|
1.
Dẫn nhập
Như
được đề cập trong một bài viết trước [1], tính thuận nghịch
doping/dedoping (oxit hóa/khử) hay là sự "hợp ly" giữa polymer
…MMMMMMM…., và dopant A đưa đến chuyển hoán dẫn
điện/cách điện,
......MMMMMMMMMMM..... (dạng 1) + A
doping
dedoping
...MMM+A-MMMM+A-MMMM+A-MMM....
(dạng 2)
Dạng 1
là dạng cách điện và dạng 2 là dạng dẫn điện. Sự chuyển hoán nầy
không những liên quan đến việc thay đổi điện tính mà còn làm
thay đổi từ tính, quang tính, hình dạng và kích thước của vật
liệu polymer dẫn điện. Tính thuận nghịch doping/dedoping, có thể
tiến hành dễ dàng trong phòng thí nghiệm. Sự dễ dàng trong
việc biến đổi thuận nghịch của các đặc tính quan trọng nầy kích
thích những ứng dụng thực tế thú vị. Thí dụ, khả năng
doping/dedoping có thể áp dụng làm pin nạp điện (rechageable
battery). Sự hợp ly giữa polymer và dopant dẫn đến việc thiết kế
cơ bắp nhân tạo biết co giãn dựa trên sự thay đổi kích thước của
vật liệu [2].
Tóm
lại, khả năng áp dụng của polymer dẫn điện bao gồm 6 phạm vi
sau:
(1) Sử
dụng như kim loại.
(2) Sử
dụng như chất bán dẫn.
(3) Lợi
dụng tính chuyển hoán dẫn điện/cách điện.
(4) Lợi
dụng tính thuận nghịch doping/dedoping.
(5) Lợi
dụng sự hấp thụ năng lượng sóng ở vùng vi ba (microwave),
tia hồng ngoại, ánh sáng thấy được, tia tử ngoại.
(6) Lợi
dụng tính chất của nối liên hợp.
Những
áp dụng có thể thuộc một phạm vi hay nhiều hơn. Chẳng hạn như
hiện tượng "eletrochromism" (thay đổi màu khi thay đổi chiều
dòng điện) nằm trong phạm vi (4) và (5). Sự phát quang điện học
(electroluminesence) thuộc phạm vi (2) và (5). Những trang cụ
(device) điện như pin nạp điện, tụ điện dùng polymer dẫn điện đã
xuất hiện trên thương trường. Polymer dẫn điện còn có thể cảm
ứng được các loại sóng điện từ có độ dài sóng dài hơn tia hồng
ngoại như vi ba và sóng radio. Nó đã được dùng để chắn những bức
xạ điện từ của sóng radio hay hấp thụ vi ba. Khả năng hấp thụ vi
ba đưa đến một áp dụng quan trọng trong quân sự là "vật liệu
tàng hình".
Có hơn
50 đề nghị áp dụng cho polymer dẫn điện và từ đầu thập niên 90
của thế kỷ trước đã có hơn 30 thương phẩm dùng vật liệu nầy cho
các ứng dụng khác nhau [3]. Cụ thể hơn, những trang cụ, vật dụng
làm từ polymer dẫn điện là:
(1)
Chất dẫn điện.
(2)
Biến trở.
(3) Tụ
điện.
(4)
Linh kiện điện tử (diode, transistor).
(5)Linh kiện phát quang (đèn diode, light emitting diode: LED) còn
gọi là phát quang điện học (electroluminesence).
(6)
Pin.
(7) Bật
(switch) đổi màu (electrochromism: đổi màu điện học).
(8) Bộ
cảm ứng (sensor).
(9) Vật
liệu chắn sóng điện từ.
(10)
Vật liệu tàng hình.
(11)
Vật liệu chống tĩnh điện.
(12)
Vật liệu làm điện cực.
(13)
Vật phát nhiệt.
(14) Cơ
bắp nhân tạo.
Ngoài
những áp dụng bình thường, các nhà khoa học còn mang một tham
vọng thiết kế các loại polymer dẫn điện dùng trong công nghệ cao
như vi điện tử (microelectronics), quang điện tử
(optoelectronics), pin mặt trời, những áp dụng mà hiện nay
silicon và các chất bán dẫn khác đang là những vật liệu chủ lực;
hay biến chế thành vật liệu thông minh biết ứng xử do những tác
nhân hay kích thích bên ngoài (thí dụ: cơ bắp nhân tạo, bật đổi
màu) [1-2]. Như vậy, tiềm năng áp dụng của polymer dẫn điện rất
rộng lớn và bao gồm những địa hạt ảnh hưởng trực tiếp đến đời
sống con người. Trước khi đi vào những thí dụ của vài áp dụng cụ
thể, chúng ta hãy tìm hiểu thêm bản chất và phương pháp tổng hợp
của polymer dẫn điện.
2.
Phương pháp tổng hợp polymer dẫn điện
Trải
qua ba thập niên kể từ lúc phát hiện vào năm 1977, đã có hàng
ngàn báo cáo khoa học và bằng phát minh mô tả về những các
phương pháp tổng hợp của các loại polymer dẫn điện. Để giản lược
những rườm rà, phức tạp mang tính hàn lâm, phương cách tổng hợp
có thể phân ra làm hai loại: (1) phương pháp điện hóa và (2)
phương pháp hóa học. Phương pháp (1) cho polymer ở dạng phim và
(2) dạng bột. Những polymer dẫn điện thông dụng như polypyrrole
(PPy), polyaniline (PAn) và polythiophene (PT) có thể được tổng
hợp bằng cả hai phương pháp.
Với
phương pháp điện hóa, phim polymer được thành hình trong một
bình điện giải đơn giản (Hình 1), trong đó chất điện giải là
monomer (thí dụ: pyrrole, aniline hay thiophene) và dopant được
hòa tan trong nước hay một dung môi thích hợp. Tại cực dương
monomer bị oxít hóa kết hợp dopant và đồng thời trùng hợp thành
phim. Trong phương pháp hóa học, monomer, dopant và chất
oxit hóa (thí dụ: FeCl3) được hòa tan trong nước hoặc
dung môi. Phản ứng trùng hợp xảy ra cho polymer ở dạng bột. Dưới
sự chỉ đạo của người hướng dẫn, sinh viên năm thứ nhất hoặc học
sinh lớp 12 có thể thực hiện dễ dàng hai phương pháp nầy.

Hình 1:
Phương pháp điện hóa dùng bình điện giải để tổng hợp
polypyrrole.
Dopant
có một ảnh hưởng cực kỳ quan trọng đến mọi tính chất bao gồm vật
tính (physical properties), hóa tính, cơ tính, quang tính, điện
tính và tính bền nhiệt của polymer được hình thành. Vì vậy, sự
chọn lựa dopant phải thích nghi cho mỗi ứng dụng khác nhau.
Từ khi
polyacetylene (PA) dẫn điện được tổng hợp (năm 1977) và đến đầu
thập niên 80 của thế kỷ trước, các loại polymer dẫn điện phần
lớn không hoặc hòa tan rất ít trong dung môi. Điều nầy làm cản
trở không ít việc biến chế các vật liệu nầy vào những áp dụng
thực tiễn, vì trong quá trình chế tạo những dụng cụ hay linh
kiện các vật liệu phải được hòa tan trong dung môi kể cả nước.
Hơn nữa để tránh ô nhiễm môi trường, polymer phải hòa tan được
trong nước hoặc dung môi không mang độc tính. Trong vòng 10 năm
qua, những nỗ lực của các nhà hóa học đã gặt hái được những
thành công lớn, biến những polymer dẫn điện không hòa tan trở
nên hòa tan bằng cách thay đổi điều kiện tổng hợp hay gắn những
nhóm biên (side group) thích nước hay dung môi vào monomer tạo
ra những polymer dẫn xuất (derivative).
3.
Điện tính
Lý thuyết và thực nghiệm đã cho biết rằng polaron và bipolaron
là nguyên nhân của sự truyền điện trong polymer dẫn điện [4]. Ở
thang vi mô, vật liệu polymer được tạo thành từ những mảng do
nhiều polymer tập tích lại. Độ dẫn điện của vật liệu không những
phụ thuộc vào nồng độ của polaron/bipolaron (phần tử tải điện)
mà còn phụ thuộc vào sự di động của điện tử trong mạch polymer,
giữa những mạch polymer và giữa những mảng do nhiều polymer tạo
nên (Hình 2). Nói một cách định lượng hơn, độ dẫn điện σ được
diễn tả bằng một công thức như sau,
σ
= n
μ
e
(1)
n
là nồng độ của hạt tải điện,
μ
là độ di động, e là điện lượng của điện tử (1,602 x 10-19
C).

Hình 2:
Sự di động của điện tử trong mạch polymer (mũi tên A) ,
giữa những mạch polymer (mũi tên B) và giữa những mảng do nhiều
polymer tạo nên (mũi tên C).
Người
ta có thể tổng hợp các loại polymer dẫn điện có mạch phân tử
cùng hướng về một chiều để làm tăng sự di dộng của điện tử. Một
chiếc xe hơi chạy nhanh hơn trên đường thẳng hơn là trên đường
ngoằn ngèo vô định hướng. Để thực hiện điều nầy, các nhà hóa học
tổng hợp polymer có nhiều tinh thể (crystallite), hoặc trên một
bề mặt mang một trật tự sẵn có, trong từ trường hay kéo dài phim
polymer. Năm 1987, tiến sĩ Naarman (công ty BASF, Đức) kéo phim
polyacetylene (PA) dài gần 7 lần mẫu phim nguyên thủy, làm tăng
độ dẫn điện đến 1,7 x 105 S/cm (độ dẫn điện của đồng
là 106 S/cm). Độ dẫn điện nầy trở thành kỷ lục cao
nhất trong vật liệu polymer. Hình 3 so sánh độ dẫn điện của
polymer dẫn điện với các vật liệu khác.

Hình 3:
Độ dẫn điện (từ 10-16 đến 106 S/cm) của
các loại vật liệu cách điện, bán dẫn, kim loại và polymer dẫn
điện.
4.
Tính bền
Tính
bền môi trường (environmental stability) và tính bền nhiệt
(thermal stablity) là những yêu cầu khác trong các ứng dụng. Vật
liệu phải bền để không có sự suy thoái của độ dẫn điện. PA nhanh
chóng trở thành một vật liệu mang tính hàn lâm vì polymer
nầy phản ứng với oxygen trong không khí và thậm chí tự suy thoái
trong chân không. May thay, phần lớn những polymer dẫn điện khác
như PPy, PAn và PT bền hơn PA không tự suy thoái như PA, vì vậy
là ứng viên tốt cho nhiều ứng dụng.
Polymer có những đặc tính cố hữu như nhẹ cân, dễ dàng gia công
nhưng cũng có những điểm bất lợi mà ta thường thấy ở các loại
polymer (plastic) gia dụng là không chịu nhiệt cao (> 100
°C),
bị lão hóa hay phân hủy trong ánh sáng mặt trời. Polymer dẫn
điện cũng không ngoài những ngoại lệ nầy. Sự suy thoái hóa học,
lão hóa dẫn đến sự suy thoái cơ tính (trở nên giòn) và điện
tính (giảm độ dẫn điện). Đã có nhiều công trình tìm hiểu và duy
trình tính bền của polymer dẫn điện. Dopant cũng có ảnh hưởng
trực tiếp đến tính ổn định của polymer; có những loại dopant làm
chậm hoặc xúc tiến sự suy thoái. Tuy nhiên, vì là một đặc tính
cố hữu, sự suy giảm độ dẫn điện trong môi trường nóng và ẩm của
polymer dẫn điện là một việc không thể tránh khỏi về lâu về dài.
Để duy trình tính năng, các trang cụ dùng polymer dẫn điện người
ta phủ một lớp epoxy bảo vệ lên polymer và thường xuyên thay mới
vật liệu.
5.
Áp dụng
5.1 Tụ điện
Tụ điện
(condenser/capacitor) là một linh kiện điện học dùng để tích
diện và phóng điện khi cần thiết. Tụ điện tác dụng như một loại
pin nạp điện (rechargeable battery) nhưng có độ phóng điện rất
nhanh, mật độ điện năng cao (power density). Tụ điện còn có
thể phân biệt các tín hiệu có tần số cao và tần số thấp nên có
thể dùng để triệt tiêu các tín hiệu tạp (noise), làm ổn định
nguồn điện, vì vậy còn được gọi là lọc điện tử (electronic
filter). Cấu tạo của một tụ điện gồm hai điện cực và điện môi
(dielectric) ở giữa. Tùy vào các ứng dụng khác nhau, điện môi là
chất cách điện có thể là chân không, không khí, giấy, dầu,
plastic, mica, parafine, oxide (alumina, titanum oxide, tantalum
oxide).
Đặc
tính của tụ điện được diễn tả bằng điện dung C và có công
thức như sau,
C =
εA/d
(2)
trong
đó ε
là hằng số điện môi, A là diện tích của điện cực và d
là khoảng cách giữa hai điện cực. Vì vậy, để điện có thể "tụ" ở
mật độ cao (điện dung C cao),
ε phải to, A
rộng và d hẹp. Ta có thể làm một tụ điện đơn giản bằng
cách dùng hai miếng nhôm mỏng làm điện cực và một tấm giấy mỏng
kẹp ở giữa.
Ta thử
làm một con tính nếu ta nạp điện cho một tụ điện từ một cục pin
AA (1,5 V). Cục pin AA có thể tạo một giòng điện có cường độ 2,8
A trong 1 giờ. Ta có những công thức cơ bản như sau,
Q = It
(3)
Q (Coulomb): điện
lượng, I (Ampere): cường độ dòng điện, t (giây):
thời gian;
C = Q/V
(4)
V
(Volt): điện áp của nguồn điện.
Sau khi
được nạp điện từ cục pin AA trong thời gian 1 giờ (3600 giây),
tụ điện sẽ có điện dung là,
C = (2,8 x 3600)/1,5 = 6720
Farads
(5)
Một tụ
điện thông thường mang dung lượng 1 Farah có kích thước từ một
hộp sữa đến một chai rượu. Để có C = 6720 Farahs, tụ điện
phải vài ngàn lần to hơn! Vì vậy, người ta không dùng tụ điện
để cung cấp điện mà dùng pin tiện lợi hơn, trừ khi ta cần phóng
điện ở một điện áp thật cao. Tuy nhiên, sự ra đời của polymer
dẫn điện làm thay đổi cục diện. Polypyrrole có mật độ tụ điện là
100 Farahs/g (1 gram PPy có điện dung 100 Farahs) cho một khả
năng thu nhỏ tụ điện với dung lượng tối đa. Người ta gọi đây là
siêu tụ điện (supercapacitor).
Trong
những năm gần đây, công nghệ điện tử phát triển ở mức độ chóng
mặt với những máy móc, dụng cụ điện tử có những yêu cầu như sự
thu nhỏ, năng suất cao, ứng đáp nhanh, ít tiêu hao năng
lượng. Những đòi hỏi nầy đưa đến cách mạng hóa của các linh kiện
điện tử trong đó có tụ điện. Hình 4 cho thấy cấu tạo của một tụ
điện với điện cực là nhôm và PPy. Oxide nhôm (Al2O3)
là chất điện môi. Một loại thông dụng khác là tụ điện có điện
cực tantalum - một kim loại chuyển tiếp (transition metal) - và
PPy với tantalum oxide (Ta2O5) là chất
điện môi. Trước PPy, manganese dioxide (MnO2) được
dùng làm điện cực. Ngoài mật độ tụ điện cao như đã đề cập ở
trên, PPy có độ dẫn điện cao hơn MnO2 từ 10 đến 100
lần. Khi có chập điện trong tụ điện, PPy sẽ tự động dedoping,
nhả dopant để trở thành vật cách điện. Nhờ vậy, tụ điện sẽ tránh
được sự bốc khói và phát cháy, độ an toàn gia tăng.

Hình 4: Cấu trúc một tụ điện dùng polymer dẫn điện. Bề mặt
lồi lõm của chất điện môi làm tăng diện tích bề mặt để tăng dung
lượng [5].
Kể từ
năm 1991, công ty Nhật Bản như NEC, Matsushita Electric
Industrial (công ty của thương hiệu Panasonic), Nippon Denki sản
xuất một loại tụ điện có điện cực là PPy, phần lớn dùng cho máy
vi tính, laptop, notebook, máy ảnh kỹ thuật số, điện thoại di
động. Cho đến năm 2005, chỉ riêng Nhật Bản số lượng sản xuất đã
tăng 200 lần với doanh thu 1,5 tỷ USD, tạo việc làm cho hàng
chục nghìn người. Các doanh nhân dự đoán thu nhập sẽ tăng 20%
hàng năm vì những siêu tụ điện PPy không những là linh kiện quan
trọng cho các áp dụng hiện có mà còn dùng trong những áp dụng
mới nhờ vào sự thu nhỏ và điện dung cao.
5.2 Pin nạp điện
Pin nạp
điện (rechargeable battery) hay là pin thứ cấp (secondary
battery) là một loại pin có thể dùng đi dùng lại nhiều lần bằng
cách nạp điện nhờ vào sự phản ứng điện hóa thuận nghịch trong
quá trình nạp điện và phóng điện. Ngược lại, pin sơ cấp (primary
battery) là loại pin dùng một lần rồi bỏ. Bình điện xe hơi là
một loại pin nạp điện xưa nhất được phát minh từ thế kỷ thứ 19.
Ngày nay, các loại pin nạp điện cỡ đồng xu là một bộ phận không
thể thiếu được trong dụng cụ điện tử thu nhỏ, máy vi tính, điện
thoại di động, máy ảnh v.v...
Sự hợp
ly giữa polymer dẫn điện với ion bằng quá trình doping/dedoping
cho polymer dẫn điện một chức năng làm điện cực trong pin nạp
điện. Polymer dẫn điện được dùng trong pin lithium. Trong loại
pin nầy lithium là cực âm và polymer dẫn điện là cực dương. Ý
tưởng chế tạo pin lithium/polymer dẫn điện được phát khởi từ
nhóm nghiên cứu của giáo sư MacDiarmid vào năm 1981. Nhóm nầy
dùng polyacetylene (PA) (ký hiệu hóa học: [CH]n) làm
cực dương, lithium làm cực âm, lithium perchorate (LiClO4)
hòa tan trong dung môi propylene carbonate (PC) làm chất điện
giải. Cấu tạo của pin được viết vắn tắt là Li/LiClO4
- PC/PA. Pin nầy khi phóng điện cho một điện áp là 3,7 V cao hơn
các loại pin gia dụng thông thường (1,5 V). Khi phóng điện,
dedoping xảy ra ở PA và khi nạp điện doping xảy ra. Tại cực
dương phản ứng thuận nghịch điện hóa trong pin là,
nạp điện
[CH]n
+ nm(ClO4-) – nme-
[CHm+(ClO4-)m]n
(6)
phóng điện
tại cực
âm là,
nạp điện
nmLi+
+ nme-
nmLi (7)
phóng điện
Dù PA
là một polymer không bền nhưng vật liệu nầy cho thấy khả năng
dùng polymer dẫn điện làm điện cực pin lần đầu tiên. Theo đó,
các loại polymer dẫn điện khác như PAn, PPy và PT được nghiên
cứu và ảnh hưởng các loại dopant, chất điện giải cũng được tối
ưu hóa. Năm 1987, cộng tác nghiên cứu giữa hai công ty Nhật Bản,
Bridgestone và Seiko, đã sản xuất và bán ra thị trường loại pin
nạp điện nhỏ cỡ đồng xu dùng điện cực hợp kim lithium/nhôm và
PAn. Pin có đường kính 20 mm và độ dày khoảng 2 mm. Cấu tạo của
pin là Li-Al (cực âm)/LiBF4 - PC (chất điện giải)/
PAn (cực dương). Pin nầy có điện áp 3 V với khả năng nạp điện
1000 lần, được dùng cho máy tính cầm tay, đồng hồ, máy fax. Công
ty BASF (Đức) sản xuất loại pin hình trụ dùng điện cực Li và PPy
nhưng không gặt hái nhiều thành công trên thị trường.
Lithium
là một loại kim loại nhẹ nhiều hoạt tính cho điện áp phóng điện
cao nhưng cũng dễ bị ăn mòn (corrosion). Tuy nhiên, phản ứng
thuận nghịch doping/dedoping (công thức 6) ở cực dương
polymer giữ được sự cân bằng Li/Li+ (công thức 7) ở
cực âm giảm thiểu sự ăn mòn gây ra bởi kim loại Li bị oxit
hóa sinh ra Li+ trong quá trình ăn mòn. Tuy nhiên,
pin Li/polymer có những khuyết điểm làm giảm tính cạnh tranh
trên thương trường. Trong quá trình nạp điện (công thức 6),
polymer "nhả" dopant trở lại dạng cách điện. Hệ quả là do sự
giảm thiểu độ dẫn điện của điện cực polymer, sự phóng điện không
mang lại một hiệu năng lớn.
Một trở
ngại khác của polymer dẫn điện là nồng độ dopant có thể kết hợp
vào mạch polymer chỉ có thể đạt đến mực tối đa là 33 % cho PPy
và 50 % cho PAn. Hệ quả là lượng điện tử di chuyển bị giới hạn
(tích số nm trong công thức 6 nhỏ) làm giảm khả năng nạp/phóng
điện. Một hệ quả khác là để polymer có thể kết hợp dopant ở mức
tối đa, dung dịch điện giải trong pin phải chứa dopant ở một
nồng độ gần như bảo hòa. Trong ứng dụng pin, polymer dẫn điện
không thành công như ứng dụng tụ điện. Mặc dù có những thành quả
khả quan ở những năm đầu, Bridgestone - Seiko bắt buộc phải
ngừng sản xuất pin Li/polymer vì những lý do kỹ thuật nêu trên
và vì sự cạnh tranh của các loại điện cực khác có hiệu năng tốt
hơn.
5.3 Vật liệu chống ăn mòn
Ăn mòn
(corrosion) trong kim loại là một hiện tượng phổ biến trong tất
cả những cấu trúc kim loại. Nếu không có những biện pháp thích
ứng chống ăn mòn, những tai nạn thảm khốc có thể xảy ra do cầu
gãy, nhà sập, rớt máy bay, nổ lò hơi nước, chưa kể đến những mất
mát to lớn về vật tư gây ra bởi ăn mòn. Mặc dù đã có nhiều đầu
tư vào việc chống ăn mòn, nhưng phí tổn gây ra một cách trực
tiếp hay gián tiếp bởi ăn mòn vẫn còn ở mức 3 % đến 5 % tổng sản
lượng quốc gia tại các nước phát triển. Chỉ riêng tại Mỹ, số
tiền nầy hơn 100 tỷ USD vào năm 2000.
Ăn mòn
là một quá trình tự nhiên theo đúng qui luật của nhiệt động học.
Đó là quá trình biến kim loại thành oxide của chính nó. Người ta
còn gọi ăn mòn là quá trình luyện kim ngược, vì luyện kim là
biến oxide kim loại từ quặng mỏ thành kim loại. Vì là một quá
trình không thể tránh khỏi theo định luật tự nhiên, ta không thể
làm gì hơn là phải chấp nhận như là một thực tại và tập trung
vào việc chế ngự ăn mòn bằng cách làm chậm lại tốc độ hay thay
đổi cơ chế ăn mòn. Nguyên nhân chính của sự ăn mòn là oxygen và
hơi nước trong không khí. Phản ứng ăn mòn kim loại, M, có thể
được biểu hiện bằng công thức sau đây,
M
Mx+ + xe-
(8)
O2 +
xe-
MOx/2
(9)
Tổng
cộng hai công thức trên, ta có
M
+ O2
MOx/2
(10)
Như
vậy, trong một môi trường có oxygen M bị oxit hóa cho ra oxide
MOx/2.
Có nhiều cách để chế ngự ăn mòn. Cách đơn giản và thông thường
nhất là phủ lên kim loại một lớp sơn hay nhựa epoxy để ngăn chận
sự xâm nhập của nước và không khí. Đây là một phương pháp ngắn
hạn, vì lâu ngày nước và oxygen cũng sẽ từ từ khuếch tán xuyên
qua lớp phủ hoặc trực tiếp thấm vào qua các vết nứt hay lỗ cực
nhỏ. Cách thứ hai là tráng lên mặt kim loại một lớp kim loại dễ
bị ăn mòn hơn kim loại bị tráng. Sắt tráng kẽm là một thí dụ.
Cách thứ ba là một phương pháp hóa học dùng chromate (Cr2O7).
Đây là một phương pháp thông dụng, ít tốt kém và rất hữu hiệu.
Chromate được dùng cho sắt, nhôm, magnesium và một số kim loại
khác. Cơ chế chống ăn mòn của chromate là biến bề mặt của kim
loại thành một lớp oxide kim loại. Lớp oxide nầy và chromate tạo
thành một bức tường hóa học chắn sự tấn công của ăn mòn.
Chromates là một hóa chất tuyệt vời chống ăn mòn được sử dụng
rộng khắp trong nhiều năm qua. Tiếc rằng chromates là một độc tố
gây ung thư và hầu hết các nước trên thế giới đã dần dần loại bỏ
chromates và dùng hóa chất khác (thí dụ: phosphate). Tuy nhiên,
cho đến nay chưa có hóa chất thay thế nào hữu hiệu bằng hay hơn
chromate. Trong bối cảnh nầy, polymer dẫn điện dùng để chống ăn
mòn xuất hiện.
Trong
một cuộc hội thảo khoa học của Hội Hóa Học Mỹ (American Chemical
Society) vào năm 1994, Wrobleski và cộng sự thuộc viện nghiên
cứu Los Alamos National Laboratory và NASA (Mỹ ) lần đầu
tiên phát biểu một bài báo cáo chống ăn mòn dùng PAn, gây không
ít sự chú ý đến các nhà khoa học trong lĩnh vực điện hóa, chống
ăn mòn và polymer [6]. Họ phủ lên bề mặt của sắt một lớp PAn
mỏng. Sau đó họ dùng dao lam gạch một đường dài trên lớp phủ để
lộ sắt và đặt mẫu thí nghiệm nầy trong một môi trường ăn mòn có
hơi hydrochloric acid (HCl). Trong cùng điều kiện thí
nghiệm, mẫu không được phủ bởi PAn sinh ra nhiều sản phẩm ăn
mòn màu đỏ, chứng tỏ sự hiện diện của oxide sắt. Ngược lại, mẫu
có phủ PAn vẫn còn được bảo toàn.
Cơ chế
chống ăn mòn của polymer dẫn điện vẫn chưa có một sự đồng thuận
và thống nhất giữa các nhóm nghiên cứu. Có người chủ trương
polymer ở dạng doped (kết hợp với dopant) có chức năng chống ăn
mòn hữu hiệu hơn dạng không doped. Có người chủ trương ngược
lại. Dù ở trường phái nào, cơ chế chống ăn mòn cũng không ngoài
bốn trường hợp sau: (1) polymer dẫn điện là một màn chắn giống
như một lớp sơn; (2) dopant của polymer dẫn điện là nguồn cung
cấp ion chống ăn mòn; (3) polymer dẫn điện sẽ bị oxit hóa dễ hơn
kim loại nên có thể bảo toàn kim loại được phủ, tương tự như kẽm
của sắt tráng kẽm, và (4) polymer dẫn điện có chức năng tạo ra
một lớp phủ oxide thụ động ngăn lại sự ăn mòn giống như tác dụng
của chromate. Trong những khả năng nầy, thí nghiệm của Wrobleski
và cộng sự trực tiếp phủ nhận trường hợp (1). Trường hợp (2) cho
biết không nên dùng ion mang tính xúc tiến sự ăn mòn, và cũng
cho biết tác dụng chống ăn mòn sẽ yếu dần theo thời gian khi
nguồn ion cạn kiệt. Hai trường hợp còn lại (3) và (4) có thể là
hai cơ chế chính nếu polymer dẫn điện có một tác dụng chống ăn
mòn lâu dài.
Thí
nghiệm nầy đưa đến một loạt nghiên cứu tương tự kéo dài gần một
thập niên của nhiều nhóm nghiên cứu khác trên toàn thế giới dùng
những loại polymer dẫn điện khác nhau như PPy, PT và các polymer
dẫn xuất vào việc chống ăn mòn trong sắt, nhôm, đồng,
magnesium. Người viết và cộng sự lần đầu tiên công bố thành quả
chống ăn mòn trong magnesium bằng một lớp sơn epoxy trộn với
bột PPy [7]. Trong một môi trường ăn mòn như nước muối, bột PPy
trợ giúp việc thành hình một lớp magnesium oxide chặn lại sự tấn
công của ăn mòn. Được biết magnesium là một kim loại rất giàu
hoạt tính điện hóa, dễ dàng đưa đến sự ăn mòn. Đặc biệt,
magnesium trong nước muối tức khắc gây ra phản ứng sủi bọt.
Công ty
Ormecon (Đức) dưới sự lãnh đạo kỹ thuật của tiến sĩ Bernard
Wessling sản xuất PAn dưới dạng keo (colloid) chống ăn mòn có
tên thương hiệu là CORRPASSIVTM. Dựa theo kết quả
nghiên cứu của Ormecon, CORRPASSIVTM phủ lên sắt,
nhôm hay đồng sẽ tạo nên oxide (Fe2O3, Al2O3,
CuO) ngăn chận ăn mòn. Trong một quảng cáo về sản phẩm chống ăn
mòn, Ormecon tuyên bố sườn sắt của một kiến trúc thuộc nhà ga
Hamamatsu (Nhật Bản) đã được xử lý chống ăn mòn thành công
dùng CORRPASSIVTM. Thương phẩm CORRPASSIVTM
vẫn còn bán trên thương trường nhưng hiệu quả chống ăn mòn
của vật liệu nầy có giới hạn và còn kém xa chromate.
Những
hoạt động nghiên cứu về đặc tính chống ăn mòn của polymer dẫn
điện diễn ra rất sôi nổi trong vòng một thập niên kể từ công
trình của Wrobleski và cộng sự (1994). Viện Kỹ Thuật Nhiệt Đới
tại Hà Nội cũng có những đóng góp quan trọng. Từ những công
trình nghiên cứu hàn lâm nầy, người ta biết rằng các loại
polymer mang nối liên hợp, dẫn điện (trạng thái doped) hay không
dẫn điện (trạng thái dedoped), đều phản ứng với kim loại. Sự tác
động của polymer lên bề mặt kim loại phụ thuộc vào những đặc
tính liên quan đến điện tử, hóa học và điện hóa. Vì vậy, hiệu
quả của chế ngự ăn mòn không những tùy thuộc vào polymer
và dopant, phương pháp phủ lên mặt kim loại, mà còn tùy thuộc
vào môi trường xung quanh như nhiệt độ, pH và cách xử lý bề mặt
của kim loại. Không gì ngạc nhiên khi đã có hàng trăm báo cáo
xuất hiện trên các tạp chí chuyên ngành trong vòng một thập
niên, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một "cơ chế chung" cho hiện
tượng chống ăn mòn của polymer dẫn điện.
Trên
phương diện áp dụng, polymer dẫn điện gặp những trở ngại do đặc
tính cố hữu của polymer; chẳng hạn như sự biến thoái gây ra bởi
tia tử ngoại trong ánh sáng mặt trời, oxygen, hơi nước trong
không khí, và sự lão hóa do nhiệt. Những sự suy thoái hóa học
nầy đương nhiên triệt tiêu hiệu quả chống ăn mòn khi lớp phủ
polymer dẫn điện bị đặt trong môi trường khắc nghiệt, nhất là
môi trường nhiều ánh sáng mặt trời, nóng và ẩm. Tóm lại, cho đến
nay vẫn chưa có một vật liệu khả dĩ nào có thể hoàn toàn thay
thế chromate trong việc chống ăn mòn.
5.4 Bộ cảm ứng
Trong
khi tính bền là một trong những yêu cầu cho các áp dụng của
polymer dẫn điện, nhược điểm không bền trong môi trường vì
nhiệt, hơi nước, hóa chất, không khí lại là điều kiện cần
thiết cho áp dụng của bộ cảm ứng (sensor/detector). Tuy nhiên,
trong áp dụng nầy "nhược điểm" cần phải được điều chỉnh và tối
ưu hóa. Kết hợp giữa hóa tính và điện tính của polymer dẫn điện
có ảnh hưởng rất lớn trong việc phát triển và chế tạo loại trang
cụ cảm ứng (sensing device) mới.
Nguyên
lý của bộ cảm ứng dùng polymer dẫn điện dựa vào sự biến đổi độ
dẫn điện khi được tiếp xúc với môi trường. Bề mặt polymer được
thiết kế để có thể tác động với hơi nước, ion, ion kim loại, hóa
chất và protein. Một trong những áp dụng đơn giản nhất là phát
hiện sự hiện hữu của nước hay hơi nước. Tùy theo thể loại của
polymer, khi tiếp xúc với nước độ dẫn điện có thể tăng hoặc
giảm. PPy được tổng hợp bằng phương pháp hóa học cho ra dạng
bột. Loại bột PPy nầy khi tiếp xúc với hơi nước sẽ làm độ dẫn
điện giảm rất nhanh, có thể dùng để làm bộ cảm ứng phát hiện
nước trong cánh máy bay [8]. Cánh máy bay rỗng làm bằng nhôm. Để
hoàn thành cánh máy bay, mặt trên và mặt dưới của cánh được
dán vào một thể xốp nhôm hình tổ ong để gia cường. Tuy nhiên,
nếu nước thâm nhập vào chỗ dán, nhôm sẽ bị ăn mòn và chất keo bị
phá hủy. Cánh sẽ bị phân hủy và thảm họa sẽ xảy ra. Bột PPy có
thể đặt vào nơi dán ở những nơi hiểm yếu của cánh. Điện trở (độ
dẫn điện) của bột sẽ được ghi nhận thường xuyên để phát hiện
nước trước khi ăn mòn xảy ra. Đây là một bộ cảm ứng nước/hơi
nước đơn giản, ít tốn kém nhưng là một trang cụ cảnh báo quan
trọng.
Khi
polymer dẫn điện tiếp xúc với hóa chất ở thể lỏng hay khí, độ
dẫn điện thay đổi. Độ nhạy có thể ở mức phần triệu (ppm) của hơi
hóa chất trong môi trường. Cơ chế cảm ứng là do phản ứng giữa
hơi hóa chất với polymer và/hay dopant đưa đến sự thay đổi nồng
độ dopant hay sự thay đổi hình dạng (conformation) của mạch
polymer. Những sự thay đổi nầy có ảnh hưởng lớn đến độ dẫn điện.
Sự thay đổi hình dạng mạch polymer sẽ làm tăng hoặc giảm độ dẫn
điện vì độ di động điện tử bị biến đổi (công thức 1). Vì vậy, sự
chọn lựa mạch polymer và dopant phải thích hợp cho từng ứng dụng
khác nhau để có một độ nhạy tối đa. Người ta gọi bộ cảm ứng hóa
chất là "lỗ mũi" điện tử (elctronic nose) để phát hiện mùi hôi,
mùi hương hay vị ở nồng độ rất thấp. NO2 (khí độc do
ô nhiễm không khí), H2S (mùi nước cống), NH3
(mùi khai) là những loại khí có ảnh hưởng mạnh trên độ dẫn điện.
Mũi điện tử dùng polymer dẫn điện đã có mặt trên thị trường và
được sử dụng nhiều trong công nghệ thực phẩm, rượu, các thức
uống. Polymer dẫn điện cũng được phủ lên tơ sợi cài vào các bộ
quân phục phát hiện khí độc chống vũ khí hóa học.
Polymer
dẫn điện gây được nhiều chú ý trong lĩnh vực cảm ứng sinh học
(bio-sensing). Từ năm 2000 cho đến 2005 đã có gần 300 bài báo
cáo khoa học về bộ cảm ứng sinh học dùng polymer dẫn điện. Bộ
cảm ứng sinh học (biosensor) được dùng để phân tích và định
lượng các phân tử sinh học (chất phân tích) như đường glucose,
choresterol, urea, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ vật hại (pesticide)
có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người. Để phát hiện và
định lượng những phân tử nầy người ta sử dụng các loại enzyme
thích nghi và kết hợp với mạch polymer dẫn điện. Enzyme có thể
kết hợp với polymer dẫn điện ở dạng dopant, hay được phủ lên bề
mặt của polymer. Enzyme sẽ phản ứng với chất phân tích cho ra
những hợp chất làm thay đổi độ dẫn điện của lớp phim polymer.
Hiện nay, PPy, PAn và poly(3,4-ethylenedioxythiophene) (PEDOT)
là ba loại polymer thông dụng trong bộ cảm ứng sinh học.
6.
Lời kết
Áp dụng
tụ điện là một thành công lớn, nhưng pin nạp điện lại là một
thất bại. Áp dụng chống ăn mòn xuất phát từ số tổn thất khổng lồ
do ăn mòn gây ra hằng năm và từ áp lực công chúng là phải thay
thế độc chất chromate tránh ô nhiễm môi sinh. Nhiều nghiên cứu
hoạt tính điện hóa của polymer dẫn điện khẳng định đặc
tính chống ăn mòn của vật liệu nầy. Thương phẩm CORRPASSIVTM
xuất hiện nhưng khả năng chống ăn mòn có giới hạn, giới tiêu thụ
không mặn mà vì sản phẩm vẫn còn kém vật liệu cổ điển –
chromate. Áp dụng của bộ cảm ứng có phát triển khả quan trong
lĩnh vực sinh học. Một số doanh nghiệp đã sản xuất bộ cảm ứng
sinh học dùng polymer dẫn điện cho y khoa, công nghệ chế biến
thực phẩm và dược liệu để bảo vệ mức an toàn của thực phẩm, dược
liệu, chế ngự ô nhiễm môi trường và kiểm soát vũ khí sinh hóa
học.
Khả
năng áp dụng của polymer dẫn điện còn nhiều hơn những thí dụ vừa
được nêu trên đây. Trên quan điểm thực dụng, có thể nói rằng
chưa có một vật liệu nào cống hiến nhiều ứng dụng đa ngành bao
gồm hóa học, vật lý, điện hóa, điện học, sinh học như polymer
dẫn điện. Nhưng điều nầy không có nghĩa là tất cả những áp dụng
sẽ trở thành sản phẩm. Từ một khám phá trong phòng thí nghiệm
đến một thương phẩm bán ra thị trường là một quá trình dài và
gay go. Những vật liệu mới được sử dụng vào những áp dụng
cũ phải cạnh tranh với những vật liệu hiện có cần phải chứng tỏ
sự ưu việt về phẩm chất cũng như trong quá trình chế tạo. Theo
cái nhìn của doanh nhân, vật liệu mới phải nhiều lần tốt hơn và
nhiều lần rẻ hơn vật liệu cũ thì mới có thể tạo ra một thương
phẩm mang nhiều lợi nhuận cho nhà sản xuất và được chấp nhận
rộng rải trên thị trường. Dù sao, vật liệu nầy quả thật là
một biểu hiện sự thành công của khoa học áp dụng.
Khi cao
trào nghiên cứu polymer dẫn điện đang lên vào những năm đầu thập
niên 90 của thế kỷ trước, một nhà nghiên cứu đã lạc quan đưa ra
một danh sách áp dụng của polymer dẫn điện cho nhà ở:
1. Mái
nhà sẽ được phủ polymer dẫn điện để biến hoán năng lượng mặt
trời thành điện.
2.
Tường nhà sẽ được phủ polymer dẫn điện làm ấm nhà bằng bôm nhiệt
điện hóa (electrochemical heat pump).
3. Sợi
quang học (optical fibres) được phủ polymer dẫn điện dùng làm bộ
cảm ứng.
4. Sơn
hoặc vẹc-ni chống tĩnh điện để tránh bụi bám.
5. Cửa
sổ "thông minh".
6. Màn
hình tivi vừa to, nhẹ, mỏng có thể dán tường.
7. Ăng-ten nhận tín hiệu từ vệ tinh.
8. Tơ
sợi phát nhiệt (cho mền, khăn trải giường).
9. Loa
phóng thanh.
10.
Polymer dẫn điện dán vào tường cho các ứng dụng dẫn điện.
11. Đèn
diode phát quang cho các bộ cảm ứng trong nhà.
Khả
năng áp dụng polymer dẫn điện hoàn toàn theo kịch bản trên sẽ
rất hiếm vì những hạn chế khách quan, giá cả và đòi hỏi của nhu
cầu, nhưng chắn chắn sẽ có vài áp dụng thích hợp. Chẳng hạn, nhà
ở sẽ được thiết kế dùng cửa sổ "thông minh". Màn hình
tivi/video cực mỏng có thể dán lên tường vừa làm màn hình vừa
thay thế tranh vẽ. Một ngày nào đó trong tương lai, ta có thể
dùng đĩa cứng CD để hiển thị những tranh vẽ trên màn hình
polymer dẫn điện, gia chủ có thể vừa nhâm nhi ly cà phê vừa bấm
nút bộ điều khiển từ xa, từ từ thưởng thức lúc thì tranh thủy
mặc, lúc thì tranh sơn dầu Picasso, Van Gogh, hoặc cứ để yên bức
tranh để trang trí nội thất. Và đây không phải là chuyện khoa
học viễn tưởng.
5
September 2007
TVT
Tài liệu tham
khảo
-
http://www.khoahoc.net/baivo/truongvantan/050707-doimaudienhoc.htm
-
http://www.khoahoc.net/baivo/truongvantan/160807-cobapnhantao.htm
-
J. S. Miller, Adv. Mater. 5
(1993) 587.
-
http://khoahoc.net/baivo/truongvantan/060907-polymerdandien.htm
-
Yoshino Katsumi, "Dodensei Kobunshi no
Hanashi" (tiếng Nhật) (Câu chuyện về cao phân tử dẫn điện),
2001, Nikkan Kogyo Shimbun Pub., Tokyo.
-
D. A. Wrobleski, B. C. Benicewicz, K. G.
Thompson, C. J. Bryan, Polym. Prepr. (Am. Chem. Soc. Div.
Polym. Chem.) 35 (1994) 265.
-
V.-T. Truong, P. K. Lai, B. T. Moore, R.
F. Muscat, M. S. Russo, Synth. Met. 110 (2000)
7.
-
V.-T. Truong, C. L. Olsson-Jacques, R. F.
Muscat, M. S. Russo, (2000), Research Report “A Sensor for
Water Detection in Aircraft Adhesive Bondline”,
DSTO-RR-0172.
Ý kiến Phê bình xin gửi về
:
truongvantan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |