|
1. Nguồn năng lượng vô tận
Cảm giác cháy da trong những ngày hè nóng
bỏng hay cái ấm áp của những ngày mùa đông nắng tốt như là một
lời nhắc nhở đến sự hiện hữu của mặt trời mà lắm lúc ta xem như
một tồn tại đương nhiên. Ánh sáng mặt trời là một nguồn năng
lượng dồi dào, nhưng khi tính ra con số rất ít người biết đến là
mặt trời truyền đến cho ta một năng lượng khổng lồ vượt ra ngoài
sự tưởng tượng của mọi người. Trong 10 phút truyền xạ, quả đất
nhận một năng lượng khoảng 5 x 1020 J (500 tỷ tỷ
Joule), tương đương với lượng tiêu thụ của toàn thể nhân loại
trong vòng một năm. Trong 36 giờ truyền xạ, mặt trời cho chúng
ta một năng lượng bằng tất cả những giếng dầu của quả đất. Năng
lượng mặt trời vì vậy gần như vô tận. Hơn nữa, nó không phát
sinh các loại khí nhà kính (greenhouse gas) và khí gây ô nhiễm.
Nếu con người biết cách thu hoạch nguồn năng lượng sạch và vô
tận nầy thì có lẽ loài người sẽ mãi mãi sống hạnh phúc trong một
thế giới hòa bình không còn chiến tranh vì những cuộc tranh
giành quyền lợi trên các giếng dầu.
Mười vấn đề lớn của nhân loại trong vòng 50
năm tới đã được ghi nhận theo thứ tự nghiêm trọng là (1) năng
lượng, (2) nước, (3) thực phẩm, (4) môi trường, (5) nghèo đói,
(6) khủng bố và chiến tranh, (7) bệnh tật, (8) giáo dục, (9)
thực hiện dân chủ và (10) bùng nổ dân số. Năng lượng quả thật là
mối quan tâm hàng đầu của nhiều chính phủ trên thế giới. Nguồn
năng lượng chính của nhân loại hiện nay là dầu hỏa. Nó quí đến
nỗi được người ta cho một biệt hiệu là "vàng đen". Một vài giờ
cúp điện hay không có khí đốt cũng đủ làm tê liệt và gây hỗn
loạn cho một thành phố. Cuộc sống văn minh của nhân loại không
thể tồn tại khi thiếu vắng năng lượng. Theo thống kê, hiện nay
hơn 85 % năng lượng được cung cấp từ dầu hỏa và khí đốt. Nhưng
việc thu hoạch từ các giếng dầu sẽ đạt đến mức tối đa trong
khoảng năm 2010 - 2015, sau đó sẽ đi xuống vì nguồn nhiên liệu
sẽ cạn kiệt cùng năm tháng. Người ta cũng tiên đoán nếu dầu hỏa
được tiếp tục khai thác với tốc độ hiện nay, kể từ năm 2050
lượng dầu được sản xuất sẽ vô cùng nhỏ và không đủ cung cấp cho
nhu cầu toàn thế giới. Như vậy, nguồn năng lượng nào sẽ thay thế
cho "vàng đen"? Các nhà khoa học đã và đang tìm kiếm những nguồn
năng lượng vô tận, sạch và tái sinh (renewable energy) như: năng
lượng từ mặt trời, gió, thủy triều, nước (thủy điện), lòng đất
(địa nhiệt) v.v...
Trong những nguồn năng lượng nầy có lẽ năng
lượng mặt trời đang được lưu tâm nhiều nhất. Những bộ phim tài
liệu gần đây cho thấy ở các vùng hẻo lánh, nghèo khổ tại Ấn Độ
hay châu Phi, cư dân tràn ngập hạnh phúc khi có điện mặt trời
thắp sáng màn đêm hay được sử dụng các loại nồi năng lượng mặt
trời để nấu thức ăn. Dù vậy, cho đến nay con người vẫn chưa đạt
được nhiều thành công trong việc chuyển hoán năng lượng mặt trời
thành điện năng vì một phần mật độ năng lượng mặt trời quá
loãng, một phần phí tổn cho việc tích tụ năng lượng mặt trời còn
quá cao. Nếu tính theo mỗi kilowatt-giờ (năng lượng 1 kilowatt
được tiêu thụ trong 1 giờ) thì phí tổn thu hoạch năng lượng mặt
trời là $0,30 USD [1]. Trong khi đó năng lượng từ gió là $0,05
và từ khí đốt thiên nhiên là $0,03. Một hệ thống chuyển hoán
năng lượng mặt trời cung cấp đủ điện năng cho một căn nhà ở bình
thường tốn ít nhất $18000 USD (giá 2005). Chỉ cần yếu tố tài
chính không thôi cũng đủ để làm người tiêu thụ tránh xa việc sử
dụng năng lượng mặt trời. Hệ quả là tại những nước tiên tiến như
Mỹ điện lực được tạo từ năng lượng mặt trời từ các tế bào quang
điện (photovoltaic cell; photo = quang, voltaic = điện) chỉ
chiếm 0,02 % [1]. Tuy nhiên, điều đáng mừng là thị trường năng
lượng mặt trời toàn cầu trị giá 10 tỷ USD/năm và tăng 30 % hằng
năm nhờ vào các kết quả nghiên cứu làm giảm giá tế bào quang
điện [2].
Bài viết sẽ tổng kết những kỳ tích trong lĩnh
vực cực kỳ quan trọng nầy trong nửa thế kỷ vừa qua.
2. Silicon và các chất bán dẫn vô cơ
Vật liệu chính cho tế bào quang điện được
dùng để chuyển hoán năng lượng mặt trời thành điện năng là
silicon (Si). Silicon là một nguyên tố nhiều thứ hai sau oxygen
trên quả địa cầu. Đây là cũng là một nguồn thiên nhiên phong phú
gần như vô tận. Nó chiếm gần 30 % của vỏ quả đất dưới dạng
silica (SiO2), và là một hợp chất chính trong cát.
Nhìn xung quanh, ta thấy tính hữu dụng của silica hiện hữu từ
công nghệ "thấp" như bê tông, thủy tinh đến công nghệ cao
như transistor, chip vi tính và các linh kiện điện tử khác. Có
thể nói rằng silicon, hay đi từ nguyên thủy - cát, là xương sống
của nền văn minh hiện đại. Nói khác hơn, ngoài đá cát của thiên
nhiên ta thấy sự hiện diện của nguyên tố silicon hầu hết ở tất
cả mọi nơi từ những tòa nhà chọc trời đến những linh kiện điện
tử thu nhỏ cho máy vi tính ở thang nanomét (nhỏ hơn sợi tóc
100.000 lần). Năm mươi năm trước, cùng một lúc với sự phát minh
của silicon transistor, pin mặt trời (hay là pin quang điện)
silicon được chế tạo tại Bell Labs (Mỹ). Pin nầy có khả năng
chuyển hoán năng lượng mặt trời sang điện năng với hiệu suất là
6 %. Một con số tương đối nhỏ so với hiệu suất lý thuyết tối đa
cho silicon là 31 %, nhưng đây là một thành quả rất ấn tượng cho
bước đầu nghiên cứu của pin mặt trời. Nhóm nghiên cứu của giáo
sư Martin Green (University of New South Wales, Úc) hiện nay đã
đạt kỷ lục 24,7 %.
Cho đến ngày hôm nay những đặc tính cơ bản
của pin quang điện mặt trời vẫn không có nhiều thay đổi; 95 %
các hệ thống, dụng cụ dùng tế bào quang điện chế tạo từ silicon
với hiệu suất trung bình 15 %. Có ba loại silicon được làm pin
mặt trời: đơn tinh thể (monocrystalline), đa tinh thể
(polycrystalline) và vô định hình (amorphous). Phần lớn các pin
mặt trời hiện nay xuất hiện trên thương trường vẫn là pin
của thế hệ thứ nhất (first-generation cell) dùng silicon đơn
tinh thể có hiệu suất chuyển hoán 18 %. Sản phẩm đòi hỏi
silicon đơn tinh thể phải có độ nguyên chất đạt đến 99,9999 % (6
con số 9) thậm chí 99,999999999 % (11 con số 9), và quá trình
chế tạo cần nhiệt độ cao để làm tan chảy silicon. Độ nguyên chất
phải ở mực gần như tuyệt đối để bảo đảm sự di động dễ dàng của
điện tử tạo ra dòng điện. Hai yêu cầu khó khăn nầy đẩy giá thành
lên cao và vì vậy không được áp dụng rộng khắp.
Pin dùng silicon đa tinh thể
và vô định hình thuộc thế hệ thứ hai. Silicon đa tinh thể được
chế tạo ít tốn kém hơn vì không cần đạt đến độ nguyên chất như
đơn tinh thể. Nhưng đa tinh thể nhiều đường biên tinh
thể (crystalline boundary) cản trở sự di động của điện tử làm
giảm hiệu suất của pin (12 – 15 %). Ngoài ra, silicon vô định
hình có thể được xem là vật liệu trong việc sản xuất pin mặt
trời giá rẻ. Một trong những ưu điểm là khác với silicon tinh
thể, silicon vô định hình có thể làm thành phim mỏng vừa ít tốn
kém nguyên liệu vừa có khả năng hấp thụ năng lượng mặt trời 40
lần cao hơn silicon đơn tinh thể; phim silicon dày 1
μm
có thể hấp thụ gần 90 % bức xạ mặt trời. Tuy nhiên, vì bản chất
vô định hình hiệu suất chuyển hoán thành điện chỉ bằng phân nửa
hiệu suất của silicon đơn tinh thể. Điều nầy cũng dễ hiểu. Vô
định hình như một nắm tóc rối nùi, trong khi tinh thể như một
mái tóc được chải mượt mà. Hiệu suất tùy vào sự di động của điện
tử và sự di động nầy tạo ra dòng điện. Đương nhiên độ đi dộng
của điện tử trong một môi trường có một trật tự cao hơn trong
một không gian vô định hình ngoằn ngoèo như một mê cung. Dù vậy,
silicon vô định hình vẫn là loại vật liệu được ưa chuộng nhờ vào
giá rẻ để chế tạo mái ngói hoặc các panô (panel) quang điện cho
nhà ở hoặc các cao ốc, công thự. Ngoài silicon vô định hình với
lợi điểm tạo thành phim mỏng, pin mặt trời thuộc thế hệ thứ hai
bao gồm các loại hợp chất bán dẫn như indium dislenide đồng và
cadmium telluride được phủ lên thủy tinh. Các loại bán dẫn nầy
có giá rẻ hơn rất nhiều so với silicon đơn phân tử nhưng có
khuyết tật cấu trúc nên hiệu suất không cao.
Việc phát triển mọi ngành công nghệ đều tập
trung vào việc giảm giá thành. Công nghệ pin mặt trời cũng không
phải là ngoại lệ. Ngoài việc phổ cập hóa silicon vô định hình,
cải thiện quá trình sản xuất silicon đơn tinh thể đã làm giảm
giá vật liệu nầy. Nhờ vậy, giá điện mặt trời đã giảm 20 lần
trong 30 năm qua. Nếu chiều hướng nầy tiếp tục thì trong vòng 25
năm tới giá sẽ giảm đến $0,02/kWh. Với sự trợ giúp của công nghệ
nano người ta dự đoán rằng đến năm 2050 thì năng lượng mặt trời
sẽ cung ứng 25 % nhu cầu năng lượng của nhân loại [1].
3. Nguyên lý của pin mặt trời
Nguyên lý của pin mặt trời là hiệu ứng quang
điện (photoelectric effect). Hiệu ứng quang điện được xem là một
trong những phát hiện to lớn của Einstein. Hiệu ứng nầy mô tả
khả năng của ánh sáng (quang) khi được chiếu trên bề mặt vật
liệu có thể đánh bật điện tử (điện) ra khỏi bề mặt nầy. Để giải
thích hiệu ứng quang điện Einstein đưa ra khái niệm quang tử
(photon). Ánh sáng là những quang tử được bắn lên vật liệu để
tống điện tử của vật liệu thành điện tử tự do. Sự di động của
các điện tử nầy sẽ cho ta dòng điện.
Vật liệu silicon nguyên chất là một mạng nối
kết các nguyên tố silicon và mạng nầy trung tính về điện nên
không hữu dụng. Khi silicon được kết hợp một lượng nhỏ (vài phần
triệu) "chất tạp", mạng sinh ra điện tích. Silicon mang điện
tích là vật liệu cho nhiều áp dụng cực kỳ quan trọng. Khi
silicon kết hợp với chất tạp (dopant) có khả năng lấy điện tử
(electron acceptor) từ mạng silicon, mạng silicon sẽ có những lỗ
trống mang điện tích dương (+). Đây là p-silicon (p = positive,
dương). Lỗ trống (+) vốn dĩ là "nhà" của điện tử, cho nên khi
điều kiện cho phép điện tử sẽ chiếm đóng trở lại. Mặt khác, khi
silicon được kết hợp với chất tạp có khả năng cho điện tử, mạng
silicon sẽ dư điện tử. Đây là n-silicon (n = negative, âm).
Silicon dùng trong mọi linh kiện điện tử (thí dụ: transistor,
đèn diode) là một vật liệu hỗn hợp liên kết giữa p-silicon và
n-silicon. Có thể nói rằng p- và n-silicon đã tạo ra một cuộc
cách mạng khoa học ở thế kỷ 20 và đã cho nhân loại nền văn minh
silicon.
Như một quy luật thiêng liêng trong vạn vật,
sự tiếp cận âm dương lúc nào cũng cho ta nhiều điều thú vị. Khi
p-silicon tiếp cận với n-silicon, vùng chuyển tiếp (junction)
giữa hai vật liệu nầy sẽ sinh ra một điện áp tự nhiên (0,7 V).
Khi quang tử của ánh sáng mặt trời chạm vào mạng silicon, nó sẽ
đánh bật điện tử ra khỏi mạng thành điện tử "vô gia cư" và để
lại lỗ trống (+) trên mạng. Tuy nhiên, sau khi bị quang tử tấn
công cặp điện tử và lỗ trống (+) vẫn còn quyến luyến vì lực hút
Coulomb nên không chịu rời nhau! "Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ
lòng"! Cặp điện tử và lỗ trống (+) còn gọi là exciton. Chỉ
có những cặp gần vùng chuyển tiếp mới bị điện áp vùng biên kéo
cả hai ra xa để lỗ trống (+) đi về phía p-silicon và điện tử đi
về phía n-silicon. Bây giờ, điện tử mới thật sự tự do di động để
cho ra dòng điện. Hình 1 cho thấy cấu trúc của pin mặt trời
silicon. Vùng chuyển tiếp hay là mặt tiếp xúc giữa p-silicon và
n-silicon rất rộng để tạo ra nhiều khả năng để cặp điện tử và lỗ
trống (+) có nhiều cơ hội chia ly. Thật ra, đây chỉ là cuộc chia
ly tạm thời vì điện tử đi đường vòng ra ngoài tạo nên dòng điện,
"bọc hậu" trở lại p-silicon tìm lại bạn xưa! Cứ như thế, khi ánh
sáng chiếu liên tục ta sẽ có dòng điện liên tục để sử dụng.

4. Tối ưu hóa hiệu suất chuyển hoán
Quang tử mang nhiều năng lượng khác nhau và
chỉ có quang tử mang năng lượng lớn hơn một mức độ nhất định nào
đó thì mới có khả năng đánh bật điện tử ra khỏi mạng silicon để
trở thành điện tử tự do. Vậy mức độ nhất định đó là gì? Mức độ
nầy chẳng qua là trị số khe dải năng lượng (energy band gap) của
silicon. Khái niệm dải năng lượng điện tử (electronic energy
band) và khe dải năng lượng đã được đề cập trong một bài viết
trước [4]. "Đánh bật" là một từ nói cho tượng hình, nhưng để
hiểu một cách khoa học hơn ta phải dùng đến khái niệm khe dải
năng lượng. Các điện tử chiếm đóng ở dải hóa trị (valence band)
khi có một kích hoạt (thí dụ: quang tử) tác dụng điện tử sẽ nhảy
qua khe dải chiếm cứ dải dẫn điện (conduction band). Vì vậy
quang tử phải mang một năng lượng ít nhất bằng hoặc hơn trị số
khe dải để "nâng" điện tử từ dải hóa trị đến dải dẫn điện. Khi
điện tử ở dải dẩn điện rồi, điện tử sẽ trở thành điện tử tự do
tạo ra dòng điện (Hình 2). Khe dải của silicon có trị số khoảng
1,1 eV tương đương với năng lượng của tia hồng ngoại. Phổ ánh
sáng mặt trời bao gồm tia hồng ngoại (năng lượng <1,7 eV),
ánh sáng thấy được (1, 7 -3,3 eV) và tia tử ngoại (>3,3 eV). Như
vậy, phần lớn ánh sáng mặt trời từ tia hồng ngoại đến tia tử
ngoại đều có khả năng "đánh bật" điện tử ra khỏi mạng silicon.

Hiệu suất lý thuyết tối đa 31 % đề cập bên
trên được định đoạt bởi trị số khe dải 1,1 eV của silicon. Bởi
vì ta cần một năng lượng "đánh bật" 1,1 eV, những quang tử có
năng lượng nhỏ hơn 1,1 eV không thể dự phần, và quang tử có năng
lượng lớn hơn sẽ bị thất thoát đi phần dư thừa ở dạng nhiệt.
Hai nguyên nhân nầy đưa đến sự thất thoát 69 % năng lượng mặt
trời trong silicon do trị số khe dải. Đó là chưa kể sự thất
thoát gây ra bởi cấu trúc vật liệu (tinh thể hay vô định hình),
phản xạ bề mặt và phương pháp sản xuất. Nếu ta dùng những vật
liệu bán dẫn với những khe dải khác nhau và liên kết những vật
liệu nầy thành một cấu trúc chuyển tiếp đa tầng (multi-junction)
để hấp thụ quang tử mặt trời ở các mực năng lượng khác nhau,
hiệu suất chuyển hoán sẽ phải gia tăng.
Năm 2002, các nhà khoa học tại Viện Nghiên
cứu Quốc gia, Lawrence Berkeley National Laboratory (Mỹ), thiết
kế các hợp chất bán dẫn chứa indium (In), gallium (Ga) và
nitrogen (N) cho đèn phát quang diode. Trong cơ chế phát quang
của đèn diode ta cho dòng điện tạo ra sự kết hợp giữa điện tử và
lỗ trống (+) trong chất bán dẫn để tạo ra ánh sáng [5]. Cơ chế
của pin mặt trời có thể xem là một hiện tượng nghịch lại vì ánh
sáng làm phân ly điện tử và lỗ trống (+) để cho ra dòng điện.
Khi hợp chất bán dẫn InGaN được chế tạo, các nhà khoa học Mỹ
khám phá ra là bằng sự điều chỉnh tỉ lệ của In và Ga, khe dải
của hợp chất InGaN có thể biến thiên liên tục từ 0,2 đến 3,4 eV
bao gồm toàn thể quang phổ mặt trời. Các nhà khoa học ở Lawrence
Barkerley vừa làm vật liệu cho đèn diode vừa cho pin mặt trời.
Một công hai việc. Trở ngại chính là sự tốn kém trong việc sản
xuất, cấu trúc nầy vì vậy không thể trở thành một sản phẩm phổ
cập. Nhưng nếu tiền bạc không phải là vấn đề quan trọng như
trong một số áp dụng đặc biệt chẳng hạn như cho vệ tinh, các
loại pin nầy là nguồn điện hữu hiệu để vận hành vệ tinh. Chỉ cần
kết hợp hai tầng InGaN được thiết kế có khe dải 1,1 eV và 1,7
eV, hiệu suất dễ dàng đạt đến 50 %. Mười hai tầng InGaN có khe
dải bao gồm toàn thể quang phổ mặt trời sẽ cho hiệu suất 70 %
[1].
Gần đây (năm 2006), một số chất bán dẫn đã
được thiết kế để tối ưu hóa trị số khe dải, gia tăng hiệu suất
và đồng thời giảm giá thành sản xuất. Trong một cuộc triển lảm
quốc tế về năng lượng mặt trời (2006), công ty Sharp Solar (Nhật
Bản), một trong những công ty lớn và uy tín trên thế giới sản
xuất pin mặt trời, đã ra mắt một panô pin mặt trời có hiệu suất
đột phá 36 % mà vật liệu là hợp chất bán dẫn của các nguyên tố ở
cột III (aluminium, gallium, indium) và cột V (nitrogen,
arsenic) trong bảng phân loại tuần hoàn [1]. Không chịu thua,
cũng vào năm 2006 công ty Boeing - Spectrolab (Mỹ) dùng chất bán
dẫn với một công thức được giữ bí mật có thể chuyển hoán 41%
năng lượng mặt trời. Mười tháng sau đó, viện nghiên cứu quốc gia
Lawrence Berkeley National Laboratory (Mỹ) lại chế tạo một loại
pin mặt trời dùng chất bán dẫn zinc-manganese-tellium với hiệu
suất 45 %. Những con số nầy rất ấn tượng, phải nói rằng panô của
Sharp Solar dù ở 36 % nhưng đã đạt tới trình độ hữu dụng của một
thương phẩm về giá trị thực tiễn cũng như giá cả.
Hiện nay, việc tối ưu hóa
những vật liệu hiện có để nâng cao hiệu suất và tìm kiếm những
hợp chất bán dẫn mới với các trị số khe dải thích hợp thúc đẩy
đà phát triển trong sản
xuất nên làm giảm giá thành. Nền công nghệ nano đang là chủ lực
để đạt những mục tiêu nhiều tham vọng nầy. Một trong những ý
tưởng nano là chế tạo hằng tỷ tế bào pin mặt trời ở kích thước
nanomét gọi là chấm
lượng tử
(quantum dot), thay vì dùng từng mảng vật liệu như hiện nay.
Nhóm của giáo sư Martin Green (University of New South Wales,
Úc) lần đầu tiên chế biến thành công trong phòng thí nghiệm pin
mặt trời silicon mang cấu trúc chấm
lượng tử với hiệu suất đạt đến gần con số lý
thuyết 31 % [1]. Chấm lượng tử silicon
thật ra là tinh thể nano silicon. Tiến sĩ Arthur Nozik thuộc
Viện Nghiên cứu Năng lượng Tái sinh (Mỹ) (National Renewable
Energy Laboratory) cũng đã chế tạo thành công tập hợp
chấm lượng tử
silicon (Hình 3). Mỗi chấm
có bán kính khoảng 7 nm,
chứa 50 - 70 nguyên
tử silicon. Thông thường một quang tử đánh bật một điện tử,
nhưng ở thứ nguyên nano cực nhỏ nầy một quang tử khi va chạm vào
chấm lượng
tử có thể sinh ra hai, ba điện tử tự do. Kết quả là ta sẽ có
nhiều điện tử tạo ra dòng điện. Theo Nozik, nhờ vào hiệu ứng đa
điện tử của chấm
lượng tử silicon, hiệu suất chuyển hoán có
thể đạt hơn 60 %, gấp đôi con số lý thuyết 31 % của trường hợp
một quang tử cho một điện tử.
Tuy nhiên, để trở thành một sản phẩm thông dụng,
người ta dự đoán phải cần một thời gian từ 10 đến 15 năm. Chúng
ta hãy kiên nhẫn chờ xem.

5. Polymer mang nối liên hợp và fullerene
Cơ chế biến năng lượng mặt trời thành dòng
điện thật ra là một cơ chế đơn giản. Nó qua một tiến trình như
sau: (1) điện tử bị quang tử "đánh bật" ra khỏi "nhà" của mình
(mạng vật liệu) để lại một lỗ trống (+); (2) vì điện tử có điện
tích âm (-) và lỗ trống mang điện dương (+) nên cặp âm dương
(+)(-), hay là lỗ trống - điện tử (exciton) (Hình 1 và 2), không
chịu rời nhau do lực hút tĩnh điện và (3) cặp (+)(-) phải được
tách rời để điện tử hoàn toàn tự do đi lại cho ra dòng điện.
Thiếu một trong ba quá trình nầy, dòng điện không xảy ra. Trong
trường hợp silicon và các chất bán dẫn vô cơ khác, như đã đề cập
bên trên vùng chuyển tiếp (junction) giữa p-silicon và n-silicon
là nơi phân ly cặp (+)(-).
Cũng như trong các áp dụng đèn phát quang
[5], sự đổi màu điện học [6] và các ứng dụng quang học và quang
điện tử đều liên hệ đến khe dải năng lượng, vật liệu hữu cơ được
đặc biệt chú trọng nhờ vào các phương pháp tổng hợp đơn giản,
gia công dễ dàng, tạo được phim mỏng và có thể thiết kế để có
những trị số khe dải khác nhau. Những lợi điểm nầy làm giảm giá
sản xuất và tạo điều kiện cho sản xuất quy mô lớn. Trong pin mặt
trời dùng vật liệu hữu cơ, nguyên tắc chính là sự di chuyển điện
tử từ một polymer/phân tử cho điện tử (electron donor) đến một
polymer/phân tử nhận điện tử (electron acceptor). Sự di động của
điện tử sẽ tạo thành dòng điện. Chuyện nghe đơn giản nhưng làm
không đơn giản! Lý do chính là làm sao để điện tử có thể di động
thoải mái để tạo dòng điện và không còn "quyến luyến" với các lỗ
trống (+) lúc nào cũng chập chờn chờ đợi sự tái kết hợp.
Một trong những pin mặt trời
hữu cơ là pin mặt trời polymer - fullerene (thí dụ: quả bóng đá
C60) [7]. Polymer là các polymer mang nối liên hợp (viết tắt:
polymer liên hợp) (- C = C - C = C -) như polyacetylene (PA),
polypyrrole (PPy), polyaniline (PAn), polythiophene (PT), poly
(phenylene vinylene) (PPV) v.v... và các polymer dẫn xuất. Cũng
nên nhắc lại là polymer liên hợp khi kết hợp với dopant sẽ trở
thành polymer dẫn điện. Điện tử
π
trong nối
liên hợp một lần nữa thể hiện vai trò quan trọng của nó. Khi có
một kích hoạt bên ngoài, chẳng hạn như quang tử của ánh sáng mặt
trời, polymer mang nối liên hợp "phóng thích" các điện tử
π
và để lại nhiều lỗ trống (+) trên mạch polymer. Vì vậy, polymer
liên hợp được gọi là vật liệu loại p (p-type, p = positive =
dương). Ngược lại, fullerene là vật liệu nhận điện tử rất hiệu
quả; sau khi nhận điện tử fullerene mang điện tích âm nên được
gọi là vật liệu loại n (n-type, n = negative = âm) (Hình 4).
Trong silicon ta cũng có p-silicon và n-silicon.

Kịch bản chuyển hoán năng lượng mặt trời
thành dòng điện trong các vật liệu hữu cơ cũng tương tự như
silicon. Những quang tử sẽ đánh bật điện tử ra khỏi mạng của vật
liệu p tạo ra cặp âm dương (+)(-) (cặp điện tử - lỗ
trống). Những cặp nầy khuếch tán, "rong chơi" trong vật liệu và
chỉ có những cặp ở gần vùng chuyển tiếp p-n (p-n junction) thì
mới có cuộc phân ly "chia loan rẽ thúy"! Sau khi chia lìa điện
tử sẽ di động trong vật liệu n tiến đến cực dương và lỗ trống
(+) di động trong vật liệu p tiến đến cực âm (Hình 5a). Dòng
điện xuất hiện.
Như vậy, để gia tăng hiệu suất chuyển hoán,
diện tích của mặt (tiếp xúc) chuyển tiếp giữa hai vật liệu p và
n cần phải được cực đại hóa. Vì mặt chuyển tiếp là nơi tiếp xúc
của hai vật liệu khác nhau nên được gọi là mặt chuyển tiếp dị
chất (hetero-junction). Đối với các vật liệu hữu cơ việc cực đại
hóa chỉ cần một phương pháp đơn giản là trộn (blend) hai vật
liệu nầy tạo thành một composite. Để cho sự di chuyển của điện
tử và lỗ trống (+) đến điện cực không bị ùn tắc giữa đường, mô
dạng (morphology) composite cần có những đường vân liên tục của
vật liệu p và n đan xen vào nhau (interpernetrating) và tiếp nối
đến điện cực để điện tử và lỗ trống (+) đi đến nơi đến chốn
(Hình 5b). Ngoài ra, vật liệu phải nguyên chất (silicon có độ
nguyên chất cao hơn 99.99 %) bởi vì chất tạp trở thành rào cản
chận đứng sự di động của điện tử và lỗ trống (+). Đây là những
đòi hỏi nhiều thử thách trong pin mặt trời hữu cơ.

Sự lựa chọn vật liệu loại p rất quan trọng vì
nó là nguồn cung cấp điện tử cho pin. Nhưng tại sao lại phải là
polymer liên hợp? Lý do chính là polymer liên hợp có tính bền
trong vùng ánh sáng thấy được, có thể tạo thành phim mỏng ở đơn
vị micromét (một phần ngàn mm) đến nanomét (một phần triệu mm)
nhưng vẫn có thể hấp thụ ánh sáng rất hiệu quả. Khe dải của
những polymer liên hợp tiêu biểu có trị số trong khoảng 1,5 -
2,5 eV nằm trong vùng quang phổ của ánh sáng mặt trời. Một ưu
điểm khác là khe dải có thể được thiết kế có trị số nhỏ hơn (~ 1
eV) để lợi dụng các quang tử có năng lượng thấp. Sự điều chỉnh
khe dải được áp dụng rất hiệu quả cho đèn phát quang polymer
(PLED) [5]. Đây là một ưu điểm vượt trội của polymer liên hợp
vì có thể thực hiện dễ dàng hơn các chất bán dẫn vô cơ. Dùng
phương pháp tổng hợp hóa hữu cơ ta có thể điều chỉnh trị số khe
dải bằng cách gắn những nhóm biên (functional group) vào mạch
polymer để thay đổi cấu trúc phân tử hay tạo ra polymer liên hợp
mới. Có thể nói là ngành hóa hữu cơ "cổ lỗ" bỗng nhiên được hồi
sinh nhờ vào những đòi hỏi của công nghiệp điện tử. Sự lựa chọn
vật liệu loại n cũng không kém phần quan trọng. Vật liệu nầy sẽ
nhận điện tử và kích thích sự phân ly của cặp (+)(-). Trong một
danh sách dài của các vật liệu loại n có khuynh hướng thu hút
điện tử cực mạnh, ta có thể chọn các loại phân tử, những oxide
với cấu trúc nano như TiO2, ZnO, hạt nano bán dẫn
(semiconducting nanoparticles) và fullerene.
Hiện nay, vật liệu loại p đang được nghiên
cứu là chất dẫn xuất của PPV, poly [methoxy - (dimethyloctyloxy)
- phenylene vinylene] (MDMO-PPV) và chất dẫn xuất của PT, poly
(3-hexylthiophene) (P3HT), và vật liệu loại n thông dụng là chất
dẫn xuất của C60, PCBM C60 (Hình 4). Composite MDMO-PPV/PCBM
C60, composite P3HT/PCBM C60 và các composite khác đã được khảo
luận tỉ mỉ trong bài báo cáo tổng kết pin mặt trời hữu cơ của
Mozer và Sariciftci [10]. Ảnh hưởng của mô dạng composite đến
hiệu suất chuyển hoán được phân tích trong bài báo cáo của Yang
và Loos [11]. Hai bài báo cáo xuất sắc nầy cho thấy những đóng
góp kiên trì của các nhà khoa học vào sự phát triển của pin mặt
trời hữu cơ hơn 10 năm qua, từ một hiệu suất khiêm tốn 0,1 % cho
đến ngày hôm nay tăng đến 5 - 6 % tương đương với hiệu suất của
phim silicon vô định hình. Dù con số nầy chỉ bằng 1/10 của các
hợp chất bán dẫn vô cơ "siêu hạng" được đề cập bên trên, các
loại pin hữu cơ mỏng, mềm dẻo, giá rẻ, nhẹ và bền có thể sản
xuất hàng loạt bằng phương pháp in phun như đã làm cho đèn phát
quang polymer (PLED).
6. Pin mặt trời từ thuốc nhuộm
Cái tựa đề nghe có vẻ hoang tưởng nhưng đây
là một sản phẩm được mô phỏng từ Mẹ thiên nhiên. Loại pin nầy
bắt chước quá trình quang hợp trong thực vật. Phản ứng quang hợp
xảy ra trong lá cây với sự hiện diện của ánh sáng mặt trời và
diệp lục tố (chlorophill) biến nước được cung cấp từ rễ và
carbon dioxide (CO2) từ không khí thành đường glucose
(năng lượng) và oxygen theo một công thức đơn giản,
6H2O + 6CO2
C6H12O6 (đường glucose) + 6O2
Diệp lục tố cho màu xanh của
lá, là chất xúc tác của phản ứng trên biến năng lượng mặt trời
thành hóa năng dưới dạng đường, duy trì sự sống còn của thực
vật. Diệp lục tố nhận năng lượng mặt trời, hay nói một cách
khác, quang tử mặt trời đánh bật điện tử
π
của diệp lục tố thành điện tử tự do gây ra những phản ứng dây
chuyền để cuối cùng tạo ra đường. Thật ra, diệp lục tố là thuốc
nhuộm thiên nhiên do sự hấp thụ ánh sáng hiển thị màu xanh.
Thuốc nhuộm spiro-MeOTAD dùng trong pin mặt trời và diệp lục tố
có cấu trúc vòng rất giống nhau mang nối liên hợp với những điện
tử
π
kỳ diệu (Hình 6).

Nhóm của giáo sư Michael
Grätzel (Swiss Federal Institute of Technology, Thụy Sĩ) là nhóm
tiên phong nghiên cứu về pin thuốc nhuộm từ năm 1991. Ông và
cộng sự dùng thuốc nhuộm (thí dụ: spiro-MeOTAD) làm vật liệu
loại p (cho điện tử) và oxide bán dẫn TiO2 làm vật
liệu loại n (nhận điện tử). Ngoài ra, các oxide bán dẫn khác như
ZnO, Nb2O5, SnO2 cũng đã được
khảo sát. Đặc điểm của TiO2 là giá rẻ, rẻ hơn rất
nhiều so với silicon. Tuy nhiên, cũng như trường hợp pin polymer
liên hợp – fullerene, vùng chuyển tiếp giữa hai vật liệu p và
n phải được cực đại hóa. Hiệu suất của pin thuốc nhuộm không có
gì ấn tượng cho đến khi Grätzel và cộng sự chế biến thành
công tinh thể nano TiO2 ở thứ nguyên nanomét (15 - 20
nm). Đây là một bước đột phá kỹ thuật. Tinh thể nano TiO2 có
thể phủ lên điện cực dưới dạng phim có những lỗ vi mô
(micropores) với độ dày 5 - 20 μm
với diện tích tiếp xúc rất lớn. Nhờ những lỗ vi mô nầy một gram
phim tinh thể TiO2 có bề mặt là 80 - 200 m2,
tương đương với một sân tennis! Các phân tử thuốc nhuộm len lỏi
vào những lỗ vi mô làm diện tích của vùng chuyển tiếp dị chất
(hetero-junction) gia tăng hơn 1000 lần và nhờ vậy sự phân ly
cặp (+)(-) trở nên cực kỳ hiệu quả.
Giáo sư Grätzel cho biết pin thuốc nhuộm của
nhóm ông đạt đến hiệu suất 11 % tiến đến hiệu suất của silicon
đa tinh thể và có thể sản xuất với giá 3 đến 4 lần rẻ hơn pin
silicon. Một thành tích rất ấn tượng cho pin mặt trời hữu cơ.
7. Lời kết
Kể từ lúc pin silicon đơn tinh
thể, pin mặt trời thuộc thế hệ thứ nhất, xuất hiện ở đầu thập
niên 50 của thế kỷ trước đến pin silicon vô định hình và các hợp
chất bán dẫn vô cơ thuộc thế hệ thứ hai và các loại pin hữu cơ
dựa vào sự di động của điện tử
π
thuộc thế hệ thứ ba, các nhà khoa học đã đi một đoạn đường dài
trong việc lợi dụng năng lượng mặt trời tạo ra điện năng. Công
nghệ nano đang và sẽ góp phần không nhỏ vào việc hoàn thiện dụng
cụ nầy. Ngoài những áp dụng thực tiễn, trong quá trình nghiên
cứu và phát triển pin mặt trời các nhà khoa học và vật liệu học
đã khám phá ra những điều thú vị trong việc tạo ra những vật
liệu hiệu quả, tối ưu hóa việc chuyển hoán năng lượng với những
ứng biến linh động dựa trên khe dải năng lượng và mô dạng trong
các composite cho trường hợp của các vật liệu hữu cơ.
Với những thành quả nghiên cứu, các loại pin
mặt trời dù được làm từ chất vô cơ hay hữu cơ càng ngày càng
hiệu quả và giảm giá. Theo các chuyên gia, trong sân chơi "năng
lượng mặt trời", không có trở ngại kỹ thuật nào mà không thể
vượt qua nếu các nhà khoa học được cung cấp tài chánh dồi dào để
tiếp tục phát huy. Nhưng có thực sự là năng lượng mặt trời sẽ
đóng vai trò chủ chốt trong các loại năng lượng tái sinh khác
trong tương lai? Vấn đề chính của pin mặt trời là sự đòi
hỏi những khoảng đất rộng lớn để cài đặt những panô pin cho việc
cung cấp điện. Trở ngại thứ hai là việc tồn trữ điện cho những
ngày mưa phải cần đến một kỹ năng khác mà hiện giờ vẫn chưa
có một giải đáp thỏa đáng.
Trớ trêu thay, Nhật Bản - một nước đất hẹp
người đông - lại là một quốc gia đứng đầu thế giới về năng lượng
mặt trời. Công ty Sharp Solar (Nhật Bản) đang đổ tiền đầu tư để
tiến hành một dự án xây những thiết bị pin mặt trời có khả năng
sản xuất 100 gigawatts (100 tỷ watts) vào năm 2030, tương đương
với 30 lần công suất của toàn thế giới hiện nay [1]. Cái táo bạo
của người Nhật Bản cho ta một niềm lạc quan vào tương lai của
năng lượng mặt trời. Tuy có những chướng ngại cơ bản về đất đai
để thiết lập panô pin và việc tồn trữ điện, điện lượng tiêu thụ
của con người trong 20, 30 năm tới không ít thì nhiều phải dựa
vào dạng năng lượng nầy.
Từ khi thái dương hệ xuất hiện, những tia
sáng mặt trời truyền đến mặt đất bị hoang phí đã hằng tỷ
năm. Hơn nửa thế kỷ qua, cơ học lượng tử đã giúp loài người đạt
được nhiều kỳ tích "đuổi bắt" những tia sáng kỳ diệu nầy.
Thêm nửa thế kỷ sắp tới, khai thác năng lượng mặt trời đặt các
nhà nghiên cứu khoa học trước nhiều thử thách trong việc chọn
lựa vật liệu và tối ưu hóa thiết kế cấu trúc của tế bào quang
điện, nhưng bù lại sẽ mang đến cho nhân loại những dụng cụ tiện
ích và rất nhiều khám phá kỳ thú. Trong khi đó mặt trời của
chúng ta vẫn ung dung rực cháy.
Đầu Xuân (Wollongong)
25 September 2007
TVT
Ghi chú và Tài liệu tham khảo
- E. Cartlige,
"Bright outlook for solar cells", Physics World,
20 (7) (2007) 20.
- N. S. Lewis,
Science, 315 (2007) 98.
- W. C. Sinke, MRS
Bulletin, October 1993, pp. 18.
-
http://www.khoahoc.net/baivo/truongvantan/060907-polymerdandien.htm
-
http://khoahoc.net/baivo/truongvantan/310507-anhsang.htm
-
http://www.khoahoc.net/baivo/truongvantan/050707-doimaudienhoc.htm
-
http://www.khoahoc.net/baivo/truongvantan/180506-ongnanocarbon.htm
- S. R. Forrest,
MRS Bulletin, January 2005, pp. 28.
- R. Gómez and J. L.
Segura, J. Chem. Edu., 84 (2007) 253.
- A. J. Mozer and N.
S. Sariciftci, Chapter 10 "Conjugated Polymer-Based
Photovoltaic Devices", in "Handbook of Conducting Polymers
ed. 3 (edited by T. A. Skotheim and J. Reynolds), December
2006, CRC Press, Mercel Dekker.
- X. Yang and J.
Loos, Macromolecules, 40 (2007) 1353.
Ý kiến Phê bình xin gửi về
:
truongvantan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |