|
Thuyết ngã tâm nói nôm na ra là lập luận tự xem
mình như cái rốn của vũ trụ. Thuyết ấy áp dụng ở phương Tây
người ta gọi là Âu tâm, ở Trung Quốc gọi là Hoa tâm và ở Hoa Kỳ
hiện tại thì chắc chắn sẽ là Mỹ tâm…
Thật ra thuyết ngã tâm xưa nay rất phổ biến trong
từng cá nhân, cộng đồng, quốc gia và khu vực trên toàn thế giới.
Chẳng hạn thuyết Âu tâm từng làm mưa làm gió suốt
mấy thế kỷ vừa qua, tác động của nó đến trật tự thế giới hiện
đại không phải nhỏ. Các ngài Âu tâm đặc phong mình là nền văn
hóa ưu việt số một, chủng tộc thượng đẳng để bước vào bao cuộc
thập tự chinh đầy máu me với tên gọi khá mỹ miều : khai hóa,
thanh lọc giống nòi, truyền bá văn minh .v.v… Nhiều hệ quả từ
thuyết Âu tâm rất chi là phi lý và ngớ ngẩn như
R.Heine-Geldern's (1937) từng đề ra giả định nền văn hóa Đông
Sơn với biểu trưng rực rỡ nhất là trống đồng có nguồn gốc từ
châu Âu (!?) [1]. Thực dân châu Âu trước kia chia loài người
thành hai loại là da trắng và da màu. Từ “da màu” để chỉ nhóm
người với họ là man di, mọi rợ. Người Việt học tiếng Tây, dùng
luôn nghĩa Tây nên ngôn ngữ Việt Nam mới có cụm từ “các sắc tộc
thiểu số” khá kỳ cục.
Chúng ta không lạ gì thuyết Hoa tâm, nhưng ít
người biết ở Chiêm Thành hay Chân Lạp trước kia thuyết này cũng
rất thịnh hành. Ngọn nguồn là từ triết lý tôn giáo Ấn Độ. Nhà
vua của họ nói chung bao giờ cũng coi kinh đô của mình là trung
tâm vũ trụ. Họ thường xây dựng hoặc chọn một ngọn núi có sẵn làm
núi Meru (trục quay của vũ trụ) và đền tháp, điện thờ sẽ mọc lên
xung quanh, điều đó chứng minh nhà vua là người cai quản vũ trụ.
Đền Angkor Vat và Angkor Thom là một ví dụ.
Nói chung thuyết ngã tâm mang đầy tính chủ quan,
võ đoán và lòng tự tin quá mức. Tuy vậy nó vẫn phải đứng trên
những nền tảng nhất định. Rất dễ xác tín các thể chế văn hóa
quan niệm mình là tâm điểm của vũ trụ đã từng làm chủ những
thành tựu khoa học, kỹ thuật, nhân văn và nghệ thuật siêu việt
của nhân loại. Việc phát minh ra giấy và công nghệ in ấn của
Trung Hoa chính là một cuộc cách mạng thông tin có tính toàn
cầu. Nhiều giá trị phương Tây mang bản chất khai sáng hiện vẫn
là trụ cột của văn minh loài người. Khiêm tốn như người Chăm,
người Khơ Me cũng đã tạo tác được nhiều công trình kiến trúc
tuyệt mỹ, độc nhất vô nhị trên thế giới trong thời hoàng kim rất
sớm của mình.
Từ xưa người Việt luôn tỏ ra rất ghét thuyết ngã
tâm. Âu cũng dễ hiểu vì ta ở cạnh ông láng giềng hơi bị khổng
lồ, cái gì của ông ấy mà chả nhất, nghe rêu rao riết cũng bực
mình “Biết rồi… khổ lắm… nói mãi…”. Thời tiền hiện đại nước Việt
lại bị một gã Âu tâm nô lệ cho gần tám mươi năm. Căm thì có căm
đấy, nhưng cũng không thể không phục. Có thể đó là căn nguyên
của thói vọng ngoại chăng? Nói cho cùng, nếu không ngã tâm được
thì đành vọng ngoại vậy, hai tiến trình này ở góc độ nào đó là
đối nghịch nhau, là phản đề của nhau.
Ngày xưa các cụ nhà ta không ưa Tàu nhưng lại hay
“xổ nho”, con cháu hôm nay thì giỏi hơn, kính yêu Tây và xì xồ
tiếng Tây không biết mệt. Ngày còn đi học, tác giả bài này từng
dự một “hội nghị dân chủ sinh viên” rất kêu dưới một mái trường
kỹ thuật. Ngài L.Đ.T, hiệu trưởng – giáo sư – tiến sĩ – nhà giáo
ưu tú đáng kính đề xuất học trò và thầy cô tích cực rèn luyện
Anh ngữ để từ từ phấn đấu sẽ học hành và giảng dạy bằng Anh ngữ.
Nghe ra rất phù hợp với xu thế thời đại, nào là hòa nhập, bắt
kịp thế giới, xuất khẩu lao động đem ngoại tệ về cho đất nước.
Không ngờ có một ý kiến phá bĩnh : “Nếu vậy mai này các kỹ sư
của chúng ta lại phải học thêm một khóa “tiếng Việt trong kỹ
thuật” để giao tiếp với giai cấp công nhân tiên phong thì khá
rắc rối. Có nhiều chi tiết máy tiếng Anh gọi là “con mèo”, tiếng
Việt gọi là “con chó” cứ loạn tùng phèo lên sẽ nan giải lắm”.
Chuyện này may mà bị bỏ lửng, thầy T đã về hưu, trường cũ của
tôi đã qua thêm một hai đời hiệu trưởng nhưng vẫn sử dụng những
giáo trình Việt ngữ được dịch từ tiếng Nga sang, độ những năm
1960 của thế kỷ trước! Không hẳn tôi không kính trọng thầy T, có
điều tôi nghĩ thay vì làm một đại trí thức ngành giáo dục Việt
Nam, thầy qua đài truyền hình VTV nhận ghế to thì khá xứng tầm.
Các xướng ngôn viên ở đó cần được học thêm ngoại ngữ hơn ai hết.
Cách phát âm, giọng đọc không chuẩn cũng chưa ghê gớm lắm, đằng
này họ còn tùy tiện sử dụng ngoại ngữ không đúng chỗ. Thật khổ
cho tôi và những người cùng hoàn cảnh chẳng hiểu “Kinh Đô vi
lích, trận bóng ‘đá bi’ kinh điển, tinh thần phe pờ lây…” hoặc
“Lai vờ xô, vi đi ô cờ líp, em xi…” là cái quái quỷ gì (chúng
tôi chiếm đến hơn 70% dân số Việt Nam, ở nhà quê, vùng sâu, vùng
xa). Hôm Trung Hoa phóng thành công tàu Thần Châu, không dưới 3
bản tin liên tiếp, VTV dịch tên phi hành gia ra tiếng Hán – Việt
là Dương Lí Vĩ. Mấy ông thầy đồ già trợn ngược mắt như sắp trăn
trối, họ bảo phiên âm Li theo kí tự La Mã có ít nhất 85 nghĩa,
chọn hú họa trong ngần ấy nghĩa mà đúng chữ Lợi thì còn khó hơn
dã tràng se cát tát biển đông!
Tư tưởng vọng ngoại khiến cái gì của Tây cũng
tuyệt, lời Tây nói vu vơ cũng thành chân lý. Có nhiều nhà báo
chuyên viết chuyện phố phường nhân sinh dựng nên hẳn một công
thức phổ thông. Chê thói hư tật xấu sẽ rút ra kết luận : “Hình
ảnh này đập vào mắt người nước ngoài thì sẽ ra sao?”. Khen người
tốt việc tốt hoặc thứ gì đẹp đẽ : “Phương Tây họ rất quý… rất
coi trọng… và rất giá trị…”. Có một dạo đi đâu cũng nghe câu hát
“Em ơi Hà Nội chóp…” vì người ta đem củ hành, củ tỏi và chóp gầy
chóp béo của Nga “ngố” đặt lên các nóc nhà mới xây ở Tràng An
cũ. Hiện tại thì văn minh hơn chút đỉnh, phong cách kiến trúc
Pháp thuộc sống dậy mãnh liệt trong rất nhiều bản vẽ của các
kiến trúc sư. Cũng vòm, cũng sảnh, cũng chỉ, cũng mái ngang mái
dọc, hiên đông hiên tây, cũng đắp cột, tô tượng như ai nhưng
thay vì áp dụng những chi tiết ấy lên một mặt bằng xây dựng
hoành tráng ; họ lại linh động thu nhỏ vào những khuôn viên vài
chục đến hơn trăm thước vuông là cùng, khiến công trình thành ra
tủn mủn, vụn vặt, màu sắc hổ lốn tra tấn bàn dân thiên hạ đến
nhức mắt.
Tây mũi cao hay Tây mũi tẹt đều có chung nhận xét
người Việt hiếu khách, thân thiện và rất dễ gần. Tuy nhiên trong
thái độ ấy có bao nhiêu phần trăm vọng ngoại thì cần phải xem
lại. Sự kệch cỡm đối chọi sau đây cũng cần tham khảo : Tây đi xe
hơi, ở khách sạn 5 sao luôn được ngưỡng trọng tôn xưng là ông,
bà. Tây ba lô mua bán trả giá đến từng xu, lóc cóc xe đò, xe đạp
khắp nơi, không ai bảo ai mọi người đều thống nhất gọi là thằng
là con.
Tóm lại, ai vọng ngoại thì cứ việc vọng, văn hóa
làng xã Việt Nam với tính bảo thủ cố hữu
bèn sáng tạo ra một anh Chí Phèo đầy bản sắc để
chửi tuốt tuồn tuột. Mà anh Chí cũng ngã tâm lắm chứ. Anh ấy
chẳng là cái rốn của làng Vũ Đại thì còn ai vào đây.
Sau khi hòa bình lập lại con cháu anh Chí bấm độn
nhẩm tính được ba bốn thằng đế quốc nanh nọc bị cho ra bã trên
mảnh đất hình chữ S, thế là văn ngôn ngã tâm của tiền nhân được
trau chuốt lại không phải để chửi mà để ngâm vịnh. Kể cũng không
cần nhắc lại điều đó ở đây, mỗi người Việt Nam chắc chắn đều có
những minh họa cụ thể của riêng mình.
Một kết hợp đằm thắm giữa thuyết ngã tâm và thói
vọng ngoại, theo tôi, có lẽ là ở cái tên gọi phù phiếm nhưng đầy
gợi cảm của Sài Gòn : “Hòn ngọc viễn đông”. Tôi đã thử làm một
tìm tòi bỏ túi bằng cách vào
www.google.com tra chữ “Hòn ngọc viễn đông”. Hơn một trăm
kết quả hiện ra dày đặc. Khen ngợi, tự hào… nói chung là tình
cảm tích cực phổ biến hơn rất nhiều nghi hoặc và báng bổ. Mỹ từ
kia hình như do một gã Tây nào đó buột miệng thốt lên khi đến
Sài Gòn thời nô lệ. Tôi ngờ rằng câu nói đầy đủ của gã là “Sài
Gòn là hòn ngọc viễn đông… thuộc Pháp”. Giả thuyết của tôi, tôi
tin, đến cả anh Chí nhà ta cũng phải khen là “chí lý”! Khu vực
viễn đông này, ngoài mấy mảnh tô giới cỏn con của Pháp ở Trung
Hoa thì chỉ còn Đông Dương thuộc Pháp mà thôi. Sài Gòn âu cũng
là tên chột làm vua xứ mù vậy. Chứ không, đem so Sài Gòn với
Bangkok, Manila, Jakarta, Kualalumpur thì còn “khướt”, kể chi
đến Đông Kinh, Bắc Kinh, Hương Cảng, Thượng Hải. Hóa ra người
Việt đã tiếp thu có sáng tạo, có động não một câu nói hứng sảng,
bằng cách tỉa bớt độ dài của nó và tung hê lên như pháo hoa đêm
trừ tịch.
Như thế thuyết ngã tâm chẳng là tài sản của riêng
ai. Từ anh Chí năm xưa đến nước Mỹ hùng cường hôm nay đều vận
dụng nó thuần thục đến không tưởng. Sau sự kiện 11 tháng 9, Bu
Sờ chẳng tuyên bố “Kẻ nào theo ta chống khủng bố là bạn ta, kẻ
nào không theo ta là kẻ thù của nước Mỹ” đó sao. Sau đó Bu Sờ
còn ngụy tạo hồ sơ vũ khí hủy diệt để qua mặt Liên hiệp quốc tấn
công Iraq. Nếu không cho mình là đúng hơn hết thảy, là tâm điểm
mà quả đất phải xoay quanh, là kẻ tạo dựng chân lý cho nhân loại
thì có lẽ tổng thống Mỹ đã không nói năng và hành động như vậy.
Bản thân mỗi sự tồn tại dường như khó phân định
phải trái, chỉ nên xem nó có phù hợp với thời cuộc hay không mà
thôi. Để từ bỏ một tồn tại lạc loài con người nói riêng và xã
hội nói chung rất cần dũng khí và lương tri. Xem ra, sự phủ nhận
công khai của phi hành gia Trung Hoa Dương Lợi Vĩ về quan niệm
Vạn lý trường thành có thể nhìn thấy bằng mắt thường từ vũ trụ
thật đáng noi theo. Ngẫm chuyện người lại thêm thẹn cho mình.
Bản thân tôi cũng chẳng thể tự biết mình đang bới móc những đề
tài nhạy cảm, để thu hút mọi người vào một cuộc tranh luận, một
cái “rốn” mang tên tôi ; hay tôi thực sự có cái tâm trong sáng,
khơi gợi cộng đồng những suy tư hữu dụng cho chính họ. Ngã tâm
tào lao hay vọng ngoại thiếu tự trọng là hai khuôn mặt cần được
nhận diện của một thực thể văn hóa và con người Việt Nam hiện
đại.
……………….
[1] Dẫn theo Xiaorong Han - The Present Echoes of
the Ancient Bronze Drum: Nationalism and Archeology in Modern
Vietnam and China - Explorations in Southeast Asian Studies - A
Journal of the Southeast Asian Studies Student Association Vol
2, No 2 Fall 1998.
Ý kiến,
Phê bình xin gửi về :
truongthaidu@khoahoc.net
Trở về Trang Chính
|