1.
Lan man chữ nghĩa
Tương
truyền năm 1893, khi đoàn thám hiểm của bác sĩ Yersin đặt chân
đến cao nguyên Lâm Viên, thông qua phu dẫn đường phiên dịch ông
hỏi cư dân bản địa: “Đây là đâu?”. Một người đã trả lời: “Đây là
Đạ Lạch”. Ngữ âm này ngay lập tức biến thành địa danh Dalat trên
bản đồ Đông Dương thuộc Pháp. Khi Việt hóa Dalat, chúng ta có
tên gọi Đà Lạt.
Chính
vì nguồn gốc từ Đà Lạt không được Yersin ghi chép lại, hoặc có
ghi chép nhưng đã thất lạc nên trước nay xuất hiện rất nhiều
cách giải thích ngữ nghĩa. Gần đây mọi người hầu như đã thống
nhất với nhau rằng Đà Lạt tức là Đạ Lạch: (Dòng) nước, (dòng)
suối của người Lạch. Cũng cần nhấn mạnh thêm một lần nữa: Ở chợ
Đà Lạt được xây dựng năm 1937, người ta gắn một phù điêu chữ
Latin: Dat allis laetium allis temperriem (cho người này niềm
vui, cho người kia sự mát lành). Nhiều người từng lầm tưởng đó
không phải là kiểu chơi chữ Dalat mà gán ghép nó thành gốc rễ
của tên gọi Đà Lạt.
Người
Lạch, chủ nhân đầu tiên của mảnh đất Đà Lạt là một phân chi
trong dân tộc Kơ Ho. Dân tộc Kơ Ho lại là một chi lớn trong cộng
đồng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên Việt Nam với những đặc
trưng văn hóa - chủng tộc thuộc về đại cộng đồng người tiền Đông
Nam Á bản địa xa xưa. Những thành tựu nghiên cứu văn hóa lịch sử
Việt Nam và thế giới gần đây cho thấy thuật ngữ “Cộng đồng người
tiền Đông Nam Á” trải rộng từ Indonesia lên đến bờ nam sông
Trường Giang Trung Quốc. Bằng các phương pháp truy nguyên ngữ âm
học, các chuyên gia ngôn ngữ học Việt Nam hiện nay đã đi đến kết
luận chữ Giang trong Trường Giang là Hán tự kí âm phương ngữ.
Thật vậy, chữ Giang ghép bởi chữ Thủy (mang nghĩa nước, sông) và
chữ Công (kí âm). Công có họ hàng với Krông, tức là dòng sông,
dòng suối trong ngôn ngữ của cộng đồng người Đông Nam Á cổ và
hiện vẫn tồn tại trong ngôn ngữ Tây Nguyên. Trường hợp tên gọi
Mêkông (tiếng Thái, tức là mẹ của các dòng sông, dòng suối) cũng
vậy. Ngày nay ở Tây Nguyên nhóm từ Đạ / Đak / Krông đều chỉ
nước, sông, suối.
Tại hội
nghị nghiên cứu thời kì Hùng Vương năm 1971, trong tham luận
“Thử tìm nguồn gốc ngữ nghĩa của từ tố Lạc”, Nguyễn Kim Thản và
Vương Lộc đã giải thích Lạc nghĩa là nước. Hai ông cũng liên hệ
được Lạc với Nác (tức nước) theo phương ngữ miền trung Việt Nam.
Theo tôi từ Lạc không đơn thuần chỉ là nước mà nó đôi khi còn
được sử dụng với nghĩa Xứ Sở với các dẫn chứng liên hệ như
Negeri (tiếng của người Mianagkabau ở Malaysia), Nưgar (tiếng
của người Chiêm Thành).
Như
vậy, khi xâu chuỗi các nghiên cứu trên lại với nhau ta có một
nhóm từ tố mang nghĩa rất giống nhau là : Đạ / Đak / Krông / Lạc
/ Nác / Nước / Nưgar / Negeri. Câu hỏi đặt ra ở đây là: trong
môi trường văn hóa - chủng tộc Đông Nam Á cổ, phải chăng cả dải
đất Việt Nam ngày nay đều thuộc về con cháu vua Hùng, tổ tiên họ
đều từng ở trong bọc trứng của Âu Cơ tức là Mẹ Đất? Chữ Âu ngoài
nghĩa đất còn có thể là U, Mẹ, Núi, Non (1).
Nếu các
nhà nghiên cứu của chúng ta tiếp tục các nỗ lực về nguồn không
mệt mỏi, tôi tin rằng họ sẽ sớm chứng minh được từ Lạc, Nác và
Đạ cũng như Đak có một mẫu số chung là nền văn hóa tiền Việt
Nam. Xin được nêu ra ở đây một giả thuyết: không đơn giản Lạc /
Nác / Đạ / Đak nói về nước, về sông, suối. Có thể chúng còn mang
một nghĩa rộng hơn, trừu tượng hơn đó là Xứ Sở tương tự như
Nưgar, Negeri. Do đó Đà Lạt, trái tim của Tây Nguyên là gì nếu
không phải “Xứ sở của người Lạch thuộc dân tộc Kơ Ho, hậu duệ
của một trong năm mươi người con lên núi cùng bà mẹ cao quí Âu
Cơ”. Và thật tuyệt vời Đà Lạt lại chính là một tên gọi giúp
chúng ta chứng minh nghĩa của Lạc Việt là Xứ sở của người Việt.
2.
Lễ hội hoa hay festival hoa
“Hoa
nghĩa là gì?”, một người bạn Nhật đang học tiếng Việt đã chỉ vào
những cánh phướn sặc sỡ có dòng chữ Festival Hoa và hỏi tôi. Cái
tên gọi nửa Tây - nửa Ta ấy còn vô duyên hơn rất nhiều công
trình dành cho Lễ hội hoa 2005 vẫn dang dở bê tông, cát đá, xi
măng, sắt thép trên thảm đất đỏ nhoèn nhoẹt dưới mưa phùn.
Cái khó
của những lễ hội Việt Nam là làm sao vừa tôn vinh truyền thống
dân tộc, vừa hài hòa với hiện đại. Song le, trên mảnh đất Lâm
Viên này sự xung khắc giữa truyền thống thiểu số bản địa và ký
ức Pháp thuộc lại hé mở nhiều khía cạnh cần xem xét cẩn trọng.
Nguồn
gốc mỹ danh “Thành phố hoa” bắt đầu từ một bài báo của P. Munier
trên Tạp chí Đông Dương (1941): “Ở bên phải tôi một lọ lớn
cắm hoa Glay-ơn tuyệt đẹp. Ở bên trái tôi là nhũng đóa hoa Cẩm
chướng xinh tươi như ở Pháp. Trong một lọ hoa khác là vài nhành
Địa lan màu vàng tôi vừa hái trong rừng. Trước cửa sổ sáu cành
hoa Mimosa đong đưa trong gió. Ba đóa hoa Cẩm tú cầu như ba khối
tròn mà xanh biếc đặt trên lò sưởi chờ cắm vào bình. Đà Lạt là
như vậy đó! Trước hết Đà Lạt là xứ sở của hoa…”(2).
Sau năm
1954, dưới trào Chủ tịch hội đồng thị xã Nguyễn Vỹ, cuộc cách
mạng Việt hóa các địa danh Đà Lạt nói riêng và cao nguyên Lâm
Viên nói chung, diễn ra rộng khắp. Tên danh nhân và những vùng
đất lịch sử - văn hóa nước Việt thay thế dần tên Pháp: Duy Tân,
Hàm Nghi, (Hồ) Xuân Hương, Vạn Kiếp… Các phương ngữ bản địa thì
biến thành Việt âm: Langbian thành Lâm Viên, Djilinh thành Di
Linh, B’lao thành Bảo Lộc…
Việc
dịch xuôi tiếng Pháp như Bois d’ Amour là Rừng Ái Ân, Vallée d’
Amour là Thung lũng Tình yêu, Lac du cité Decoux (Hồ Đờ Cu – tên
một viên toàn quyền Đông Dương) thành Hồ Vạn Kiếp, là hoàn toàn
chính đáng. Đây là nỗ lực lớn lao của con người Đà Lạt nhằm phi
thực dân hóa mảnh đất vạn xuân này. Mặc dù ít nhiều trong dân
gian, vẫn không thiếu kẻ vọng ngoại, họ thích gọi hoa cúc là
Margeurite, gọi du thuyền Thiên nga là Pedalo… chắc là cho oai!
Tuy
nhiên, điều đáng tiếc nhất lại xảy ra với quá trình Việt hóa
ngôn ngữ bản địa. Về khía cạnh nào đó, nó không khác kiểu tái
lập thực dân. Thật vậy, tất cả các tên gọi bản địa đều mang
những dấu tích văn hóa lịch sử của đồng bào dân tộc nơi đây.
Chẳng hạn Langbian là ngọn núi do thần Lơm Biêng xây đắp làm trụ
chống trời; Cam ly (tên thác) vốn là tên một tù trưởng dân tộc
Cil, K’ Mly; Prenn (tên đèo) nghĩa là vùng lấn chiếm từng ghi
dấu chân của các chiến binh vương quốc Chămpa thế kỷ 17 .v.v..
Các nhà
nghiên cứu lịch sử Việt Nam đã từng xót xa vì không tìm ra gốc
tích các địa danh, nhân danh thời Hai Bà Trưng hoặc trước nữa vì
nó đã bị kí âm bằng Hán tự (do chúng ta không có chữ viết), như
Mê Linh (có lẽ là M’linh, tương tự như trường hợp Djilinh - Di
Linh), Trưng Trắc, Trưng Nhị... Lẽ nào bài học ấy không thể được
nhìn nhận lại trong cách hành xử văn hóa của chúng ta với đồng
bào thiểu số Tây Nguyên hôm nay?
“Festival hoa” hay “Lễ hội hoa” về nghĩa cũng như nhau cả thôi,
nhưng nó cho thấy cách nhìn và những giới hạn của người tổ chức.
Mong lắm sự cân nhắc có chiều sâu văn hóa dân tộc và bản địa, ở
từng sự kiện Việt Nam muốn vươn ra tầm khu vực và thế giới, đó
chính là một phần bản sắc riêng biệt nơi ta mà bè bạn mong thấy.
Thung
lũng Đa Thiện,
Đà Lạt
12.2005
Chú
thích:
(1) Xin
xem thêm, cùng một tác giả: “Một cách tiếp cạn những vấn đề cổ
sử Việt Nam” – Vnthuquan.net
(2)
Theo Nguyễn Hữu Tranh, Đà Lạt năm xưa, Cty VH TH Lâm Đồng, 1993.
Ý Kiến xin gửi về:
truongthaidu@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |