|
Vương
Hàn (687 – 726) tự Tử Vũ người Tấn Dương, Tinh Châu, Sơn Tây.
Năm 710 ông đậu tiến sĩ và ra làm quan. Bài Từ này Vương Hàn làm
năm 713 tại Lương Châu. Lương Châu ngày nay thuộc tỉnh Cam Túc,
Tây Bắc Trung Quốc. Thời Đường những đạo quân lớn thường tập
trung ở đây trước khi đi về phía Tây hoặc phía Bắc để phá vỡ các
lực lượng du mục hung dữ luôn đe dọa Trung Hoa.
Lương
Châu Từ thuộc dòng thơ Biên Tái buổi Thịnh Đường. Tâm trạng bi
nhưng không lụy của người lính chiến khắc họa thành công ước
vọng hòa bình sâu sa, thê thiết nhưng giàu nhân bản. Tạm dịch
nghĩa: Rượu nho đỏ ngon rót vào chén ngọc dạ quang. Ta đã muốn
uống, lại được tiếng đàn tỳ bà giục giã thôi thúc vui vẻ. Nếu có
lỡ say vạ vật nơi sa trường xin người đừng cười chê. Xưa nay
chinh chiến mấy ai có ngày trở về.
“Dạ
quang bôi” là thứ chén ngọc thạch trắng, phát sáng khi để trong
bóng tối. “Bồ đào mỹ tửu” là loại rượu nho sóng sánh màu đỏ sậm.
Mạch so sánh ngầm ở câu thơ đầu khúc chiết nhưng đầy đủ đã làm
nổi bật chữ “bi” chủ thể xuyên suốt bài ca. Màu trắng tang
thương, trắng cả trong bóng tối, làm nền, làm bồi cảnh cho màu
đỏ nơi huyết quản chinh nhân trong bức tranh thơ trác việt.
Câu thơ
thứ hai xưa nay có rất nhiều cách hiểu. Đa số cho rằng
người chiến sĩ rất muốn uống rượu
nhưng lại bị tiếng đàn tỳ bà giục giã lên đường. Nghĩa ấy sẽ rất
khập khiễng khi vận vào câu tiếp theo, nếu đã uống vội uống vàng
thì làm sao có thể nghiêng ngả say trên sa trường. Cũng xuất
hiện khả năng “tỳ bà mã thượng” là cách ví von chùm lục lạc nhạc
ngựa của đoàn kỵ mã đang chồn
chân. Sự nôn nao gấp ruổi nơi loài thuần thú va đập với dục năng
rất người ở đây là muốn uống, muốn say, muốn tạm quên sự đời.
Phần dịch nghĩa tôi không đưa khả năng này vào, xin tạm để đây
như một tồn nghi, một lối hiểu cần thêm nghiền ngẫm. Ổn nhất khi
giải thích “tỳ bà mã thượng” là nhóm nhạc công ngồi trên lưng
ngựa giúp vui cho buổi tiệc khao quân xuất trận.
Đàn tỳ
bà và rượu vang đỏ mang đặc trưng Tây Vực. Rượu truyền thống của
người Trung Hoa là rượu lúa mạch, rượu gạo. Chiếc chén ngọc quí
giá biết thưởng thức hơi men xa lạ, người lính viễn chinh thấu
triệt kỳ thanh trong cung đàn xứ khác trưng ra khuôn mặt khó
thấy của văn hóa Trung Hoa: sự khát khao làm chủ các giá trị hữu
và phi vật thể từ bên ngoài.
Câu ba,
từ “sa trường” có rất nhiều điều để nói. Suốt chiều dài lịch sử
của mình, người Trung Hoa hằng mấy ngàn năm không ngon giấc khi
nghe thoảng trong gió lạnh tiếng hí ngựa Hồ. Họa Bắc phương
khiến sa mạc, những vùng cát trắng mênh mông phía Tây và Bắc
Trung Nguyên đồng nghĩa với chiến trường. Người Hán hai lần mất
nước bởi những đoàn quân từ phương Bắc. Họ thường nhận định quá
trình Hán hóa kẻ thù ở Trung Hoa đồng nghĩa với phục quốc. Trong
mối tác động tương hỗ, không thể không quan tâm tới cách họ dung
nạp văn hóa ngoại lai và biến nó thành của mình.
Vương
Hàn nặng lòng đặt nét màu cuối cho bức tranh: “Cổ lai chinh
chiến kỷ nhân hồi”. Chén rượu hồng bất ngờ vượt lên trên cả niềm
đau chia ly, để ngời ngợi nỗi bi thống máu xương chiến địa.
Ngoại ngôn trong Lương Châu Từ rất gần với vô ngôn. Nói là vô
bởi ta chẳng thấy bờ biên ngôn ngữ, hơn nữa như Lão Tử viết:
“Tri giả bất bác, bác giả bất tri”, ôm đồm “bác giả - khối kiến
thức rộng lớn của bể từ” khác gì tự biến mình thành kẻ bất tri.
Nghệ
thuật của Vương Hàn nằm giữa đỉnh cao nghệ thuật Thịnh Đường Thi,
song tư tưởng ông gửi gắm còn cao hơn thế. Không biết tự bao giờ
nó đã vươn khỏi biên giới quốc gia khai sinh ra mình. Ánh sáng
nhân văn luôn lan tỏa mạnh mẽ và vĩnh viễn trường tồn. Ở Việt
Nam, tư tưởng này khá nhiều lần phảng phất trong các danh tác cổ
kim. Có thể kể ngay ra đây bài “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan
vừa gây sóng cồn về “bản quyền” trong làng văn nghệ:
Từ chiến khu ba
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ
Bé bỏng chiều quê
Hoặc
Hòn Vọng Phu của Lê Thương:
…
Qua Thiên San kìa ai
tiễn rượu vừa tàn,
Vui ca vang rồi đi tiến binh ngoài ngàn.
Người đi ngoài vạn lí quan san,
Người đứng chờ trong bóng cô đơn.
…
Vui ra đi rồi không ước hẹn ngày về,
Ai quên ghi vào gan đã bao nguyện thề.
Nhìn chân trời xanh biếc bao la,
Người mong chờ vẫn nhớ nơi xa
Bao nhiêu năm bồng con đứng đợi chồng về,
Bao nhiêu phen thời gian xóa phai lời thề,
Người tung hoành bên núi xa xăm,
Người mong chồng còn đứng muôn năm
Hiếm có
dân tộc nào, nền văn minh nào lâu bền và vững mạnh mà không yêu
chuộng hòa bình và hòa hợp. Người Trung Hoa hiểu điều đó không
phải nhờ Mạnh Tử từng dạy: “Ai không thích giết người thì thống
nhất được thiên hạ”. Càng đối mặt với đại họa thì càng hiểu ý
nghĩa của hòa bình. Khát khao hòa bình cộng với biết bao công
sức và xương máu lương dân từ thời Chiến Quốc đến triều Minh để
xây Trường Thành, vẫn chưa đủ để bảo vệ người Trung Hoa thoát
khỏi cảnh chiến chinh. Minh Thành Tổ dời đô từ Nam Kinh đến Yên
Kinh để trực tiếp chống chọi Bắc Họa cũng chẳng xong. Mặc cho
Trường Thành cao dài như bất tuyệt, mỗi lần chính trị Trung Hoa
đồi bại, quí tộc phản trắc nhũng nhiễu là nước mất, nhà tan.
Đoàn chinh nhân
trong thơ Vương Hàn là gì nếu không phải những viên gạch tạo nên
bức Trường Thành trừu tượng của dân tộc Trung Hoa. Mặc dù là gốc
rễ của mọi thành tựu, là tiền phương ngăn cản chiến tranh tạo
dựng hòa bình, nhân dân ở đâu cũng cứ đời đời là nạn nhân của
mưu toan thế sự mờ ám bất công.
Họa Bắc
phương với Việt Nam mấy ngàn năm nay, trớ trêu lại mang tên
Trung Hoa. Trong chuỗi liên đới Bắc – Nam của lịch sử Á Đông,
Chiêm Thành là kẻ thiệt thòi cuối cùng và đã biệt tích.
Nho Giáo lên ngôi ở Việt Nam trong thế
kỷ 15 sau quãng thời gian 20 năm đất nước bị Minh triều nô dịch.
Sự chiến thắng của tư tưởng Nho Giáo trong đời sống chính trị
Đại Việt ảnh hưởng không nhỏ đến con đường nam tiến của dân tộc
Việt Nam. Nên chăng đặt câu hỏi văn minh Chiêm Thành còn lại gì
trong lòng dân tộc Việt Nam, ngoài kỳ quan Tháp Chàm ngạo hận
trở thành di sản quí giá vinh danh nhân loại.
Ngày
xuân thanh bình, ngân nga bên xứ hoa ngàn Đà Lạt Vạn Xuân mấy
câu Hán Việt Lương Châu Từ, bỗng thấy trời xanh thấu lòng biển.
Dòng sông mây trắng miên man chảy về đông, hun hút nỗi bất tri
sa mạc nước. Với người thơ Vương Hàn, nhân văn là thái độ trước
nghĩa hướng của các ngôn từ chiến tranh, hòa bình và hòa hợp.
Nguyên tác Hán văn phồn thể:
凉州词
王 翰
葡萄美酒夜光杯,
欲饮琵琶马上催。
醉卧沙场君莫笑,
古来征战几人回。
Nguyên tác Hán văn giản thể:
凉州词
王 翰
葡萄美酒夜光杯,
欲饮琵琶马上催。
醉卧沙场君莫笑,
古来征战几人回。
Bản dịch của Trần
Trọng San
Rượu bồ - đào, chén dạ quang
Muốn say, đàn đã rền vang giục rồi
Sa
trường say ngủ ai cười
Từ
xưa chinh chiến mấy người về đâu
Bản dịch của Trương
Thái Du
Rượu ngon
hồng chén dạ quang
Lòng ham,
nhạc giục hoang mang tỳ bà
Đừng cười
ra
trận ta say
Chiến chinh máu chảy xưa nay ai về?
Thung lũng Đa Thiện,
Đà
Lạt xuân 2005
Ý kiến,
Phê bình xin gửi về :
truongthaidu@khoahoc.net
Trở về Trang Chính
|