|
Không
biết vua Tự Đức có phải là tác giả của hai câu thơ đối nhau rất
chỉnh nầy hay không, nhưng nó toát lên một niềm man mác, bùi
ngùi trước sự ra đi vĩnh viễn của một người phi rất được nhà vua
sủng ái. Hai câu thơ dù ngắn nhưng tràn ngập sự lãng mạn, dạt
dào thương tiếc mà mãi đến hơn 100 năm sau người ta mới có
thể tìm lại được trong những vần thơ tình "Màu tím hoa sim" của
Hữu Loan. Hãy để sự lãng mạn vào một không gian an bình ấm áp có
những bàn tay thi văn ve vuốt, ta thử đặt "cổ kính" và "bóng
hình" trong cách nhìn lạnh lùng của khoa học. Lòng thương nhớ
biểu hiện bằng sự tưởng tượng của nhà vua trở thành một thử
thách khoa học đáng suy ngẫm cho những kẻ hậu sinh, là có thật
sự trong gương hiện ra hình bóng người yêu và có cần phải đập vỡ
gương để tìm lấy bóng? Khoa học hiện đại có câu trả lời rất dứt
khoát.
Cửa sổ
"thông minh" và kính "thông minh", những cụm từ nghe lạ tai
nhưng gợi lên không ít sự tò mò. Đây là loại cửa sổ lồng kính
thủy tinh có thể biến đổi màu sắc gây bởi kích thích điện,
quang, hay nhiệt. Một thí dụ là sự đổi màu của thủy tinh thường
thấy ở các loại kính râm đeo mắt.
Loại thủy tinh nầy được gọi là thủy tinh có sự đổi màu quang học
(photochromism). Khi chế tạo người ta cho vào thủy tinh những
tinh thể chloride bạc (silver chloride). Tinh thể nầy có khả
năng hấp thụ tia tử ngoại (UV, ultraviolet) trong ánh sáng mặt
trời làm đen kính khi ra nắng. Khi vào nhà, nguồn tử ngoại không
còn kính trong suốt trở lại. Sự đổi màu của kính râm là một áp
dụng dựa trên một nguyên lý đơn giản và nhờ vậy rất thông dụng.
Cửa sổ
"thông minh" có mục đích làm giảm năng lượng tiêu dùng trong
nhà. Kính cửa sổ có thể làm sẫm lại cho mùa hè để ngăn chận ánh
sáng gay gắt của mặt trời. Kính sẽ được làm trong lại vào mùa
đông để ánh sáng lọt vào tăng thêm sự ấm áp. Vì khả năng giảm
thiểu năng lượng tiêu dùng rất cao (20 - 30 % vào mùa hè), nhu
cầu cửa sổ "thông minh" cho các tòa nhà càng ngày càng gia tăng.
Tuy nhiên, loại kính đổi màu dùng cho kính râm không thích hợp
cho ứng dụng nầy. Sự đổi màu của kính cần phải được điều chỉnh
khi cần thiết
bởi người dùng bằng cách thay đổi điện áp
của một nguồn điện
được gắn vào kính. Khái niệm "đổi màu điện
học" (electrochromism) ra đời. Vật liệu chính cho ứng dụng nầy
là các loại oxide của các kim loại chuyển tiếp (transition
metals) trong bảng phân loại tuần hoàn mà điển hình là oxide của
tungsten (ký hiệu hóa học: W). Oxide kim loại là những hợp chất
vô cơ. Tungsten oxide, WO3, đã được khảo sát hơn 30
năm nay cho cửa sổ "thông minh". Một lớp mỏng WO3
được phủ lên kính thủy tinh bằng phương pháp bốc hơi chân không
(vacuum evaporation) hay mạ phun (sputtering). Ngoài ra, những
vật liệu hữu cơ như bypyridiums (vilogens) cũng cho đặc tính đổi
màu điện học. Công ty Pilkington (Anh), một hãng sản xuất thủy
tinh lớn nhất thế giới, đã tung ra thị trường cửa sổ "thông
minh" dùng cho các tòa nhà vào năm 1998. Tuy nhiên, các loại cửa
sổ nầy sử dụng oxide của kim loại chuyển tiếp (thí dụ: WO3) vẫn
chưa đạt tiêu chuẩn và giá thành còn quá cao.
Cửa sổ
"thông minh" là áp dụng dựa vào sự truyền xạ ánh sáng (light
transmission). Ngoài ra, kính "thông minh" cũng có một áp dụng
thú vị dựa trên căn bản phản xạ ánh sáng (light reflection),
được dùng làm kính chiếu hậu cho những chiếc xe hơi sang trọng.
Khi ánh sáng đèn pha của xe sau chiếu vào kính, kính sẽ tự động
sẫm màu giảm thiểu ánh sáng làm chói mắt. Nguyên tắc cũng tương
tự như các loại kính râm, nhưng các loại kính râm chỉ phản ứng
với tia tử ngoại trong ánh sáng mặt trời, kính chiếu hậu "thông
minh" cảm nhạy trong vùng ánh sáng thấy được.
Polymer
dẫn điện (polymer có nối liên hợp) là vật liệu thứ ba có đặc
tính đổi màu điện học. Áp dụng các loại polymer dẫn điện vào
lĩnh vực nầy trở nên rất phổ cập, nhờ quá trình chế tạo đơn
giản, thời gian ứng đáp đổi màu ngắn và tương phản màu sắc tốt.
Tương tự như trong ứng dụng phát quang, polymer dẫn điện có một
ưu thế là có thể thay đổi cấu trúc phân tử để hiển thị những màu
sắc khác nhau.
Nguyên tắc của sự điều chỉnh màu sắc
Cửa sổ
đổi màu điện học thật ra là một bình điện giải có tiết diện rất
to nhưng rất mỏng. Bình điện giải có hai cực và chất điện giải
(Hình 1). Để làm cửa sổ "thông minh" bình điện giải đổi màu
nhưng phải trong suốt để ánh sáng truyền qua. Ngược lại, kính
chiếu hậu "thông minh" chỉ cần một điện cực trong suốt để tiếp
nhận ánh sáng, điện cực kia sẽ phản xạ ánh sáng. Tương tự như
trong cấu trúc của đèn phát quang (OLED, PLED), oxide dẫn điện
có tính bền cao như idium-tin-oxide (ITO) thường được dùng để
phủ với một lớp thật mỏng (~ 100 nm) lên nền thủy tinh để làm
điện cực trong suốt [1]. Sau đó, một lớp mỏng của vật liệu đổi
màu được phủ lên lớp ITO (Hình 1). Chất điện giải phải chứa hợp
chất hóa học để có thể đổi sang màu thích hợp. Nếu dùng WO3 làm
vật liệu đổi màu và dung dịch lithium perchlorate (LiClO4)
làm chất điện giải, ở dạng nguyên thể WO3 sẽ trong
suốt. Khi cho một dòng điện chạy vào bình điện giải (WO3
nhận điện tử e-), WO3 sẽ kết hợp
với Li theo công thức
WO3 (trong suốt không màu) + xLi + xe-
«
LixWO3 (màu xanh)
Phản
ứng điện hóa nầy biến lớp phủ WO3 trở thành LixWO3
có màu xanh nhạt. Khi dòng điện đổi chiều, phản ứng đi ngược
lại, từ phải sang trái, LixWO3 trở thành
WO3 trong suốt không nhuốm màu. Hình 1 cho thấy cấu
trúc của một cửa sổ "thông minh".

Sự chuyển hoán cấu trúc phân tử trong polymer dẫn
điện
Polymer
dẫn điện đã được các nhà khoa học lưu ý tới trong các ứng dụng
liên quan đến màu sắc. Ngoài ứng dụng cho sự phát quang đã được
đề cập trong một bài viết trước [1], sự đổi màu điện học là một
ứng dụng thứ hai. Polymer còn gọi là plastic, nhựa hay chất dẻo.
Polymer do các đơn vị phân tử (monomer, momo = đơn, poly = đa)
tạo thành như một "chuỗi xích". Nếu monomer là ethylene, ta có
polyethylene; là vinyl chloride, ta có poly(vinyl chloride)
v.v...Nếu gọi M là monomer, polymer tương ứng sẽ là,
...MMMMMMMMMMMMMMM...., trong đó có hàng nghìn hoặc hàng chục
nghìn M nối thành chuỗi xích.
Polymer
gia dụng thông thường như cao su, PVC, nylon, polyethylene là
vật cách điện. Polymer dẫn điện (electrically conducting
polymer) là một polymer có mạch carbon nối liên hợp, một loại
liên kết giữa nối đơn và nối đôi (- C = C - C = C - ), và kết
hợp với ion (ion âm, anion hoặc ion dương, cation) [2]. Sự kết
hợp với ion được gọi là "doping" và ion kết hợp là "dopant". Nối
liên hợp và dopant là hai yếu tố cần thiết để có một polymer dẫn
điện. Nếu dopant là một anion, A-, sự kết hợp của A-
với polymer được diễn tả một cách dễ hiểu như sau,
......MMMMMMMMMMM..... (dạng 1) + A- «
...MMM+A-MMMM+A-MMMM+A-MMM....
(dạng 2)
Dạng 1
là vật liệu trung tính cách điện, dạng 2 là vật liệu dẫn điện.
Độ dẫn diện càng tăng khi sự hiện hữu của A- trong
mạch polymer càng nhiều. Nói một cách định lượng chính xác, sự
khác nhau của độ dẫn điện giữa dạng 1 và 2 là 1 tỷ đến 10
tỷ lần. Dạng 2 ở dạng phim, có thể được tổng hợp dễ dàng qua
phương pháp điện hóa (electrochemical method) bằng cách cho hai
điện cực vào một dung dịch chứa M và A-. Khi đặt điện
áp vào hai điện cực, ta sẽ có polymer dẫn điện (dạng 2) phủ lên
điện cực dưới dạng một lớp phim mỏng. Dạng 2 có thể chuyển sang
dạng 1 bằng cách đổi chiều dòng điện (điện áp dương chuyển thành
âm). Lúc đó, dạng 2 "nhả" (de-doping) dopant A- để
trở thành dạng 1 cách điện. Điện cực có lớp phủ polymer được
dùng cho sự đổi màu điện học. Ngoài sự biến đổi độ dẫn điện của
phim do sự chuyển hoán thuận nghịch giữa dạng 1 và 2
(doping/de-doping) ta còn thấy sự biến đổi màu sắc. Điều tiện
lợi cho những trang cụ đổi màu là có điện áp thao tác rất thấp;
thông thường sự chuyển hoán xảy ra qua lại từ 2 V đến -2 V.
Đổi màu do polymer dẫn điện
Nếu so
sánh Bảng 1 và Bảng 2, khe dải năng lượng của những polymer dẫn
diện (dạng 1) gần gũi một cách không ngờ với năng lượng sóng của
ánh sáng thấy được, tia cận hồng ngoại (near infrared) và tia tử
ngoại (UV). Vì vậy, sự phát quang và
đổi màu điện học trong polymer dẫn điện có một điểm chung là khe
dải năng lượng (energy band gap) chi phối cơ chế của hai hiện
tượng nầy.
Bảng 1:
Trị số khe dải của các polymer mang nối liên hợp tiêu biểu
(trước khi doping).
Polymer
|
Khe dải (eV) |
|
Polyacetylene (PA) |
1,4 |
|
Poly(3,4-ethylenedioxythiophene) (PEDOT) |
1,5 |
|
Polythiophene (PT) |
2,0 |
|
Poly(phenylene
vinylene) (PPV) |
2,5 |
|
Polyaniline (PAn) |
3,2 |
|
Poly(para-phenylene)
(PPP) |
3,5 |
|
Polypyrrole (PPy) |
3,6 |
Bảng 2:
Độ dài sóng và năng lượng sóng.
|
Ánh sáng |
Độ dài sóng (nm) |
Năng lượng sóng (eV) |
|
Tia tử ngoại |
ngắn hơn 380 |
lớn hơn 3,3 |
|
Tím |
380 |
3,3 |
|
Xanh |
450 |
2,8 |
|
Xanh lá cây |
530 |
2,3 |
|
Vàng |
580 |
2,1 |
|
Đỏ |
720 |
1,7 |
|
Tia hồng ngoại |
dài hơn 720 |
nhỏ hơn 1,7 |
Polyaniline (PAn), polypyrrole (PPy) và polythiophene (PT) là ba
loại polymer dẫn điện được khảo sát nhiều nhất. Sự đổi màu của
các polymer nầy do sự biến đổi điện áp đã đặt nền tảng cho phát
triển của những polymer với cấu trúc phức tạp hơn (Bảng 3).
Bảng 3:
Sự đổi màu của các polymer dẫn điện gây ra bởi điện áp âm/dương.
|
Vật liệu |
Điện áp âm |
Điện áp dương |
|
Polyaniline (PAn) |
không màu |
xanh lá cây ---> xanh đậm |
|
Polypyrrole (PPy) |
vàng nhạt |
xanh đậm ---> đen |
|
Polythiophene (PT) |
đỏ nhạt |
xanh đậm |
Sự chuyển hoán thuận nghịch giữa dạng 1 và dạng 2 được thực hiện
dễ dàng qua cái bật điện để thay đổi chiều dòng điện, nhưng nó
lại là cả một hiện tượng vật lý cần phải được giải thích tỉ
mỉ. Khe dải năng lượng, một đặc tính của chất rắn, là một khoảng
trống giữa hai dải năng lượng, dải hóa trị (valence band) và dải
dẫn điện (conduction band). Khe dải liên quan đến sự dẫn
điện, cách điện và phát quang [1]. Khi khe dải rộng (> 2 eV) ta
có chất cách điện (thí dụ: gốm sứ, kim cương, plastic thông
thường), khe dải hẹp (0 - 1,5 eV) ta có chất bán dẫn hay dẫn
điện (thí dụ: silicon, kim loại). Polymer ở dạng 1 cơ bản là
chất cách điện vì khe dải khá rộng (~ 2 eV) (Bảng 1). Qua quá
trình doping, dạng 1 chuyển sang dạng 2, các dải năng lượng phụ
được thành hình trong khe dải, tồn tại như bậc thang giúp điện
tử di chuyến từ dải hóa trị đến dải dẫn điện ở bậc cao hơn mà
không phải tốn nhiều công sức. Sự dẫn điện xảy ra. Hình 2 cho
thấy sự thành hình dần dần của các dải năng lượng phụ khi nồng
độ dopant A- được kết hợp vào mạch polymer càng cao.

Khi cho
mẫu polymer vào quang phổ kế, khe dải sẽ được "nhận diện". Quang
phổ cho thấy một đỉnh hấp thụ tương ứng với trị số năng lượng
của khe dải. Sự xuất hiện của các dải năng lượng phụ sẽ tạo ra
những khe dải phụ. Quang phổ sẽ cho thấy những đỉnh hấp thụ khác
tương ứng với các khe dải phụ càng lúc càng hiện rõ, khi càng
nhiều A- được kết hợp vào mạch polymer (Hình 3). Khi
một vật hấp thụ một màu trong ánh sáng thấy được thì vật đó
sẽ hiển thị các màu còn lại. Một vật có màu xanh vì vật đó hấp
thụ màu đỏ/vàng và ngược lại. Khe dải phụ có trị số năng lượng
thấp, nên sự hấp thụ ánh sáng xê dịch về vùng ánh sáng đỏ hay
hồng ngoại, vật liệu sẽ hiển thị màu xanh.

Một thí
dụ điển hình của sự đổi màu điện học là polythiophene (PT).
Trong một dung dịch chứa dopant thích hợp, PT đổi màu từ xanh
sang đỏ và ngược lại. Khi ở dạng trung tính (dạng 1, 0 %
dopant), khe dải của PT có trị số khoảng 2,7 eV tương đương với
năng lượng ánh sáng xanh (Hình 3). PT hấp thụ ánh sáng xanh, như
vậy PT hiển thị màu đỏ. Khi có điện áp dương, PT chuyển sang
dạng 2 (6 - 41 % dopant) hấp thụ vùng ánh sáng đỏ/vàng (1,7 eV)
và vùng hồng ngoại (0,8 -1 eV), hiển thị màu xanh.
Nhóm
nghiên cứu của giáo sư John Reynolds (University of Florida,
Mỹ) đặt trọng tâm vào poly(3,4-ethylenedioxythiophene) (PEDOT).
PEDOT đặc biệt có khe dải năng lượng nhỏ, 1,5 eV (Bảng 1), cho
nên khi ở dạng trung tính (dạng 1) PEDOT hấp thụ vùng màu đỏ,
hiển thị màu xanh đậm. Dưới điện áp dương, dạng 1 chuyển thành
dạng 2, PEDOT hấp thụ ánh sáng đỏ và tia cận hồng ngoại, trở nên
màu xanh nhạt (Hình 4). Đối với sự thay đổi điện áp, PEDOT có độ
nhạy đổi màu rất cao. Ngoài ra, polymer nầy có tuổi thọ dài
(100.000 lần chuyển hoán), tính bền nhiệt (thermal
stability) cao, màu xanh dễ chịu, nên là một ứng viên sáng giá
cho những ứng dụng thực tiễn. Nhóm Reynolds còn tổng hợp hàng
loạt các chất dẫn xuất khác của PT và PPy được thiết kế có những
khe dải năng lượng khác nhau, hiển thị những màu sắc khác nhau
(Hình 5). Sự chọn lựa dopant và dung môi cho chất điện giải cũng
rất quan trọng cho độ nhạy của sự đổi màu.

Vật liệu "tàng hình" hút nhiệt
Sự
thành hình của các khe dải phụ có trị số nhỏ hơn 1,7 eV trong
quá trình doping cho polymer khả năng hấp thụ vùng ánh sáng đỏ
và tia hồng ngoại (Bảng 2). Sự đổi màu bây giờ có một nghĩa
rộng, vì "màu" bây giờ là hồng ngoại. Sự hiển thị màu trong
những vùng sóng điện từ nầy không còn quan trọng nữa vì thật ra
không có màu để thay đổi; việc nghiên cứu được đặt nặng vào sự
hấp thụ sóng. Tia hồng ngoại chẳng qua là nhiệt có độ dài sóng
trải dài từ 0,8 μm
(cận hồng ngoại, near infrared) đến 18
μm (viễn hồng
ngoại, far infrared). Vật càng nóng thì tia hồng ngoại phát
từ vật đó càng ngắn (định luật Planck về thể đen). Con người
phát ra tia hồng ngoại có độ dài sóng ở khoảng 8 - 12
μm, một trong những
vùng hồng ngoại được đặc biệt chú ý.
Nhóm
nghiên cứu của tiến sĩ Prasanna Chandrasekhar (công ty
Ashwin-Ushas, Mỹ) tập trung sự nghiên cứu vào các vật liệu
polymer dẫn điện có khả năng hấp thụ tia hồng ngoại. Đây là vật
liệu "tàng hình" hút
nhiệt. Những vật liệu nầy có tiềm năng lớn
trong các áp dụng quân sự nhằm "che mắt" các bộ cảm nhận
(sensor/detector) hồng ngoại hoặc máy ảnh, ống nhòm có trang
bị bộ cảm nhận hồng ngoại. Các loại dụng cụ nầy dễ dàng phát
hiện những kẻ thích lẩn lút trong bụi rậm về đêm thực
hiện hành vi "mờ ám", hay xác định vị trí máy bay, tàu thủy nhờ
nguồn nhiệt phát ra từ buồng máy hay do sự cọ xát với không khí
ở đầu, rìa cánh và đuôi máy bay. Vật liệu hấp thụ hồng ngoại sẽ
"hóa giải" những con mắt thần nhìn xuyên màn đêm, nhất là các
loại tên lửa dùng bộ cảm nhận hồng ngoại tìm nhiệt (IR-homing
missile) để lùng và tiêu diệt mục tiêu. Trong lĩnh vực áp dụng
dân sự, lớp phủ nầy sẽ chắn nhiệt trong ánh sáng mặt trời nhưng
cho ánh sáng đi vào nhà ở những ngày hè nóng bức. Một khả năng
áp dụng khác là dùng để điều hòa nhiệt độ trong các vệ tinh nhân
tạo. Trong không gian, sự truyền nhiệt khó xảy ra vì không có
không khí, vì vậy những bộ phận của vệ tinh hướng về mặt trời sẽ
rất nóng và nơi khuất nắng sẽ rất lạnh. Vật liệu polymer hấp thụ
nhiệt có thể thay thế những công cụ hoặc cấu trúc cồng kềnh điều
chỉnh nhiệt độ trên vệ tinh.
Chandrasekhar và cộng sự đặc biệt chú ý đến tia hồng ngoại có độ
dài sóng 3 – 5 μm
và 8 - 12 μm
vì đây là những vùng thao tác của bộ cảm nhận liên quan đến
nhiệt thoát ra từ con người và máy móc. Gần đây, nhóm nghiên cứu
nầy còn tiến thêm một bước là chế tạo ra một vật liệu hấp thụ 95
% tia hồng ngoại có độ dài sóng trải dài từ 1 đến 20
μm [6].
Thông thường, người ta chỉ có thể chế tạo
những vật liệu hấp thụ tia hồng ngoại ở những độ dài sóng (hay
tần số) đơn lẻ. Vì vậy, có thể gọi đây là một vật liệu "tàng
hình" tầm cỡ mang tính đột phá có khả năng hấp thụ nhiệt trên
một băng tần dải rộng (broadband). Vật liệu nầy là PAn được
doped với poly(anethosulfate) (dạng 2) [6]. Điều nầy cho thấy sự
chọn lựa một dopant thích hợp cũng rất quan trọng trong việc
điều chỉnh khe dải thích hợp cho vùng sóng cần được hấp thụ.
Chandrasekhar còn có tham vọng dùng nguyên tắc
"đổi màu" áp dụng vào vùng vi ba (microwave). Theo ý kiến của
người viết bài nầy thì sự hấp thụ vi ba không bị sự chi phối của
khe dải năng lượng - một biến số vi mô, chỉ thích hợp cho độ dài
sóng nanomét (nm) và micromét (μm) của vùng ánh sáng thấy được
hay tia hồng ngoại. Vi ba là sóng điện từ có độ dài sóng ở
mm và cm, cơ bản là sóng radar, kế cận vùng hồng ngoại. Sự hấp
thụ vi ba tùy thuộc những đặc tính vĩ mô của vật liệu như điện
tính biểu hiện bằng hằng số điện môi (dielectric constant) và từ
tính biểu hiện bằng độ từ thẩm (permeability). Sự hấp thụ radar
bởi polymer dẫn điện và nguyên tắc "tàng hình" đã được đề cập
trong bài viết trước [7].
Tơ sợi "thông minh"
Lợi dụng sự đổi màu điện học, các nhà khoa học
đang đối đầu với một thử thách mới là chế tạo ra một loại tơ sợi
"thông minh", làm ra vải vóc có thể biến đổi màu sắc hòa nhập
vào môi trường xung quanh để ngụy trang. Nếu ta hành sự trong
bóng tối áo trở thành đen, khi ta chui vào bụi áo sẽ rằn ri và
khi lang thang trên sa mạc áo sẽ nhạt màu. Đây là hiệu ứng con
cắc kè hoa (chameleon effect). Nhà thơ Nguyên Sa đã từng trồng
cây si vĩ đại trước một đối tượng thích thay màu áo, làm nhà thơ
phải thốt lên những vần thơ tình lãng mạn mang đủ mọi sắc màu, "Áo
nàng vàng anh về yêu hoa cúc. Áo nàng xanh anh mến lá sân
trường"... Nếu cô nàng đỏng đảnh mặc áo làm bằng vải "thông
minh", bỏ vài cục pin vào túi cứ vài phút táy máy bật điện thay
màu áo xanh vàng đỏ tím, nhà thơ sẽ ngẩn ngơ trước sự tiến bộ
khoa học, hay lại vơ vẩn đem lòng mến thương con cắc kè
hoa....?!
* * *
Khe dải
năng lượng là một khái niệm cơ bản đưa đến hai ứng dụng chính là
sự phát quang và sự đổi màu. Hai ứng dụng cho thấy một điểm
chung là muốn thay đổi màu sắc thì phải điều chỉnh trị số
của khe dải năng lượng. Việc nầy thực hiện bằng cách tổng hợp
các loại polymer dẫn điện mang nối liên hợp với một khe dải có
trị số định trước. Ngoài ra, sự đổi màu còn được quyết định bởi
việc xuất hiện và biến mất của các khe dải phụ do sự chuyển hoán
giữa doping/de-doping. Từ cửa sổ và kính "thông minh" đến vật
liệu "tàng hình" hút nhiệt và các loại tơ sợi biết "đổi màu" để
ngụy trang hay để làm dáng, hiện tượng đổi màu điện học cho thấy
nhiều áp dụng thú vị. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại thị trường
cho áp dụng "đổi màu" còn rất khiêm tốn và cục bộ so với thị
trường đèn phát quang, một lĩnh vực công nghệ đang phát triển
rất nhanh mà các nhà kinh tế dự đoán doanh thu có thể đạt đến
hàng trăm tỷ USD vài trong thập niên tới.
Hãy trở
lại với cổ kính của vua Tự Đức. Với nguyên tắc đổi màu hiện có
và kỹ thuật tạo hoa văn, hình ảnh người xưa của quân vương sẽ dễ
dàng được phủ lên kính "thông minh", lúc ẩn lúc hiện, cùng nhoẻn
miệng cười với vua mà không cần phải vùi dập tấm gương! Nhà vua
chắc chắn sẽ rất đẹp lòng. Nhưng nếu có một đòi hỏi cao hơn là
nàng phải bước ra như Giáng Kiều trong tranh, thì có lẽ ta phải
cần đến một công nghệ "phản tàng hình" và tài năng của một nhà
ảo thuật...
TVT
Mùa
Đông Nam bán cầu
23 June
2007
Tài Liệu Tham Khảo
-
http://khoahoc.net/baivo/truongvantan/310507-anhsang.htm
-
"Polymer cách điện và polymer dẫn điện
http://vietsciences.free.fr/design/cht_tg-truongvantan.htm
-
Yoshino Katsumi, "Dodensei Kobunshi no
Hanashi" (tiếng Nhật) (Câu chuyện về cao phân tử dẫn điện),
2001, Nikkan Kogyo Shimbun Pub., Tokyo.
-
H. W. Heuer, R. Wehrmann and S.
Kirchmeyer, Adv. Func. Mater. 12 (2002) 89.
-
B. C. Thompson, P. Schottland, K. Zong
and J. R. Reynolds, Chem. Mater. 12 (2000)
557.
-
P. Chandrasakhar, B. J. Zay, G. C. Birur,
S. Rawal, E. A. Pierson, L. Kauder and T. Swanson, Adv.
Func. Mater. 12 (2002) 95.
-
"Kỹ thuật tàng hình"
http://vietsciences.free.fr/design/cht_tg-truongvantan.htm
Ý kiến Phê bình xin gửi về
:
truongvantan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |