|
Đa số bản đồ du lịch phổ thông của thành phố
Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông Trung Hoa đều có giới thiệu về Bảo
tàng lăng mộ kiểu Tây Hán của Nam Việt Triệu Văn Vương. Đây là
một địa chỉ văn hóa cực kỳ phong phú và
giá trị trong vùng Hoa Nam. Bảo tàng nằm tại số 867 đường
Giải phóng bắc, hơi chếch về bên trái cổng chính công viên Việt
Tú nổi tiếng.
Năm 1983, khi san một quả đồi nhỏ để xây dựng các
công trình dân sinh, tình cờ một ngôi mộ đá rất xưa, không hề có
dấu tích bị xâm phạm, được phát lộ. Ngành khảo cổ học vào cuộc
và thật bất ngờ, những di vật tìm được cho thấy đây là nơi yên
nghỉ hơn hai ngàn một trăm năm qua của Nam Việt Vương Triệu Hồ.
Triệu Hồ có thể là con Trọng Thủy [1], cháu nội Triệu Đà (? –
137 trước CN), ông ở ngôi được 16 năm (từ 137 đến 122 TCN) [2].
Mộ Văn Vương nằm lẹm vào triền đồi, gồm nhiều
tảng đá xếp chồng lên nhau tạo thành không gian an táng bên
trong. Cửa mộ là hai phiến đá được mài đẽo khá vuông vắn. Đà cửa
cũng bằng đá, đã gẫy nhưng chưa sập hẳn, có lẽ do không chịu nổi
sức nặng của khối đất đỏ bazan bên trên sau nhiều lần thấm đẫm
nước mưa suốt hơn hai thiên niên kỷ. Tổng diện tích sàn mộ trên
dưới 25 thước vuông, chia làm 6 khu gồm sảnh chính, gian quàn
thi thể và 4 phòng chứa đồ tùy táng.
Xác Văn Vương nằm trong quan tài gỗ 2 lớp, được
tẩm liệm kín bằng những mảnh ngọc mỏng hình chữ nhật, liên kết
với nhau bởi chỉ tơ. Tuy nhiên mọi chất liệu hữu cơ đã bị phân
hủy hoàn toàn. Ngay đến bộ xương người nay chỉ hiện hữu vẻn vẹn
hai mảnh hàm còn nguyên bộ răng khá hoàn chỉnh.
Năm 1988, một viện bảo tàng đồ sộ được khánh
thành trên chính ngọn đồi này. Người ta giữ nguyên hiện trạng
hầm mộ, làm vòm che, đường dẫn để khách có thể bước xuống tham
quan. Hơn một ngàn hiện vật còn khá nguyên vẹn lấy ra từ mộ được
bảo quản và trưng bày trong các gian bảo tàng xây dựng phía sau.
Nó phản ánh một cách trung thực, khách quan và rất đầy đủ chi
tiết về chính trị, kinh tế và văn hóa của một triều đại nổi bật
ở Hoa Nam, vốn không được tín sử Trung Hoa mô tả kỹ lưỡng cũng
như xem trọng đúng mức.
Các di vật chính hiện trưng bày: Khá nhiều thao
ấn [3] bằng vàng và ngọc khắc chữ triện như Long kim ấn “Văn đế
hành tỉ”, Quy kim ấn “Thái tử”, Ngọc ấn “Triệu muội” (Muội có
khả năng là tên khác của Triệu Hồ hoặc một danh xưng khiêm tốn
của Nam Việt Vương với triều đình Tây Hán); các loại đồ gốm, nồi
đồng, búa sắt, rìu sắt, dao, rựa, lò nướng thịt, lưới đánh cá,
tiền đồng… Khánh đá, chuông đồng, tù và bằng ngọc bích… Mực tàu,
nghiên mực… Thuốc bắc, sừng tê giác, ngọc trai… Bình nước, bình
rượu, ly chén đĩa bằng đồng và ngọc, khuy áo vàng bạc đồng,
gương đồng, tráp bạc, phù ngọc, chân bình phong đồng, tay nắm
cửa đồng, đèn đồng, chân nến ngọc, vật trang sức bằng vàng bạc
đồng ngọc bích ngọc trai; tượng mỹ thuật gốm, đá, đồng và ngọc,
đỉnh trầm… Áo giáp sắt, giáo, mác, thương đao bằng kim khí, mũi
tên đồng, kiếm sắt chuôi nạm ngọc… Tất cả đồ vật nói chung được
chế tác ở một trình độ khá tinh xảo, thẩm mỹ cao, hoa văn đẹp
nhưng nhỏ bé và giản dị [4].
Xét về quy mô, mộ Nam Việt Văn Vương khá khiêm
tốn so với nhiều ngôi mộ cùng thời khác từng phát lộ ở Trung
Hoa. Nó cho thấy khu vực Bách Việt nói chung và Nam Việt nói
riêng còn kém phát triển ở khía cạnh nào đó, trong bức tranh
toàn cảnh từ thời Tây Hán trở về trước.
Dù sao đi nữa, ở thì hiện tại di tích mộ Nam Việt
Văn Vương chứa đựng những giá trị lịch sử vô giá cho
các dân tộc Bách Việt xưa kia và
người Việt Nam hiện đại. Giữa bối cảnh các vùng đất
của Nam Việt cũ như Quảng Tây, Quảng Đông đã bị Hán hóa đến tận
chân lông kẽ tóc, sự độc lập của Việt Nam ít nhiều sẽ giúp việc
nghiên cứu quá khứ khách quan và công bằng hơn. Ví như tên đầy
đủ của bảo tàng hiện nay là : Tây Hán Nam Việt Vương mộ bác vật
quán; chữ “Tây Hán” được khuyên hiểu là “kỷ Tây Hán, thời Tây
Hán, kiểu Tây Hán”. Song tác giả vẫn thấy chữ này như một chiếc
cũi vô hình, trói buộc nhận thức, định dạng di tích mộ Nam Việt
Văn Vương trong vòng cương tỏa của nền văn hóa Hán tộc, mặc dù ý
chí độc lập và tự cường gần 100 năm của các triều đại Nam Việt
Vương là không thể phản bác. Bằng chứng là từ thời Triệu Đà, Nam
Việt đã chịu xưng vương trước nhà Hán nhưng Triệu Hồ vẫn sử dụng
ấn “Nam Đế hành tỉ”, chữ Đế xem như một biểu tượng bất khuất.
Tuy còn những bất đồng thuận trong việc nhận định
vai trò 5 đời vua Nam Việt giữa dòng lịch sử Việt Nam, song sử
gia Việt Nam vẫn nên có những nghiên cứu nghiêm túc, đầy đủ về
ngôi mộ này. Chẳng hạn có gì khác nhau giữa bó tên có mũi bằng
đồng còn như mới trong viện bảo tàng đã nêu và loại nỏ và tên do
Cao Lỗ, tướng của An Dương Vương chế tạo ra? Nếu truyền thuyết
An Dương Vương là có thực, hiển nhiên nhiều di vật trong mộ
Triệu Hồ sẽ là vật chứng so sánh có một không hai với những khám
phá khảo cổ Việt Nam về An Dương Vương và Loa thành trong tương
lai.
Quảng Châu nay chính là Phiên Ngung xưa, kinh đô
Nam Việt. Nhìn những cao ốc tân kỳ thi nhau vươn lên trời cao,
núi đồi bị bạt dần, lòng người không khỏi tiếc nuối. Ngung sơn,
nơi có mộ Nam Việt Vương Triệu Đà chắc ở đâu đó trong lòng thành
phố [5]. Mong những cọc móng các công trình xây dựng đồ sộ đừng
phạm phải hài cốt Triệu Đà. Tuy nhiên chính những khối bê tông
muôn hình muôn vẻ kia đang muốn vĩnh viễn che giấu tích xưa,
người cũ. Thêm nhiều yếu tố tinh thần của con người và xã hội
mới, vô hình chung hiện tại dường như đã đoạn tuyệt với quá khứ,
bằng việc gia cố và chôn chặt những mộ phần cổ kính một cách
chắc chắn hơn bao giờ hết.
Chú thích:
[1] Nói “có thể” là vì: Các sách sử xưa nay ở VN
đều cho rằng Trọng Thủy tự tử theo Mỵ Châu vào năm 208 trước CN,
năm An Dương Vương bại trận trước Triệu Đà. Như thế ít nhất
Triệu Hồ phải sinh ra cùng năm đó. Vậy đến năm 122, khi mất,
Triệu Hồ đã 86 tuổi. Xem hàm răng còn nguyên vẹn trong mộ sẽ
thấy bất thường. Đại Việt sử ký toàn thư (NXB KHXH – Hà Nội
1993), Ngoại kỷ, Quyển 2 (phần Văn Vương) ghi nhận Triệu Hồ mất
năm 52 tuổi có vẻ hợp lý với di cốt nhưng mâu thuẫn với những
niên biểu khác trong cùng kỷ ấy.
[2] Các niên biểu ở đây đều lấy từ phụ chú của
Viện Bảo Tàng Lăng mộ Nam Việt Vương tại Quảng Châu. Có vài khác
biệt so với Việt sử.
[3] Thao ấn là loại ấn nhỏ để đeo, có dây choàng
vào cổ. Tiếng Hán hiện đại đùng từ “Nữu ấn” để chỉ “Thao ấn”.
[5] Khâm định Việt sử thông giám cương mục (NXB
GD Hà Nội 1998), Tiền biên, Quyển 1, ghi chú : Sách Thái bình
hoàn vũ ký của Nhạc Sử đời Tống, mô tả Ngung Sơn chỉ cách Huyện
lỵ Nam Hải (tức Phiên Ngung) 1 dặm về phía bắc.
[4] Theo tôi biết trên mạng có ít nhất hai bài đã
viết về lăng mộ này. Một của Trương Quang tại
http://perso.wanadoo.fr/charite/office1/013quangchau.html và
một của Mai Thế Phú tại
http://www.sgtt.com.vn/cacsobaotruoc/439_43/p12_13_thamditichviet.htm
Cả hai bài đều mắc những lỗi lớn giống nhau trong
mô tả lăng mộ, và có khả năng bài thứ hai là bản “xào” từ bài
thứ nhất. Tuy nhiên cũng nhờ thông tin từ hai bài này mà tôi đã
tìm đến được Viện bảo tàng.
Ý kiến,
Phê bình xin gửi về :
truongthaidu@khoahoc.net
Trở về Trang Chính
|