|
Nếu
tính từ ngày Gallieo huớng kính thiên văn tự chế của mình vào
không gian để quan sát cơ cấu vận hành của các hành tinh trong
vũ trụ, cho đến ngày hôm nay thì tư duy và phương pháp luận của
khoa học hiện đại chỉ ra đời non 400 năm. Khi cuộc cách mạng
khoa học nổ ra ở đầu thế kỷ 20 mang đến cho nhân loại bộ môn cơ
học lượng tử giải thích bản chất của những vật nhỏ nhất như hạt
sơ cấp và Thuyết Tương Đối của Einstein giải thích những vật to
nhất như vũ trụ, sự giao lưu giữa khoa học và tôn giáo nhất là
Ki-Tô giáo liên quan đến việc hiện hữu của con người và vũ trụ
đi đến một tình trạng gần như bế tắc. Cuộc tranh luận của phe
Sáng Thế và phe Tiến Hóa không đưa đến một kết luận nào có thể
thỏa hiệp mà càng lúc lại càng gay gắt. Sự xuất hiện gần đây của
lập luận "thiết kế thông minh" (intelligent design) chẳng qua là
một chiêu thức sáo mòn "bình mới rượu cũ" để duy trì cái quan
điểm rằng vì con người và thiên nhiên là những cấu tạo quá ư
phức tạp cho nên phải có người thiết kế toàn năng để hình thành.
Cụm từ "Chúa của những lỗ hổng" (God of the gaps) ám chỉ những
điều chưa được khoa học giải thích thì ở đấy Chúa xuất hiện.
Nhưng trên thực tế thì những lỗ hổng của tri thức con người về
thiên nhiên không chứng tỏ có điều gì liên hệ đến Chúa. Luận
điểm "thiết kế thông minh" đã được một nhà khoa học phê bình một
cách hài huớc là "người thiết kế tòan năng" kia chẳng qua là
"con nai biết bay" [1]!
Trước
những thành quả vượt bực trong khoa học nhất là trong vật lý và
sinh học, một câu hỏi lớn được đặt ra là có một tôn giáo nào có
thể dung hòa với khoa học trên khía cạnh phương pháp luận và
nhận thức luận. Hay nói một cách đơn giản hơn là có một hệ thống
triết học tâm linh nào cùng đứng trên một tiền đề với khoa học
chấp nhận sự phi hiện hữu của một Đấng Tối Cao toàn năng. Phật
Giáo như là một lựa chọn tất nhiên cho việc đối thoại giữa khoa
học và tôn giáo vì cả hai cùng chia sẻ một số điểm căn bản. Từ
những nền tảng chung nầy, sự giao lưu sẽ phá bỏ hàng rào phân
biệt biểu kiến giữa hai lĩnh vực và xa hơn nữa cho khoa học cái
tính nhân bản và cho Phật Giáo một khuôn mặt khoa học ở thế kỷ
21. Thiên tài Einstein đã từng tiên đoán "Nếu có một tôn giáo
có thể đáp ứng được những nhu cầu của khoa học hiện đại, tôn
giáo đó có lẽ là Phật Giáo". Sự dung hòa giữa Phật Giáo và
khoa học xảy ra một cách tất nhiên bởi vì trong sự suy luận cả
hai được đặt trên cơ sở tôn trọng thực tế khách quan và sự tự do
diễn đạt tư tưởng không bị một áp đặt nào từ một thế lực bên
ngoài hay bên trên chi phối. Nó cũng xảy một cách tự nhiên
bởi sự lan tỏa rộng khắp của khoa học kỹ thuật đến các nước
phương Đông nhất là tại Ấn Độ và Trung Quốc nơi đã từng là cái
nôi của nền văn minh nhân loại, và cũng bởi nhu cầu mạnh mẽ tìm
hiểu Phật Giáo tại các nước phương Tây.
Quyển
"The Quantum and the Lotus" so sánh phương pháp suy luận
và những tư tưởng cơ bản giữa Phật Giáo và khoa học. Quyển sách
ghi lại cuộc đối thoại thú vị giữa tiến sĩ Matthieu Ricard và
giáo sư Trịnh Xuân Thuận. Tác giả Ricard là một thiền sư Phật
Giáo Tây Tạng với học vị tiến sĩ về sinh học phân tử. Tác giả
Trịnh Xuân Thuận là giáo sư vật lý thiên văn xuất thân từ một
gia đình Phật Giáo. Trước quyển "The Quantum and the Lotus"
cũng đã có những công trình tương tự so sánh khoa học và tư
tưởng phương Đông. Ở giữa thập niên 70, quyển sách nổi tiếng
"The Tao of Physics" (Cái Đạo của Vật Lý) của Fritjof
Capra được dịch ra 23 ngôn ngữ đã tạo ra một phong trào tìm hiểu
tư tưởng phương Đông qua lăng kính khoa học. Cách đây mười năm,
tác giả Trịnh Nguyên Phước đã viết một bài tiểu luận so sánh
Phật Giáo và khoa học [2]. Quyển "The Quantum and the Lotus"
có lẽ là quyển sách đầu tiên so sánh hai lĩnh vực một cách có hệ
thống và mạch lạc. Trong tất cả 15 chương sách, tác giả Ricard -
người đại diện Phật Giáo trong quyển sách, và tác giả Trịnh Xuân
Thuận - người đại diện khoa học, khảo luận những điểm tương đồng
của hai lĩnh vực để trả lời những vấn đề hóc búa từ vũ trụ đến
con người, từ khoa học đến mỹ học. Tôi đọc quyển sách với một
thái độ của người làm công tác khoa học nhưng vừa mới chập
chững tìm hiểu Phật Giáo. Quyển sách nầy không dễ đọc bởi nó đòi
hỏi độc giả phải có khái niệm cơ bản về hai môn học: cơ học
lượng tử và Phật Học.
Từ bản
chất và mục đích, Phật Giáo và khoa học mang những đặc tính khác
nhau nhưng không phải vì thế mà không thể bổ sung cho
nhau. Triết học Phật Giáo mang tính chất định tính (qualitative)
tổng kết những khái niệm cơ bản dựa trên kinh nghiệm để giáo
huấn giác ngộ chúng sinh hiểu được những nguyên nhân của sự đau
khổ mà thoát ra khỏi định luật tự nhiên "sinh lão bịnh tử" và
vòng luân hồi của cõi ta bà dẫn đến cõi tịnh độ Niết Bàn. Ngược
lại, khoa học là một hệ thống định lượng (quantitative) xác
nhận sự vật hay sự kiện bằng một con số hay phương trình toán
học. Trong quá trình đưa đến một kết quả định lượng nhà khoa học
phải nhìn sự vật một cách khách quan lạnh lùng, truy tìm bản thể của
sự vật bằng phương pháp thực nghiệm, bằng sự suy luận mang tính
phân tích và tổng hợp. Một kết quả khoa học phải có tính khách
quan vượt thời gian và không gian. Nếu không còn những giá trị
nầy kết quả khoa học phải được tu chỉnh để thích hợp. Mục đích
của Phật Giáo là giáo dục và giác ngộ con người để nâng cao đạo
đức, biết phân biệt thiện ác. Ngôn ngữ của Phật giáo là một ngôn
ngữ của hòa bình, vị tha và độ lượng. Mục đích của khoa học là
sự tôn trọng tuyệt đối tính khách quan nhưng chung qui chỉ dừng
ở chỗ tìm hiểu nguyên nhân của sự vật, quy luật tự nhiên
mà không phân biệt thiện ác, không thương không ghét. Kết quả là
khoa học có thể trở thành công cụ của những tập đoàn chính trị
sinh ra những khoa học gia cực ác như Bác Sĩ Ishii Shiro trong
chiến tranh thế giới thứ 2 [3]; nhưng nhân loại cũng có những
khoa học gia cực thiện như Giáo Sư Howard Florey người Úc chế
tạo ra penicillin [4]. Giữa hai đối cực nầy là một loạt khoa học
gia làm việc với những mục đích khác nhau đã được định sẵn bởi
ông chủ của nguồn lương bổng! Einstein có lần hóm hỉnh phê bình
"Khoa học sẽ là một thứ tuyệt vời, nếu người ta không phải
nhờ vào nó để mưu sinh".
Quyển
sách nầy cho tôi nhiều ngạc nhiên thú vị về lý luận Phật Giáo và
những lời dạy của Đức Phật cách đây 2500 năm trước. Trong toàn
bộ cuộc đối thoại, tác giả Ricard chỉ dựa trên một số khái niệm
cơ bản Phật Học để đối chiếu với cơ học lượng tử mà theo chỗ tôi
hiểu là: luật Nhân Quả, tính Không, giác ngộ, duyên sinh, duyên
khởi, vô ngã, vô thường. Những khái niệm nầy cho thấy Đức
Phật tôn trọng tính khách quan và cảnh giác sự cuồng tín. Thật
vậy, đối với các môn đệ ngài đã nhiều lần dạy rằng "Hãy thực
chứng những lời dạy của ta như các ngươi khảo nghiệm sự chân giả
của vàng. Hãy chà xát vào đá, đập nó, nấu chảy nó. Đừng chấp
nhận lời dạy của ta chỉ vì sự tôn kính đối với ta. Chỉ chấp nhận
nó khi các ngươi thấy nó là sự thật" (trang 10). Lời dạy nầy
chứng tỏ Đức Phật đã đi trước khoa học hàng ngàn năm trong
phương pháp luận và tư duy.
"Vũ trụ
có một khởi thủy ban đầu hay không? Có cần đến một Đấng Sáng Tạo
hay không?" là những đề tài của Chương 2 và Chương 3. Vụ nổ lớn
nguyên thủy (Big Bang) gần 15 tỷ năm trước là nguồn gốc phát
sinh ra vũ trụ bao gồm vật chất, thời gian và không gian. Cơ
học lượng tử đã chứng minh sự không cần thiết của một Đấng Sáng
Tạo. Với một kết luận tương tự, luật Nhân Quả và duyên
sinh không chấp nhận một khởi điểm nguyên thủy với khái niệm nổ
"đùng" một cái vạn vật đều hiện hữu từ cái không có (trang 27).
Vạn vật xảy ra vì một nguyên nhân và sự tương thuộc. Theo luật
Nhân Quả và duyên sinh, Big Bang chỉ là một giai đoạn của một
chuỗi sự kiện vô thủy vô chung. Theo tác giả Trịnh Xuân Thuận,
cơ học lượng tử chỉ cho ta biết vũ trụ ở thời điểm 10-43
giây sau Big Bang - rất gần thời điểm zero nhưng chưa phải là
zero, lúc đó vũ trụ chỉ là một điểm cực nhỏ có kích thước cỡ 10-33
cm. Hai con số nầy là thời gian và chiều dài Planck và cũng là
giới hạn đo lường của vật lý hiện đại. Chưa ai có thể phỏng đoán
được sự kiện gì đã xảy ra "trước" thời điểm zero của Big Bang.
Khoa học không suy diễn mông lung những sự kiện chưa có thể kiểm
chứng được. Tuy nhiên, hiện nay có một số nhà vật lý đang nỗ lực
tạo dựng những lý thuyết "tiền Big Bang" (pre-Big Bang theories)
để tiên đoán cái gì "hiện hữu" trước đó.
Dù phủ
nhận hiện diện của một Đấng Sáng Tạo, tác giả Trịnh Xuân Thuận
vẫn còn băn khoăn trước sự hình thành của vũ trụ dựa vào những
điều kiện ban đầu được biểu hiện qua 15 hằng số (trang 39). Một
hằng số điển hình là vận tốc ánh sáng (299792 km/giây), sau đó
là hằng số vạn vật hấp dẫn G của Newton (6.67 x 10-11
Nm2/kg), khối lượng của electron (9.1091 x 10-31
kg), của proton, điện tích electron..... Những hằng số nầy bất
biến đối với thời gian và không gian. Nếu có người ngoài hành
tinh sống ở một thiên hà khác cũng sẽ đo được những hằng số nầy.
Những hằng số nầy đòi hỏi một sự chính xác kỳ diệu cho sự tồn
tại của vũ trụ chúng ta đang có hiện tại. Chẳng hạn nếu G nhỏ
hơn một chút thì vũ trụ chỉ là những đám khí hydrogen không tạo
được hành tinh, G lớn hơn một chút thì vũ trụ sẽ nhanh chóng co
lại ngay từ lúc sơ sinh. Ở cả hai trường hợp vũ trụ sẽ hoàn toàn
khác và con người sẽ không hiện hữu. Thậm chí, các con số nầy
cũng chi phối kích thước và khối lượng của các vật trong cuộc
sống hằng ngày. Chiều cao con người không thể vượt quá 2 m, núi
cao nhất trên quả điạ cầu không thể cao hơn 8 km, trái đất quay
với vận tốc vừa phải sao cho đúng với kích thước của mình đưa
đến một ngày địa cầu là 24 tiếng [5]. Với những con số kỳ diệu
nầy, vũ trụ được điều chỉnh một cách chính xác nên con người
hiện hữu và và từ đó ý thức (conciousness) được thành hình. Sự
điều chỉnh vô cùng chính xác ngay từ ban đầu của vũ trụ là một
việc có chủ ý hay một việc thuần ngẫu nhiên? Tác giả Trịnh Xuân
Thuận đề cập đến thuyết đa vũ trụ mà trong đó nhiều vũ trụ được
thành hình với một loạt hằng số khác nhau nhưng chỉ có vũ trụ
của chúng ta "thắng lớn" như trúng số độc đắc bằng một dải số
rất hài hòa. Tuy nhiên, cá nhân tác giả Trịnh Xuân Thuận một
cách gián tiếp không tin vào thuyết đa vũ trụ trong đó vũ trụ
chúng ta ngẫu nhiên thành hình và sự sống ngẫu nhiên xuất hiện
(trang 50). Cái "ngẫu nhiên" nầy đầy kịch tính nhiều gấp vạn lần
hơn cả phim ảnh Hollywood hay phim chưởng Hong Kong trong đó
người hùng sẽ xuất hiện đúng lúc để cứu người đẹp ra khỏi những
bàn tay thô bạo, hoặc như trong phim "Dr Zhivago" khi Zhivago
nhìn qua cửa sổ xe bus "ngẫu nhiên" nhìn thấy Lara đang đi trên
phố, chàng vội nhảy ra khỏi xe lao về hướng của nàng nhưng
lại quá xúc động "ngẫu nhiên" đột quỵ trên đường để rồi mãi mãi
không gặp được nàng.... Như vậy, nếu không phải ngẫu nhiên thì
vũ trụ và sự sống xuất hiện với một chủ ý. Nhưng tác giả Trịnh
Xuân Thuận nhanh chóng biện luận rằng vì đã có nhiều bằng cớ phủ
nhận sự hiện diện của một Đấng Sáng Tạo, "chủ ý" ở đây có nghĩa
là một "nguyên lý tổ chức" (principle of organization) - không
phải là Chúa được nhân cách hóa trong ý nghĩa cổ điển mà là
những định luật vật lý điều chỉnh vũ trụ một cách vi diệu ngay
từ lúc ban đầu. Tác giả Trịnh Xuân Thuận đã vô tình khoác lên
Đấng Sáng Tạo một màu áo khác!
Dựa
trên luật Nhân Quả, tác giả Ricard quả quyết rằng nếu không chấp
nhận một điểm khởi đầu thì cũng không có "nguyên lý tổ chức" bởi
nếu "nguyên lý tổ chức" là nguyên nhân và điều kiện ban đầu cho
sự hình thành của vũ trụ thì Big Bang sẽ xảy ra liên tục không
nghỉ. Điều nầy vô lý. Cái nhìn của Phật Giáo là không có điểm
khởi đầu, vô thủy vô chung và bản chất vô thường chi phối mọi
hiện tượng vì vậy đi tìm một "nguyên lý tổ chức" là việc không
cần thiết (trang 57-58). Đây là một lập luận để tránh né vấn đề
hay là một cách nhìn khác do bản chất định tính của Phật
Giáo trong đó mọi hiện tượng được nhìn bằng sự tương thuộc duyên
sinh?
Tất cả
do duyên sinh nên vô ngã. Vì luật Nhân Quả nên "cái nầy thuộc
vào cái kia, cái nầy sinh cái kia sinh, cái nầy diệt cái kia
diệt". Tác giả Ricard nói đến tính Không trong Phật Giáo qua sự
liên hệ lôgic giữa vô ngã, vô thường và duyên sinh. Đó là cái
nhìn Trung Đạo (Middle Way) trong Phật Giáo. Vô ngã và vô thường
đưa đến một hệ luận là mọi sự vật và hiện tượng không mang bản
chất độc lập, cố định, bất biến. Vì không có một bản chất cố
định tất cả đều là ảo giác hay chỉ là một biểu hiện nhất thời.
Cái nhìn Phật Giáo rất phù hợp với cơ học lương tử của thế
giới vi mô (microcosm). Nguyên lý bất định Heisenberg nói đến
tính bất định trong thế giới vi mô. Trong thế giới vi mô của
những hạt cực nhỏ như phân tử, nguyên tử, neutron,
proton, electron người ta không thể xác nhận vị trí và vận tốc
của hạt cùng một lúc. Vị trí của hạt sơ cấp chỉ có thể tính bằng
xác suất thống kê, chẳng hạn hạt xyz có xác suất xuất hiện ở
điểm A là 50 %, điểm B 20 % v.v... Phật Giáo cho đây là ảo
giác. Nhà vật lý Schrödinger khi đề cập đến bản chât của những
hạt sơ cấp từng nói "Không nên nhìn một hạt như là một thực
thể cố định mà hãy xem nó như là sự kiện nhất thời. Đôi khi
những sự kiện nầy liên kết với nhau tạo ra một ảo giác của thực
thể cố định" (trang 82). Nói theo kiểu văn chương "miệt
vườn" cho dễ hiểu là "thấy vậy mà không phải vậy". Sự chuyển
hoán từ một dạng thức nầy sang một dạng thức khác đã được kiểm
chứng trong những cái nhỏ nhất như electron hay những vật lớn
nhất như vũ trụ. Tính nhị nguyên giữa sóng và hạt đã được phát
hiện vào đầu thế kỷ 20. Sóng có thể là hạt (photon), và hạt (thí
dụ: electron) cũng có thể là sóng. Bản chất sóng/hạt tùy thuộc
vào cách thức đo đạt của người làm thí nghiệm. Điều nầy thực
chứng bản chất không cố định vô ngã của sự vật. Sự chuyển hoán
giữa các dạng năng lượng (như sự ma xát cơ năng biến thành nhiệt
năng, khối lượng biến thành năng lượng) cũng là một biểu hiện
của vô ngã vô thường.
Trong
thế giới vĩ mô (macrocosm), nguyên lý bất định Heisenberg mất ý
nghĩa. Khác với những vật cực nhỏ mà vị trí của nó dựa vào tính
xác suất ở nhiều nơi A, B, C.... khác nhau, một vật to như cái
bàn không thể lúc thì ở trong phòng học lúc thì tự động nhảy vào
nhà bếp hoặc "rong chơi" ngoài sân. Cái bàn trong phòng học sẽ
mãi mãi ở đúng vị trí của nó trừ khi ta phải xê dịch. Như vậy,
trong thế giới vật lý vĩ mô khác vi mô. Nhưng đâu là lằn ranh
phân biệt vi mô và vĩ mô, vật lý dường như không có câu trả lời
định lượng dứt khoát [6]. Theo tác giả Ricard, Phật Giáo quan
niệm thuộc tính vi mô lần lần phát triển thành thuộc tính vĩ mô
mà không cần lằn ranh phân biệt. Tính Không hay vô ngã vô thường
thành một định luật bao quát toàn diện không phân biệt vật lớn
vật nhỏ, vi mô hay vĩ mô.
Khái
niệm vô thường và khoa học được phân tích chi tiết hơn ở Chương
6. Vô thường hay là sự thay đổi liên tục được tác giả Ricard
phân biệt là "vô thường thô" (gross impermanence), như sự thay
đổi thời tiết, xâm thực của một ngọn núi, sự giãn nở của vũ trụ
hay sự biến đổi tình cảm, và "vô thường tinh" (subtle
impermanence) xảy ra trong một khoảnh khắc ngắn nhất (trang
101). Khi ta cảm nhận được sự biến đổi là việc không thể tránh
được và mang tính rộng khắp thì ta có thể hiểu là vũ trụ không
phải được tạo thành bằng những thực thể cố định, riêng biệt mà
là một hệ thống của những luồng tương tác liên tục không dứt của
trùng trùng duyên khởi. Từ thế giới vĩ mô như vũ trụ ta thử đi
vào thế giới vi mô của các hạt sơ cấp để tìm xem tính vô thường
vẫn còn hiện hữu hay không. Nguyên tử là đơn vị chung nhỏ nhất
của vật chất làm thành con người, hoa lá đến hạt bụi. Nguyên tử
có hạt nhân. Nếu kích thước một nguyên tử là bằng một sân vận
động thì hạt nhân có kích thước bằng hạt gạo nằm giữa sân. Hạt
nhân được cấu tạo bởi proton và neutron. Hai loại hạt sơ cấp nầy
lại được tạo thành bởi hạt quark. Cứ 3 quarks tạo thành một
proton hay neutron. Vật lý hiện đại cho ta biết quark là hạt sơ
cấp nhỏ nhất của nguyên tử, có nghĩa là cái nhỏ nhất trong cấu
trúc vạn vật. Ở điều kiện thích nghi quark có thể biến thành
dạng khác. Sự chuyển hoán nầy đưa đến sự biến đổi từ proton
thành neutron và ngược lại. Đây là một thí dụ của "vô thường
tinh" đã được tác giả Ricard đề cập. Rõ ràng là bản chất vô
thường quán xuyến từ quark cái nhỏ nhất trong vật chất đến cái
to nhất là vũ trụ.
Vì là
một người "vô thần ngoại đạo" vẫn thường quan niệm "chết là hết
chuyện" tôi rất kinh ngạc khi đọc đến Chương 10 và 11 đề cập đến
việc tái sinh nói về sự sống sau khi chết. Tôi truy cập
những trang web Phật Giáo tìm hiểu xem đây có phải là những tư
tưởng chính thống hay chỉ là những điều mê tín dị đoan. Trong
việc truy tìm nầy tôi phát hiện ra "Thuyết Tái Sinh" được xem
như là một hệ luận của Luân Hồi và rất được trân trọng trong lý
thuyết Phật Học. Suy nghĩ theo tư duy khoa học bỗng nhiên vô
hiệu. Tôi bỗng nhiên lúng túng. Tác giả Ricard đưa ra một trường
hợp tái sinh của một phụ nữ Ấn Độ tên là Shanti Devi và cũng
chứng kiến việc tái sinh của người thầy của mình là Khyentse
Rinpoche. Tiền kiếp của Shanti Devi qua đời vì bịnh hậu sản và
sau đó tái sinh vào một gia đình khác. Khi đứa bé gái được tái
sinh nầy lớn lên, cô bé lúc nào cũng nằng nặc muốn gặp lại người
chồng cũ. Người chồng quá sợ hãi không dám gặp trực tiếp nhưng
muốn biết sự tình như thế nào bèn nhờ người anh họ đến dò la hư
thực. Khi người anh họ vừa mới bước vào nhà thì cô bé la lên kêu
đúng tên họ lại còn bảo "Hồi xưa anh thường lợi dụng lúc
chồng tôi đi vắng lân la đến nhà ve vãn tôi!!". Ông anh họ nhà
chồng nghe xong gần té xỉu vì sự thật không thể nào chối cãi....
Một
trường hợp đúng thì cũng đủ chứng minh "Thuyết Tái Sinh" hiện
hữu. Tôi lúng túng vì không biết phải lý giải thế nào cho thích
hợp. Phật Giáo đưa ra khái niệm "thân trung ấm" [7] để diễn tả
sự sống sau khi chết trước khi linh hồn [8] đi tái sinh. Có lẽ
thân trung ấm không phải là đối tượng nghiên cứu của khoa học
nên khoa học chưa có câu trả lời. Như vậy, sự tái sinh là sự
truyền đạt (transmission) linh hồn hoặc ý thức trong quá trình
"tái tạo" và sự truyền đạt nầy có giống như việc truyền tín hiệu
từ chiếc điện thoại di động nầy đến chiếc khác?! Có thể xem linh
hồn như một loại sóng "điện từ" sinh học? Súc vật và con người
có linh hồn, còn thực vật thì sao? Tôi dùng con số cho đơn giản,
nếu vài thế kỷ trước đây tổng số loài người và những sinh linh
khác chỉ có vài tỉ bây giờ sinh sôi nẩy nở ra vài chục tỉ thì số
cung của linh hồn sẽ ít hơn số cầu. Có thực sự là linh hồn có
thể phân chia như sự sinh sôi của tế bào để tiếp ứng đủ cho số
cầu? Đó là chưa kể một số linh hồn được giác ngộ thoát khỏi cõi
ta bà vãng sinh tịnh độ. Tác giả Trịnh Xuân Thuận cũng có một
thắc mắc tương tự. Ông nghĩ phải có một nguồn ý thức vô hạn
trong vũ trụ để cung ứng và "nhập" vào hình hài của hàng chục tỉ
sinh linh. Tác giả Ricard trấn an với lời giải thích hơi nhập
nhằng rằng là nguồn ý thức hay linh hồn biết "tùy cơ ứng biến"
để gia giảm số lượng tương ứng với con số của hình hài (trang
199)! Dựa vào câu chuyện "khó tin nhưng có thật" của Shanti
Devi, linh hồn tái sinh sẽ trở lại bản thể của của tiền kiếp.
Hóa ra, linh hồn vừa là một "vật" bất biến vừa là một cái "ngã"
độc lập trong quá trình tái sinh liên tục. Sự suy diễn nầy đưa
đến một kết luận cực kỳ mâu thuẫn đối với bản chất vô thường vô
ngã của Phật Giáo.
Trong
toàn bộ cuộc đối thoại, tác giả Ricard và tác giả Trịnh Xuân
Thuận nói đến những điểm tương đồng thú vị nhưng tôi không thấy
hai tác giả đề cập đến những điểm tương phản. Dù có mang một tâm
tình lạc quan nhất, tôi không nghĩ hai lĩnh vực lại có thể có
những điểm tương đồng một cách hài hòa như hai bánh xe răng lúc
nào cũng ăn khớp với nhau. Tác giả Ricard xoay quanh tính Không,
duyên sinh, vô thường, vô ngã trong toàn quyển sách; nó cho
một cách nhận thức mới ở những chương đầu nhưng sự trùng lập làm
cách biện luận trở thành đơn điệu dễ làm cho người đọc cảm thấy
nhàm chán ở những chương sau. Thỉnh thoảng tác giả Ricard chấp
nhận hoặc phản bác có phần độc đoán giáo điều một hiện tượng hay
một luận điểm, không giải thích rành mạch hoặc chỉ trích dẫn một
vài câu nói của các triết gia chưa bao giờ được thực chứng. Tác
giả Trịnh Xuân Thuận đưa ra những vấn đề khoa học và đặt ra
những câu hỏi khúc mắc nhưng hầu như chấp nhận những ý kiến
của tác giả Ricard mà ít khi phản luận theo tư duy khoa học.
Một câu
hỏi thường được đặt ra "Phật Giáo là một tôn giáo, khoa học hay
triết học?". Sau khi đọc quyển sách nầy, tôi nhận thấy Phật Giáo
mang đặc tính của cả ba. Tác giả Ricard xem Phật Giáo là một
"khoa học thiền tu" (comtemplative science) thì cũng không phải
là ngoa ngữ nếu nhìn từ mục đích của khoa học và Phật Giáo là cả
hai cùng truy tìm bản chất mọi hiện tượng sự vật trong một tinh
thần tôn trọng sự thật khách quan. Phật Giáo vượt hơn hẳn khoa
học trên mặt đạo đức vì không những mang đến con người một tài
sản tư duy quí báu với một vũ trụ quan và nhân sinh quan rõ rệt,
lại còn dẫn dắt con người trong việc giác ngộ trên con đường
hướng thiện vô ngã vị tha.
Einstein từng nói "Khoa học không có tôn giáo thì què quặc,
tôn giáo không có khoa học thì mù lòa". Sự bổ sung giữa Phật
Giáo và khoa học trở nên cần thiết cho việc nâng cao cùng lúc tư
duy và đạo đức con người. Mặc dù đi trước khoa học hơn 2000 năm
Phật Giáo vẫn cần được phân tích bằng phương pháp khoa học hiện
đại để hội nhập vào thời đại mới vốn dĩ đa dạng. Ngược lại,
ngoài việc áp dụng của tư tưởng nhập thế của Phật Giáo khoa học
cần nghiên cứu những vấn đề đã được Phật Giáo tiên đoán cũng như
những khái niệm cốt lõi trong Phật Học. Vấn đề thành hình tâm
linh và thuyết tái sinh có thể là đề tài nghiên cứu khoa học thú
vị nếu không nó dễ trở nên những chuyện mê tín hoang đường được
thêu dệt cho nhiều mục đích vụ lợi khác nhau.
Những
lời phát biểu của tác giả Ricard về Phật Giáo trong quyển sách
chỉ ở trình độ dẫn nhập. Tôi cảm thấy có nhu cầu tìm hiểu sâu xa
hơn về sự tương đồng và tương dị giữa Phật Giáo và khoa học. Đi
tìm thư tịch về Phật Giáo ở một ngôi chùa địa phương làm tôi
thất vọng. Những bài trên những trang web Phật Giáo mang nhiều
tính tản mạn và ít tính thuyết phục. Sự thiếu sót thư tịch và
tài liệu tham khảo dẫn đến việc khập khiễng trong kiến thức. Mặt
khác, tại hải ngọai ở những nơi có nhiều người Việt sinh sống,
chùa chiền lớn nhỏ được xây cất tùy tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu
tín ngưỡng của cư dân. Sự phát triển không cân bằng giữa kiến
thức tu tập và vật chất dễ đưa đến sự nhầm lẫn giữa "đạo pháp"
và "mê tín" với một hệ quả là sự mê tín sẽ có nguy cơ tồn tại
mãi mãi như một căn bệnh trầm kha di truyền.
Bản
chất của vô thường là mọi vật đều biến đổi, với một tác nhân
duyên khởi mọi vật có thể tiến hóa hay thoái hóa. Phật Giáo
cũng không nằm ngoài những qui luật mà tự thân nó lập nên. Dù
tác giả Ricard có lạc quan cho rằng cái nhìn Trung Đạo sẽ giúp
các nhà khoa học lý giải được những nghịch lý, nhưng cuộc đối
thoại giữa Phật Giáo và khoa học chỉ có thể tiếp tục khi nào có
sự phát triển song song của hai lĩnh vực. Khoa học là đứa con
sanh sau đẻ muộn nhưng khoa học có tác động sâu rộng đến đời
sống tinh thần và vật chất của loài người vì nó đã biết tìm và
vận dụng một cách hiệu quả những qui luật tự nhiên vào cuộc sống
đời thường. Phật Giáo đi trước hơn 2000 năm nhưng sẽ trở nên vô
nghĩa nếu không có những phát triển mới trên nền tảng cũ. Nền
tảng cũ dù trân quí bao nhiêu thì cùng sẽ mai một như một ao tù
tư tưởng nếu vắng bóng những bước đột phá cho tương lai. Phật
Giáo là một hệ thống tư tưởng duy lý. Đức Phật không phải là
Thượng Đế toàn năng. Phật Giáo vì vậy cần phải được tiếp cận với
một thái độ phê phán có khoa học như Đức Phật đã từng dạy
"Đừng chấp nhận lời dạy của ta chỉ vì sự tôn kính đối với ta.
Chỉ chấp nhận nó khi các ngươi thấy nó là sự thật". Ngoài
những việc tu tập trong quan hệ thầy trò, Phật Giáo cần phải
có nhiều cuộc hội thảo quốc tế bao gồm mọi tông phái giống như
các hội thảo khoa học trong đó mọi người đều bình đẳng trình
bày, thảo luận và tranh cãi để nâng cao trình độ hiểu biết Phật
Học.
Phật Giáo là "khoa học của tâm hồn" và cũng là một kho tàng tri
thức của nhân loại tích tụ hơn 2500 năm nhưng cho đến bây giờ ở
thế kỷ 21 vẫn chưa được phát huy và triển khai đúng mức.
15
December 2005
TVT
*
"The Quantum and the Lotus" (by Matthieu Ricard & Trinh Xuan
Thuan), Three Rivers Press, New York 2001.
Ghi
Chú
1.
R. P.
Crease, Physics World, 18, pp 19, October 2005
2.
http://chimviet.free.fr/20/khc0050.htm
3.
Trong thời
gian Nhật Bản xâm chiếm Trung Quốc ở chiến tranh thế giới thứ
2, Ishii Shiro thừa lệnh Nhật Hoàng Hirohito thành lập Đơn Vị
731 tại Mãn Châu để làm thí nghiệm nhân thể trên các tù nhân
Trung Quốc và Đồng Minh.
4.
Howard
Florey sinh trưởng tại Adelaide (South Australia). Ông tốt
nghiệp y khoa tại Đại Học Adelaide và đoạt giải Nobel Y Khoa
(1945) cho công trình nghiên cứu penicillin.
5.
Trinh Xuan
Thuan, "Giai điệu bí ẩn và con người đã tạo ra vũ trụ" (người
dịch Phạm Văn Thiều), NXB Khoa Học và Kỹ Thuật, Hà Nội 2000
6.
M. Arndt, K.
Hornberger and A. Zeilinger, Physics World, 18, pp 35,
March 2005
7.
www.thuvienhoasen.org
8.
Trong sách
hai tác giả dùng từ "ý thức" (conciousness) để ám chỉ "linh hồn"
(soul) có lẽ để làm giảm màu sắc huyền bí.
Ý kiến Phê bình xin gửi về
:
truongvantan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |