Giới
thiệu: Xưa
nay truyền thống chỉ có thể phê bình, phân tích những tác phẩm
đã ra đời, đã được viết. Trong thoáng suy tư xốc nổi, tôi bỗng
muốn phá cách làm mới, thử “đọc” một quyển tiểu thuyết “ma”.
* * *
Phải nói ngay
“Mùa trái đắng” là tựa đề khá sến. Tôi biết tác giả từng ướm thử
cái tên “Khổ qua” nhưng thấy “bí hiểm” quá nên thôi. Hình như
trong tiếng Hán – Việt, trái của dây leo gọi là “qua”, trái của
cây thân mộc gọi là “quả”. “Khổ qua” diễn nôm rất phù hợp với
cốt truyện, nhưng chỉ ngại thâm Nho át Nôm.
Truyện có bốn
nhân vật chính, nữ khoác nam tính và nam mang nữ tính. “Hắn”,
đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số ít theo đặc trưng Huế, được áp
cho hai phụ nữ. Chữ “chàng” sử dụng cho đấng mày râu. Tân Lang,
người miền bắc Việt Nam, cô gái thành đạt này đã “mua” chàng
Vương từ Trung Quốc làm chồng. Văn Kiều, người miền nam Việt
Nam, anh ta hợp đồng chung sống với Jane vài tháng để cải thiện
mức sống. Vương, người Việt Đông (tên gọi khác của Quảng Đông)
Trung Quốc, quê hương nghèo khó nên thất nghiệp và không may bị
bọn buôn người qua biên giới bắt bán cho Tân Lang. Jane Fonda,
cựu nữ quân nhân Mỹ trong chiến tranh Việt – Mỹ, lãnh lương hưu,
hàng năm hay sang Vũng Tàu tránh lạnh mùa đông.
1. Đắp đảo hiện thực hay chỉ là trò nói ngược
sống xít
Bối cảnh xã hội
của truyện rõ ràng ở Việt Nam. Nào là Hà Nội, Hải Phòng, Sài
Gòn, Vũng Tàu rồi đến Huế, Đà Nẵng, Hội An, Đà Lạt. Song Việt
Nam trong truyện không phải Việt Nam mọi người vẫn thấy. Đó là
Việt Nam “con rồng châu Á” trong mơ: xe bốn chỗ ngoại hạng hiệu
Mê Linh (hơn hẳn Toyota) loang loáng trên các xa lộ cao tốc,
thành phố thương mại chọc trời. Sự tương phản giàu nghèo là con
đỉa hút máu văn minh, là bóng ma kỹ thuật số. Chàng thợ may Văn
Kiều xuất lộ từ khe nứt ấy. Nghe lời dỗ ngon dỗ ngọt của ma cô,
chàng đành đoạn bán mình cho Jane vì gia cảnh khốn khó!
Hãy tưởng tuợng
quyển sách này như một ngôi nhà. Nỗ lực của tác giả là thay đổi
vị trí đồ gia dụng như giường, tủ, bàn ghế… Sự hoán chuyển, có
thể rất vô lý, tất khiến dòng đối lưu không khí cũ mèm chệch
hướng. Hậu quả là thanh âm miệng nói vẫn thế nhưng tai nghe sẽ
cảm nhận khang khác. Cái “khác” gánh vác những gửi gắm của người
viết. Cũng bằng cách đó tác giả mong tránh được gốc “kịch” trong
đối thoại. Bản thân các đối thoại khó hiện diện ngoài đời, nên
độ chênh giữa văn và đời không xuất hiện, tính “kịch” bị triệt
tiêu. Tiếc là thủ pháp đối thoại gián tiếp hay bị lạm dụng, nét
linh động kém đi, lắm lúc nó thành ra trần thuật lê thê. Nhược
điểm này khá rõ, là sạn đen giữa bát cơm trắng.
Trong truyện, bốn nhân vật
có cái chung rất đáng nghi ngờ là nói tiếng Việt Nam giỏi hơn
bất cứ người bản xứ bình thường nào. Lời giải thích trơn tuột:
Nữ chiến binh Jane trẻ trung từng mang lý tưởng cứu thế. Choáng
ngợp trước nền văn hiến lâu đời, Jane quay ra thù ghét mục đích
cuộc chiến bại hoại, ghét chính trị giả nhân giả nghĩa nói
chung. Jane ráo riết vừa học tiếng Việt, vừa tìm cách lẩn trốn
nhiệm vụ luôn gắn với sự chết chóc của một người lính Mỹ. Jane
trung niên miệt mài theo ngành Việt Nam học, xông xáo cáng đáng
từ thiện trong cộng đồng Việt Nam tị nạn. Càng muốn tìm hiểu
Việt Nam cặn kẽ, Jane càng phải học nhiều, từ chữ Hán đến chữ
Nôm và tiếng Hán Việt. Chàng Vương đến với tiếng Việt rất tự
nhiên. Chàng mồ côi từ bé, cha mẹ chàng là nạn nhân của Cách
mạng Văn hóa Trung Hoa. Vương là con nuôi một gia đình người Hoa
gốc Việt từng sống ở Hải Phòng, bị làn sóng bài Hoa năm nọ tống
về vùng nông thôn chậm tiến giữa tỉnh Việt Đông. Chu Văn An, ông
nuôi của Vương đã truyền cho Vương tất cả kiến thức của một thầy
đồ Việt Nam thủ cựu. Văn Kiều và Tân Lang không siêu như hai
người kia. Họ chỉ được trang bị 2000 chữ Hán – Việt thông dụng,
từ dạo phổ cập đại học cộng đồng bắt buộc và miễn phí theo luật
định. Văn Kiều dùng mớ kiến thức đó để đọc câu đối, đại tự và
nghiền nghẫm nó mỗi khi đi chùa xám hối (đều đặn mùng một và
mười rằm mỗi tháng). Tân Lang vô thần rất khoái bút đàm, hằng
tuần “hắn” viết hàng mớ bản sao truyền
[1] gửi
tới tắp qua Trung Quốc, dụ dỗ hậu duệ thương nhân Lã Bất Vi,
Phạm Lãi mua các thiết bị công nghệ tân tiến nhất sản xuất tại
Việt Nam.
Người đọc có thể
cười về phương pháp tráo đổi, về áp đặt tính cách nam nữ, cười
về kiểu xây dựng nhân vật rất phi lý của truyện. Nhưng tôi tin
nụ cười đó đắng chát. Vị đắng chén trà Tàu luôn khơi nguồn cho
chuỗi ngọt hậu. Vị đắng của “Mùa trái đắng” lại xộc lên cái nồng
gắt hoa cải quê nghèo, và nước mắt phải chăng là niềm day dứt
khôn nguôi trước hiện thực và viễn cảnh tương lai đang bị đắp
đảo lột trần.
2. Phủ nhận giới tính hay giải phóng phụ nữ?
Đúng là ở ngày
hậu văn minh sẽ có cuộc giải phóng phụ nữ toàn diện. Nhưng giải
phóng phụ nữ chắc hẳn không hàm nghĩa phủ nhận giới tính. Từ
thời Thần Nông xa xưa, người phụ nữ Việt Nam vốn nắm giữ quyền
lực tối cao. Bóc tách những biểu hiện hiện đại mong tìm ra dấu
tích mẫu hệ là việc không dễ và khó tránh phản biện. “Đạo Phật
chắc chắn đã du nhập vào Việt Nam nói riêng và nền văn minh Thần
Nông nói chung khi xã hội hãy còn theo mẫu hệ. Phật bà Quan Âm
bước lên bệ thờ và khẳng định sự sùng kính nữ giới của cộng
đồng.” (trang n + 180). “Người Việt Nam gọi nhau bằng tên riêng,
hòa đồng, thân thiện nhưng đôi khi bỗ bã, không như nhiều nền
văn hóa khác, nơi phụ quyền luôn lấn át vai trò của người mẹ
trong gia đình và khối quần cư.” (trang n + 185). “Truyện cổ
tích Trầu cau chính là dấu ấn chuyển mình từ chế độ đa phu sang
hình thức hôn phối một vợ một chồng.” (trang n + 186).
Tác giả đã mạnh
dạn khoác vào những nhân vật nữ phẩm chất rất đàn ông. Câu
chuyện tưởng chừng vô lý nhưng hoàn toàn không vô tưởng. Tuy lồ
lộ ảnh hưởng “Giới tính thứ hai” của Simone De Beauvoir và chủ
nghĩa Siêu hiện thực phương Tây hơn năm mươi năm trước, nhưng
tác giả không muốn hổng chân. Khai mở lịch sử cổ xưa bằng phương
pháp quy nạp, hắn đã thành công khi tạo được nền tảng để sự giả
định đứng vững. Nơi đó, phụ nữ không còn là phái yếu. Họ có thể
làm bất kỳ điều gì người đàn ông có thể làm, dù ngoài thực tế họ
vẫn phải trầm mình trong hệ lụy hàng ngàn năm bị đè nén, bị xem
là cái bóng của cha, của chồng, của con và của cả nền luân lý Á
Đông cổ điển. Đi xa hơn nữa, các nhân vật nam đều “mặc váy”
không ngượng ngập. Họ hoán vai rất thành công. Chàng Vương
nghiện Thẩm mỹ viện, một tuần ít nhất cố dành nửa ngày ra đó
chải chuốt, nặn trứng cá và buôn chuyện xóm làng với vài ông bạn
thân. Tân Lang lại thích lê la quầy rượu, nói chuyện chính trị
và ngắm nhìn không chán các anh phục vụ lực lưỡng xung quanh.
Hai hình ảnh song đối vừa buồn cười, vừa như lời cảnh tỉnh.
Tôi không phản
đối khát khao giải phóng phụ nữ trong truyện. Điều nên tâm niệm
là: trao thêm quyền lực gia đình và xã hội cho chị em, không có
nghĩa đánh tháo trách nhiệm của đàn ông. Đó mới là con đường đi
tới sáng sủa. Nếu tác giả chịu khó lăn lộn thực tế hơn nữa, nếu
việc tả cảnh, tả tình khéo tay hơn chút nữa, hiển nhiên người
đọc sẽ bớt thấy gượng gạo. Khi ấy, những tràng cười của độc giả
khi cầm quyển truyện trên tay chắc chắn rất thoải mái nhưng vẫn
không mất đi nét thâm trầm, lắng đọng.
3. Không che dấu tính dục hay dùng dục tính
câu khách?
Một phần tư
truyện tả cảnh làm tình. Trong mây mưa, các triết lý xen vào lổm
ngổm đến độ chói tai. Hai cặp Tân Lang – Vương và Văn Kiều –
Jane tình cờ gặp nhau trên chuyến du lịch “Khám phá di sản của
nhân loại” từ Huế qua Mỹ Sơn rồi dừng chân tại Hội An. Họ kết
thân rất nhanh để đi đến cao trào là cuộc làm tình tập thể trong
một ngôi nhà cổ (thuê ngắn hạn) bên sông Hoài. “Những mộc gỗ rệu
rã trệu trạo cọ vào nhau tạo thành âm thanh đêm bí hiểm, xoay
vòng quanh chiếc đèn lồng đỏ bầm ma quái treo ngoài hiên. Tiếng
rên khoái lạc của Tân Lang và Jane lại tìm về nữ tính, đu bám
vào chân gió tê buốt xuyên dọc con đường ven sông. Hai kẻ gieo
giống cắn răng, hì hụi gồng mình giao cấu như người máy, như bọn
nô lệ hèn nhát nhất. Họ sợ thanh âm đĩ thõa lỡ bộc phát sẽ xúc
phạm bà chủ đầy quyền lực đang nhấp nhổm bên trên.” (trang n +
280). Rồi họ bỗng nhận ra, mỗi người trong họ có chút ít ham
muốn đồng tính. Khi Tân Lang và Jane mệt ngoài, say đắm ôm nhau
ngủ thì Vương cùng Văn Kiều thao thức, đụng chạm và rạo rực.
Ta thấy tác giả
đã bị ảnh hưởng của nhóm nhà văn nữ “tân hiện đại”, “tân tả
thực” đang nổi đình nổi đám ở Trung Quốc gần đây. Nếu tác giả
khéo léo thêm một tí, trau chuốt ngôn ngữ cho hành vi tính dục
trở nên thanh hơn, thì sự ảnh hưởng này sẽ được công nhận rộng
rãi. Nói cho cùng ảnh hưởng chẳng có gì xấu, nó là quá trình chủ
thể học hỏi tự làm đẹp. Xấu hay đẹp luôn nằm trong chất lượng
của sự ảnh hưởng mà thôi.
Truyện đi vào
đoạn kết, Tân Lang và Jane ôm hai quả bầu vượt mặt. Không ngờ
giấc điệp hồi xuân quá dữ dội, Jane tin chắc đứa con rốt lòng
của mình rất sáng láng. Bệnh viện phụ sản lại cho rằng Jane
hoang tưởng. Siêu âm tới lui, nghe đo tim thai nhiều lần bác sĩ
vẫn kết luận Jane mắc bệnh phù thủng cục bộ, chứ không phải sắp
vượt cạn. Tân Lang thì khác, “hắn” mang cảm giác chới với. “Hắn”
phân vân chẳng biết mình có thể vừa trở thành một người mẹ tốt,
vừa không bị tách ra khỏi biết bao lạc thú thanh xuân cùng nhiều
tham vọng xã hội đang mở ngõ. “Hắn” sợ đèo bồng, sợ tuổi ba mươi
phơi phới phải ngậm ngùi cất tiếng hời ru mênh mang diệu vợi
trong tù ngục.
Đúng là đảo điên,
kẻ có mong không, người không tưởng có. Và còn đảo điên hơn nữa
khi hai gã đàn ông “bán mình” nọ lén lút thông đồng, rủ nhau bỏ
trốn lên cao nguyên Lâm Viên với cuộc tình đồng tính chẳng hứa
hẹn một thế hệ tiếp nối. Tiểu đoạn khép màn âm u màu sắc địa
ngục: “Đêm đen như nhựa đường, lạnh như thạch nhũ hang sâu,
sương bảng lảng cùng ma trơi uốn éo quanh đồi thông mang hình
thù một bàn chông nhọn hoắt. Tiếng cú rúc, tiếng quạ kêu, tiếng
chim lợn eng éc quấn vào nhau, chụp xuống căn nhà rông bé xíu có
hai thằng người đang tập tành làm tình, với sự giúp sức của dược
liệu, thuốc kích thích và các trợ cụ ứng dụng công nghệ hiện đại
bậc nhất hành tinh.” (trang cuối).
4. Yếu tố lịch sử xuyên suốt hay làm dáng văn
hóa – chính trị chính em?
Truyện chứa rất
nhiều những suy tư, khắc khoải về lịch sử. Ngay tên riêng của
các nhân vật gần như đều được nêm mớm từ lịch sử. Vương và Văn
Kiều khiến ta nhớ đến gia đình Vương ngoại trong Đoạn trường tân
thanh. Tân Lang thì rõ ràng ghép tên hai anh em sinh đôi từ cổ
tích Trầu Cau. Jane Fonda là cô ca sĩ phản chiến của cuộc binh
lửa Việt – Mỹ.
Tác giả tạm chấp nhận lý
thuyết “vườn địa đàng Phi châu” và sử dụng công trình nghiên cứu
di truyền mới nhất của Spencer Wells
[2] để
vẽ chân dung tiên tổ người Việt Nam hiện đại. “Cuộc di cư đầu
tiên của Eva và Adams tiến hành dọc bờ biển Nam Á cách nay 60
ngàn năm. Đến bán đảo Peninsular một nhánh xuống Úc châu, nhánh
còn lại hướng lên phía Bắc, qua Việt Nam và dừng chân bên lưu
vực Trường giang. Dòng người thứ hai từ Phi châu đến Trung Đông
cách đây 45 ngàn năm, hai nhóm nhỏ tách ra tại đó lại đi đến Ấn
Độ và cực bắc Trung Hoa.” (trang n + 50). Truyện gọi không gian
văn hóa địa lý bao la (phía nam từ đồng bằng sông Mã, phía bắc
là lưu vực Trường giang, phía đông giáp biển, phía tây dựa vào
cao nguyên Tây Tạng) là văn minh Thần Nông. “Nền văn minh này
khởi đầu phát triển rất mau chóng, có nhiều thành tựu bất diệt
nhưng nhược điểm lớn nhất của nó là không tạo ra được chữ viết.
Văn minh Hoàng hà song song ở phương bắc, không kém văn minh
Thần Nông bao nhiêu nhưng thế mạnh của nó là ký tự tượng hình
với bằng chứng khảo cổ là những mảnh giáp cốt có niên đại 8600
năm
[3]. Chữ
Việt trong từ Bách Việt, Việt Nam do người phương bắc thảo ra,
mang ý nghĩa là đi về phương nam, vượt qua dòng Trường giang, xa
xôi, vùng đất lạ…” (trang n + 60).
Lịch sử trong
truyện khởi đi từ cổ tích đến thần thoại, truyền thuyết, huyền
niệm hoang đường. Những chất liệu thô mộc chưa kịp chế biến kỹ
lưỡng được đặt thẳng lên bàn ăn: “Từ Hồng Bàng, có trong bất cứ
quyển sử nào chiết tự là Giang (sông) – Điểu (chim) và Nghiễm
(mái nhà) – Long (rồng). Chim tất nhiên biết bay như tiên và đẻ
trứng, nhà của nó trên núi. Rồng hợp với biển khơi vô bờ.”
(trang n + 12). “Thánh Gióng thời đó chưa biết hiếu nghĩa, lập
công xong chẳng thèm chào cha mẹ sinh dưỡng, về hưu là bay thẳng
lên trời. Hắn nghi ngờ chiếc roi và con ngựa bằng sắt quá. Có sự
khập khiễng nào đó giữa thời đại của Thánh Gióng và kỷ nguyên đồ
sắt.” (trang n+14). “Vẻ đẹp của trống đồng chẳng từ ngữ nào mô
tả nổi. Tuy nhiên võ đoán di chỉ Đông Sơn (miền biên viễn của
một không gian văn hóa bao la, lớn hơn cả nước Xích Quỷ) là
trung tâm, là đỉnh cao muôn trượng, tỏa hào quang khắp nơi, thật
khó ổn lắm thay.” (trang n + 20).
Đến khi có tín
sử, có văn bản để kiểm chứng thì cái chất chính trị xạm như
chàm, rất tiếc, luôn dính vào khuôn mặt văn hóa. Tác giả quá non
tay nên không thể tách bạch, chắt lọc, làm nổi lên tâm thức vàng
ròng. “Sấm trạng trình chỉ nên xem là một áng sử thi. Từ Việt
Nam xủng xoảng mở đầu có lẽ là cách nói xuôi, nói nôm về nước
Nam Việt của Triệu Đà. Nhầm lẫn cố ý của nền chính trị thơ trẻ
Đinh, Lý, Trần là đã xem Triệu Đà như ông vua khai quốc.” (trang
n + 29). Từ chuỗi luận lịch sử, tác giả khiên cưỡng suy diễn
chuỗi luận trong một dòng họ: “Rất lạ, Hồ Quý Ly và Hồ Thơm cùng
một tổ. Ông nào cũng bước ra vũ đài bằng cái họ vay mượn. Nếu
Nguyễn Huệ không chết thảm, chết khi đang ôm ấp hoài bão đại
cường truyền kiếp, thì cái ngày ông tuyên xưng Hoàng đế của toàn
cõi Việt Nam hình chữ S, ông cũng lấy lại họ cũ thôi. Đáng buồn
là gốc mầm Nguyễn Quang Toản chưa hứa hẹn đem đến cho người Việt
Nam một minh quân.” (trang n + 205)
Ngày hôm qua luôn
gắn liền với nhận thức và ký ức cá nhân. Jane bảo: “Đáng lý Mc
Caine phải nói kẻ không ngờ thua đã thua. Trên phương diện con
người và xã hội cuộc chiến tranh kia chẳng có kẻ thắng. Ở trường
hợp này, trên đỉnh cao chiến thắng, sự thua thiệt, mất mát, tụt
lùi lại càng thăm thẳm hơn bao giờ hết.” (trang n + 80). Cũng
Jane nói giữa thánh địa Mỹ Sơn: “Điều lạ lùng là nỗi đau của con
người trong chiến tranh, theo thời gian sẽ gần như bị xóa nhòa,
còn những nỗi đau văn hóa thì ngày càng thấm thía hơn. Một thế
kỷ nữa, dù có trùng tu và khôi phục thật nhiều, thương tích của
Mỹ Sơn dưới thảm bom B52 năm 1968 vĩnh viễn không thể kéo da
non.” (trang n + 260). Các thế hệ “lâm chiến” đang dần dần mai
một, văn chương Việt Nam hôm nay sẽ ít chú trọng mô tả chiến
tranh như một hiện thực. Như thế không có nghĩa chiến tranh bị
quên lãng. Nó sẽ đào thải mọi phù phiếm và biểu trưng nhất thời,
để mãi mãi được ghi nhớ như bài học đắt giá quá đáng.
Sử liệu trong văn
chương hiện ra thật trinh nguyên và ít định kiến cộng đồng, tập
thể. Cố gắng dựng lên những đường nét thuận chiều xuyên suốt
lịch sử của tác giả, không ngờ biến nhiều trang viết thành khô
cứng, ít sống động, gây cho người đọc cảm giác nhàm chán. Ở góc
độ cởi mở hơn, có lẽ tác giả muốn tiểu thuyết là kho tri thức cá
nhân để mọi người tham khảo. Rốt lại, đọc sách chính là quan sát
sự quan sát, suy nghiệm, tư duy của kẻ khác. Thế kỷ 21 bùng nổ
tri thức, người ta không thể ôm đồm tất cả mà luôn ước cầu cơ
duyên. Sau khi kiểm chứng độ tin cậy, mới dám mong chút tri thức
ít ỏi nào đó là của mình. Tìm kiếm tri thức rất quan trọng,
nhưng việc phải làm, việc quan trọng hơn hết của một cá nhân
chắc chắn là ứng dụng tri thức ấy như thế nào trong đời sống
thực tế.
5. Nghệ thuật, ngôn ngữ và thần khí
Một lần nữa tôi
lại dẫn Nguyễn Du: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Tài có
phải là kết cấu, bút pháp, nói chung là nghệ thuật viết, là hình
thức? Theo tôi, tài không hẳn chỉ nằm tại Mỹ, nơi công thức Chân
– Thiện – Mỹ. Nếu hội họa từng phá tan khối bê tông cốt thép
“đường nét, màu sắc, bố cục” để tung tẩy thì văn chương luôn
khúm núm bên khuôn phép sáo mòn, cái tháp ngà của niềm tự tôn
ngờ nghệch.
Sai lầm lớn nhất của phê
bình văn học là tính hình thức của chính nó. Nó lúc nào cũng đeo
đôi kính đổi màu mang đủ thứ tên gọi và khái niệm hổ lốn, soi
mói các tác phẩm văn học. Hậu quả nhãn tiền: với đa số tác giả,
họ rất nghệ sĩ ở quyển sách đầu tay và chuyển qua làm thợ lành
nghề trong quyển tiếp theo. Một ngày đẹp trời không xa, phần mềm
viết văn sẽ ra đời. Chỉ cần bạn nhập ý tưởng, lập tức chương
trình điện toán sẽ cấu thành hàng chục cách viết, hàng trăm kiểu
thể hiện ý tưởng kia bằng loại ngôn ngữ nào bạn muốn, tất nhiên
có tham khảo đủ văn cảnh trước, sau và toàn bộ những gì chính nó
đã dựng nên
[4]. Tôi
tin rồi các nhà văn sẽ sớm lặng dừng sợi dây thần kinh day dứt
về hình thức, để cuối cùng họ tập trung vào công việc tối thượng
là tìm kiếm những ý tưởng nhân văn.
Đã đến lúc nhìn
lại cặp khái niệm “Tài – Tâm” và “Tài – Đức”. Sự mổ xẻ, đoạn
phân quen thuộc chỉ thành công rất hãn hữu. Ở mức độ bao quát,
“Tâm” hay “Đức” và “Tài” đều là con đẻ của “Trí”. Kẻ bất trí
không thể có tài, và càng không thể sở hữu tâm sáng, đức dày.
Lý luận văn học hình như
luôn bị ám ảnh bởi yêu cầu giản dị của ngôn ngữ. Đây là ám ảnh
có thật của nghệ thuật nói chung. Tôi xin dẫn trường hợp Chopin,
nhà thơ trác việt của chiếc đàn dương cầm. Ông từng nói: “Rốt
cục tôi cần đến sự giản dị. Sau khi thử thách mọi khó khăn, sau
khi chơi rất nhiều nốt, tôi phải chấp nhận cái gì giản dị nhất,
chính cái giản dị ấy là vẻ duyên dáng, là nét thể hiện cuối cùng
của nghệ thuật. Người nào muốn đạt ngay được cái giản dị ấy thì
không bao giờ thành công vì người ta không thể bắt đầu bằng chỗ
chấm hết”. Sách vở máy móc là vậy, nhưng nữ văn sĩ George Sand
đã chứng kiến lao động nghệ thuật của Chopin: “Y đóng cửa trong
phòng suốt ngày, khóc, cười, đi lại, viết đi viết lại một phách
đến hàng trăm lần. Ngày hôm sau Y lại kiên nhẫn đem ra viết lại
thật kỹ lưỡng trong cơn thất vọng. Y mất sáu tuần lễ cặm cụi
trên một trang giấy để rồi sau cùng trở lại giữ nguyên câu đã
viết ra ngay lúc đầu”
[5].
Cuộc xung đột giữa người nghệ sĩ và ông thợ lành nghề thật khủng
khiếp. Thần khí của cái tâm đã chiến thắng.
Tác giả của “Mùa
trái đắng” nên biết những điều trên. Mừng là trong truyện, hắn
không quan tâm đến sự gò bó của định kiến và những yêu cầu giản
dị bàng quan. Hắn phải chấp nhận lời chê bai hắn không có thứ
ngôn ngữ của riêng mình. Ngôn ngữ hắn hấp thụ được từ thời đại
thế nào, hắn dùng thế ấy, không đau đớn dằn vặt từng con chữ,
không màng khi nó là thứ ngôn ngữ chính trị áp đặt, ngôn ngữ
ngoại giao tráo trở khoa trương bóng bẩy, ngôn ngữ báo chí thuần
thông tin, hay ngôn ngữ chợ búa thô vụng. Có điều, tôi không thể
phủ nhận thần khí của hắn đã nhập vào đám chữ kia. Rất khó nói
văn hắn vô hồn và vô cảm. Đó là sự thành công tối thiểu của hắn,
ở một người đọc khắt khe nhất. Tôi hoàn toàn ủng hộ hắn. Thật ra
quá chăm chút đến sự giản dị, nhà văn dễ biến mình thành kẻ đồng
bóng cầu kỳ. Ngộ thoại “Thôi – Xao” của Giả Đảo, một thi sĩ thời
Đường ngày xưa là ví dụ rất điển hình.
6. Kết kuận
Trong phê bình
truyền thống, phần này sẽ dành để nói vài câu đãi bôi, chẳng
hạn:
“Tác giả X đang
bắt đầu một sự nghiệp văn chương thật sáng sủa. Tôi tin X sẽ
vững tin vào mình với những tác phẩm tiếp theo thành công hơn,
có nghề hơn”
“X là một tác giả
trẻ (tuy rằng X sắp làm ông ngoại). Tôi không chúc bạn thuận
buồm xuôi gió. Mong rằng trải qua thử thách cay nghiệt của nghề
văn, bạn sẽ sớm trăm tuổi bạc đầu râu!”
“Không thể ngảy
tót lên chuyên nghiệp ngay được. Hãy gột rửa phù phiếm để xoa
tay nặn một tác phẩm đích thực. Tôi biết X thừa khả năng.”
“X là con chim
đang làm tổ, con ong đang hút mật. Kỳ vọng lắm thay một mùa xuân
hoa lá tràn trề.”
“Với đà tiến thế
này, nhà văn trẻ của chúng ta sẽ chẳng cần chờ đến ba trăm năm
cho vài giọt nước mắt. Xin X nhớ tặng tôi quyển truyện thứ hai
cùng một chiếc khăn tay siêu thấm.”
Bạn đọc đang cười
tôi ư? Kiểu khoá đuôi kia có lâu rồi, thời người ta còn cố lịch
sự, bóng gió, nho nhã. Đến buổi kinh tế thị trường đầy dẫy toan
tính, kết luận của một bài phê bình đơn giản đi rất nhiều: nếu
không vờ vĩnh tránh né, xiên xỏ, chửi bới, cãi cọ; thì người ta
quảng cáo đánh bóng, thổi nịnh, bốc thơm không giới hạn. Xin
miễn dẫn ra nhằm gìn giữ sự trong sạch cho quyển sách chưa được
mở máy vi tính để gõ bàn phím lưu vào ổ cứng.
Với tiểu thuyết
“Mùa trái đắng”, xin chỉ nói một câu: “Đây là tác phẩm “ma” rất
xứng đáng có vé trong chuyến xe luân hồi sớm nhất”. Nếu đồng ý
như vậy, bạn, tôi hoặc ai đó là thân sinh hậu kiếp của con “ma”
kia không thành vấn đề nữa. Nâng niu thiện chí chia sẻ với mọi
người một ý tưởng trọn nghĩa tinh thần, phải chăng đã là quả
ngọt của bất cứ hồn văn nào?
Nhà khách Dâu tằm
tơ, thị xã Bảo Lộc, Lâm Đồng.
Giữa tháng 9.2004
Chú thích
[1]
Sao truyền: fax, theo cách dịch của Huỳnh Phan Anh.
[2]
http://news.nationalgeographic.com/news/2002/12/1212_021213_journeyofman.html
[3]
http://dsc.discovery.com/news/briefs/20030421/writing.html
[4]
Tôi đoán câu: “Quan quan thư cưu - Tại hà chi châu” nếu
đưa vào phần mềm nọ, chắc chắn sẽ có một khả năng trở
thành: “Khứ niên kim nhật thử môn trung - Nhân diện đào
hoa tương ánh hồng”.
[5]
Chopin hay nhà thơ của âm nhạc, trang 162, 163, 164, Guy
De Pourtalès, Vũ Đình Lưu dịch, Ca Dao xuất bản tại Sài
Gòn, 1972.
Print this site

Trở về Trang Chính |