địa” của văn hóa và văn minh Việt Nam lại được
đề cao. Đến nay cổ sử Việt Nam đã hoàn toàn lạc đường, hay nói
cách khác nó giữ mãi truyền thống là một văn bản chính trị của
một triều đại.
Chính
trị và những vấn đề nội hàm luôn có tính phân đoạn bởi các triều
đại chưa bao giờ trường cửu. Có thể hình dung lịch sử tựa một
dòng chảy đại đồng, hầu như không gãy đứt. Phân kỳ của sử học
đơn giản chỉ là sự tiếp nối nhận thức trước – sau, mới – cũ…
Sự phối
ngẫu gượng ép giữa sử học và chính trị sẽ dần mòn giết chết sử
học, sẽ tha hóa sử gia và biến họ thành những chiếc máy xúc đất
vô cảm, hăm hở đào cuốc các vỉa thời gian tại những di chỉ khảo
cổ.
Lịch sử
là nền tảng cho mọi kiến trúc nhân văn. Riêng dành lịch sử làm
giá đỡ vương miện, sẽ khiến các loại kiến trúc nhân văn khác
hổng chân và bản thân lịch sử trở nên hèn mọn. Quá trình phân
rã, suy đồi của xã hội phải chăng bắt đầu từ đó?
Thảo Điền
01.2007
Print this site

Trở về Trang Chính |