|
Dẫn nhập
Những
cuộc cách mạng kỹ nghệ như những ngọn sóng thần. Khi còn ở ngoài
khơi, nó âm thầm băng trùng dương với bước sóng vừa cao vừa dài
không dễ phát hiện. Chỉ khi đến gần bờ người ta mới thật sự nhận
ra sức mạnh long trời lở đất của nó. Công nghệ nano là ngọn sóng
thần kỹ nghệ đương đại mà những ứng dụng của nó đang dần dần
xuất hiện, bùng nổ và sẽ tạo ra sức va đập mãnh liệt vào cuộc
sống của xã hội loài người. Đã có nhiều chuyên gia kinh tế dự
đoán rằng những ảnh hưởng và biến chuyển xã hội gây ra bởi cách
mạng công nghệ nano sẽ làm cho cuộc cách mạng công nghệ tin học
xảy ra trong vòng ba thập niên vừa qua chỉ như một làn gió
thoảng.
Dù sao
đây cũng là một lời dự đoán kinh tế đặt trên nhiều giả thuyết.
Để có một cảm giác thực sự về công nghệ nano ta hãy nhìn vào nền
tảng khoa học và thực chất của nó. Nói một cách rõ ràng hơn, cốt
lõi của nền công nghệ nano xoay quanh các phương thức chế biến
những vật liệu nano, khảo sát hóa tính, lý tính, cơ tính, quang
tính, điện tính, từ tính và tìm kiếm những ứng dụng cho các loại
vật liệu này. Chúng là các loại hạt nano (nanoparticles) hay cấu
trúc nano (nanostructure) với nhiều mô dạng ở thứ nguyên từ 1
đến 100 nanomét (nm). Một phân tử có kích thước khoảng 1 nm, nên
vật liệu hay cấu trúc nano là những tập hợp từ vài phân tử đến
100 phân tử. Sự hiểu biết về nguyên tử hay các phân tử đơn giản
ở mức độ nhỏ hơn 1 nm đã được hoàn bị hơn 100 năm nay, giúp con
người thông suốt những thuộc tính cơ bản của vật chất và trở
thành các bộ môn trong khoa học tự nhiên nằm trong các giáo
trình của hóa học tổng quát, hóa học lượng tử và cơ học lượng
tử. Những đặc tính của vật liệu có kích thước lớn hơn 100 nm (=
0,1 micromét, µm) thuộc phạm vi micromét, lớn hơn nữa tiến đến
trung mô (mesoscale: mm, cm) rồi đến vĩ mô (macroscale), cũng đã
được hình thành một cách có hệ thống trong các bộ môn như vật lý
chất rắn và cơ học Newton. Nằm giữa hai thái cực của thế giới vi
mô nguyên tử, phân tử và thế giới vĩ mô của vật liệu trong trạng
thái cụm, mảng, khối; vật liệu và cấu trúc nano là một vùng sa
mù mờ ảo. Trên mặt vật lý lý thuyết, nó là một vùng xám giao
thoa giữa cơ học lượng tử và cơ học Newton, giữa cái bất định và
tất định.
Từ khi
khoa học hiện đại xuất hiện, có phải chăng vật chất với kích cỡ
1 đến 100 nm, hay đặc thù hơn từ 1 đến 10 nm, một cách vô tình
hay cố ý đã bị bỏ quên? Sự thật là cho đến 20 năm gần đây các
nhà khoa học không có một phương tiện hữu hiệu nào, chẳng hạn
như kính hiển vi quét đường hầm (scanning tunelling
microscope), cho việc thao tác, khảo sát và tìm hiểu các vật
liệu nano hơn là lỗi lầm của một sự lãng quên. Thế rồi, như để
giải tỏa cái ức chế trăm năm, nền công nghệ nano bùng phát
như vũ bão. Hàng loạt thuật ngữ khoa học với tiền tố "nano" xuất
hiện: hạt nano, cấu trúc nano, chùm nano (nanocluster), tinh thể
nano (nanocrystal), ống nano (nanotube), pha nano
(nanophase)... Các nhà nghiên cứu đủ mọi ngành nghề từ y học đến
vật lý học, từ hóa học đến sinh học bị thu hút vào dòng xoáy
nano. Ở các cuộc hội thảo khoa học, trong các bài báo cáo, những
cuộc thảo luận không ai không thốt ra thuật ngữ thời thượng này.
Như kho
tàng Ali Baba trong chuyện cổ tích Ả rập, khi cánh cửa kho tàng
vật liệu nano đã mở các nhà nghiên cứu choá mắt đến kinh ngạc
trước những đặc tính muôn hình vạn trạng hoàn toàn bị chi
phối bởi độ to nhỏ ở kích thước nano. Đây là một điểm cực kỳ
quan trọng trong khoa học và công nghệ nano. Nói chính xác hơn,
khi một vật liệu được thu nhỏ cho đến thứ nguyên nano, tất cả
những tính chất như lý tính, hóa tính, cơ tính, quang tính, điện
tính, từ tính ở trạng thái vĩ mô (mảng, khối) hoàn toàn bị thay
đổi. Khi ta cắt một mảnh nhôm thành từng miếng nhỏ, thậm chí đến
mức micromét, nhôm vẫn là nhôm. Nhưng khi ta nghiền đến độ nhỏ
vài chục nanomét, thì miếng nhôm hiền lành kia sẽ biến thành
chất nổ. Hạt nano nhôm là chất xúc tác cho nhiên liệu tên
lửa. Khi trở thành hạt nano, vàng sẽ còn không phát ra màu vàng
quyến rũ "cố hữu" mà là những màu sắc xanh đỏ khác nhau tùy vào
kích cỡ.
Tương
tự như hạt nano, khi bề mặt vật liệu có mô dạng hay cấu trúc ở
thứ nguyên nano, diện tích bề mặt không những gia tăng lên hàng
triệu hay hàng tỷ lần so với bề mặt không mô dạng, mà còn tạo ra
những đặc tính với nhiều thú vị bất ngờ. Bề mặt với cấu trúc
nano hiện hữu xung quanh ta ở các loài thực vật, động vật. Ngỡ
rằng nó bình thường nên ta chỉ xem như một chuyện đương nhiên.
Hãy tưởng tượng ta đang ngồi trong phòng học, vừa thưởng thức
những bài Đường thi, vừa nhâm nhi ly cà phê nóng Trung Nguyên,
thỉnh thoảng ta nhìn ra ngoài vườn hoa trước cái hồ sen nhỏ
tìm... ý thơ. Dưới tia nắng xuân ấm áp, những cánh bướm đủ màu
sắc bay thơ thẩn tìm hoa hút nhụy. Một làn gió nhẹ thổi qua làm
gợn sóng mặt hồ, lùa những hạt nước tinh khôi lăn tròn trên lá
sen, lung linh trong ánh nắng. Ý thơ sắp hình thành thì bỗng
nhiên một chú thạch sùng xuất hiện trên trần nhà, lừng lững tiến
đến một con ruồi đậu nhầm chỗ. Nhanh như chớp, như con cọp vồ
mồi chú thạch sùng xơi tái tại chỗ con ruồi xấu số! Cái cảnh
sinh tồn cá lớn nuốt cá bé làm ta cụt hứng, vụt mất ý thơ, nhưng
thay vào đó nếu biết biến cái lãng mạn thi văn thành lãng
mạn khoa học, đặt toàn cảnh trong tâm tình hòa đồng với đất trời
ta sẽ có nhiều câu hỏi: tại sao cánh bướm lại mang nhiều màu
sắc; tại sao nước không bám như "giọt mưa trên lá" mà lại lăn
tròn trên lá sen và tại sao thằn lằn có thể sinh hoạt thoải mái
ở tư thế lộn đầu mà không rớt xuống đất? Câu trả lời chung cho
những câu hỏi nầy là: cánh bướm, bề mặt lá sen và bàn chân thạch
sùng có một cấu trúc nano tạo ra những hiệu ứng không ngờ nhưng
hoàn toàn phù hợp với các định luật vật lý.
Bài
viết này sẽ nói về nguyên do lực bám của bàn chân thạch sùng và
tiềm năng ứng dụng của "mặt dính nano" nhân tạo.
Cấu trúc của bàn chân thạch sùng
Ai cũng
biết trong chuyện cổ tích nhân gian, tiền thân con thằn lằn là
một phú hộ tên Thạch Sùng. Lúc chết đi vì tiếc của nên khi biến
thành thằn lằn, Thạch Sùng vẫn não nuột tặc lưỡi suốt đêm. Tuy
nhiên, chuyện cổ tích của ta không giải thích vì sao thạch
sùng có thể đi lộn đầu. Ở thế giới động vật, thằn lằn có biệt
danh là "tay leo trèo siêu hạng", nhưng trong cuộc sống hằng
ngày người ta cũng không màng thắc mắc. Có lẽ vì ở những xứ
nhiệt đới như Việt Nam, thằn lằn tuy đông đúc, nhưng sinh hoạt
về đêm của các cô các chú thạch sùng rất nhẹ nhàng ít gây sự chú
ý, trừ những lúc các cô chú ngang nhiên phóng uế, cái "sản phẩm"
vô cùng hôi hám kia rớt tọt ngay trước mặt hay không may dính
vào người, rất ít khi ta chịu khó ngẩng đầu nhìn lên để quan sát
và phân tích khả năng đi lại đặc biệt này.
Tại Hy
Lạp hơn hai ngàn năm trước, nhà triết học Aristotle đã từng băn
khoăn khi ông nhìn thấy khả năng con thằn lằn đi lại trên trần
nhà hoặc cắm đầu chạy xuống rồi vòng lại cắm cổ chạy lên dọc
theo một bức tường thẳng đứng một cách ung dung tự tại. Chưa kể
cái tài vừa chạy vừa rẽ trái rẽ phải cơ hồ không cần giảm
tốc. Cũng có lúc thạch sùng đi đứng từ tốn với cái dáng yểu điệu
thục nữ dẹo tới dẹo lui tưởng chừng như muốn rớt xuống đất.
Dường như không có bề mặt nào có thể ngăn cản những bước chân đi
của "ông leo trèo siêu hạng". Thằn lằn có thể đi trên hầu hết bề
mặt của tất cả mọi vật liệu, từ gỗ đá đến thủy tinh, từ mặt
phẳng đến mặt lồi lõm, từ mặt đầy bụi đến sạch bóng, ướt đến
khô, mềm đến cứng. Có phải chăng bàn chân thằn lằn có một chất
keo "toàn năng" lúc dính lúc không cho sinh vật này khả năng đi
lại đặc biệt mà không chịu ảnh hưởng lực hút của quả đất?
Lật bàn
chân của con thằn lằn ta thấy những lá mỏng vắt ngang (Hình 1B).
Dưới kính hiển vi điện tử, khi phóng đại vài trăm nghìn lần,
người ta không tìm thấy chất keo gì đặc biệt cả. Nhưng người ta
thấy những lá mỏng của bàn chân thằn lằn có một cấu trúc rất đặc
biệt giống như bàn chải đánh răng với những cụm lông được sắp
xếp với một thứ tự ngang dọc rất chính xác. Ở một độ phóng đại
to hơn, người ta thấy ở đầu mỗi sợi lông tua ra những sợi
lông con có hình dạng như cây chổi quét nhà (Hình 1D). Bốn bàn
chân có tất cả 6,5 triệu lông con. Chiều dài của sợi lông con
này là 200 nm và đường kính là 10 - 15 nm (nhỏ hơn sợi tóc 7000
lần). Đây là một cấu trúc nano thật hoàn bị của thiên nhiên được
tạo thành từ một loại protein gọi là keratin. Keratin cũng là
thành phần chính trong vảy rắn, mu rùa, mỏ chim.

Hình 1:
(A) Con thằn lằn Tokay (gekko gecko); (B)
những lá mỏng vắt ngang bàn chân nhìn từ dưới lên; (C) lá mỏng
là những cụm lông có thứ tự hình bàn chải đánh răng; (D) sợi
lông chính tua ra những sợi lông con có hình dạng như cây chổi
quét nhà; (E) những sợi lông con và (F) cấu trúc sợi nano nhân
tạo [1]
Lực hút van der Waals
Mặc dù
cấu tạo bàn chân của các loại thằn lằn được biết rất rõ trong
sinh học và động vật học, nhưng cơ chế bám dính vẫn còn khó nắm
bắt. Gần 200 năm qua, đã có 7 cơ chế được đề nghị: bám dính do
keo, sức hút (suction), ma xát, cài vào nhau
(interlocking), tĩnh điện, lực mao quản và lực hút van der Waals
[1]. Năm đề nghị đầu tiên không có sức thuyết phục vì bàn chân
không tiết ra chất keo; cấu tạo vi mô không cho thấy dấu hiệu
nào tạo ra sức hút hay lực ma xát; ngón chân không có móc nên
không thể cài vào mặt nền; có thể đi trên các loại mặt bằng có
hay không có tĩnh điện. Như vậy, hai khả năng còn lại là lực mao
quản và lực hút van der Waals.
Tiến sĩ
Kellar Autumn (Lewis & Clark College, Mỹ) giải mã được bài toán
thiên nhiên hiểm hóc này. Trong một kỳ nghỉ với gia đình tại
Hawaii, trong phòng một khách sạn ông bỗng nhiên thấy một con
nhện thật to xuất hiện trên trần nhà, khi ông loay hoay tìm cách
xử lý vị khách không mời này thì một chú thạch sùng con lặng lẽ
đi tới, hai sinh vật này cùng lộn đầu giao chiến trên trần nhà.
Cuối cùng, thạch sùng loại nhện ra khỏi vòng chiến, con nhện rớt
xuống đất và lủi đi mất... Chiến thắng của thạch sùng là nhờ
có bốn bàn chân "đứng tấn" vững vàng. Là một người có học vị về
toán và sinh học, nhìn tính bám dính của bàn chân thạch sùng
trong trận giao tranh ông chia sẻ nổi băn khoăn của Aristotle
hai ngàn năm trước. Khi trở lại phòng nghiên cứu, ông bắt đầu
tìm hiểu về nguốc gốc tính bám dính của các ngón chân thằn lằn.
Sau một loạt thí nghiệm dùng các loại mặt thích nước
(hydrophilic) và ghét nước (hydrophobic) [2], ông và các cộng sự
viên loại trừ khả năng lực mao quản và xác nhận rằng sự bám dính
của bàn chân thằn lằn là do sức hút van der Waals. Năm 2000,
Autumn tuyên bố kết quả nghiên cứu trong một bài báo với tựa đề
"Adhesive force of a single gecko foot-hair" (Lực dính
của một sợi lông bàn chân con thằn lằn) đăng trên tạp chí khoa
học nổi tiếng Nature [3]. Bài báo lập tức mở màn cho nhiều đề án
nghiên cứu tương tự liên nghành vật lý, hóa học, tự động học,
robot học, sinh học, động vật học trong các viện nghiên cứu và
đại học trên toàn thế giới. Qua bài báo này lần đầu tiên ông và
các cộng sự viên đã phá tan những luận điểm mơ hồ về cơ chế bám
dính của bàn chân thằn lằn, xác nhận và chứng minh bằng thực
nghiệm sự bám dính là do lực hút van der Waals [1]. Tuy nhiên,
giáo sư Andre Geim (University of Manchester, Anh) vẫn tin rằng
ở thứ nguyên nano lực mao quản cũng có dự phần trong cơ chế bám
dính.
Lực hút
van der Waals là một lực liên phân tử (intermolecular force).
Trong các phân tử, điện tử thường không phân tán đồng đều gây ra
sự phân cực điện. Nếu ta hình dung phân tử như một hạt gạo thì
một đầu mang điện tích dương, đầu kia điện tích âm (như cục nam
châm có hai đầu nam và bắc). Trong tập hợp nhiều phân tử, đầu
dương của phân tử này sẽ hút đầu âm của phân tử kế cận. Đó là
lực van der Waals. Nó chi phối cấu trúc tinh thể, độ nóng chảy,
độ bay hơi và sự ngưng tụ của nhiều hợp chất hóa học. Trong cuộc
sống hằng ngày, ta ít thấy những thí dụ thể hiện lực hút van der
Waals vì lực rất yếu. Tuy nhiên, nếu ta ép hai mảnh thủy tinh có
mặt rất phẳng vào nhau, ta cần một sức để cạy rời hai mảnh thủy
tinh. Sự hút vào nhau của hai mảnh thủy tinh là biểu hiện của
lực van der Waals. Nếu hai mảnh thủy tinh thật phẳng thì mặt
tiếp xúc càng to, lực càng mạnh hơn. Nhưng trên thực tế chúng ta
không có một mặt phẳng nào "cực phẳng" ở một mức độ lý tưởng.
Theo lý thuyết, lực van der Waals tỷ lệ nghịch với khoảng cách
theo lũy thừa 7. Đây là lực có tầm cực ngắn (short range). Nói
một cách dễ hiểu hơn, sự gia giảm của lực hút cực kỳ nhạy với
khoảng cách, nếu ta đặt hai mặt phẳng xa gấp đôi thì lực giảm đi
128 lần (= 2x2x2x2x2x2x2). Sự lồi lõm ở một vài micromét (100
lần nhỏ hơn sợi tóc) tạo ra kẽ hở giữa hai mặt phẳng cũng đủ làm
triệt tiêu lực van der Waals. Đó là lý do tại sao ta không nhìn
thấy lực van der Waals trong sinh hoạt hằng ngày.
Tạo ra
một mặt siêu phẳng là một việc bất khả thi. Nhưng nếu bề mặt
được cải biến thành một bề mặt có cấu trúc sợi nano, diện tích
tiếp xúc sẽ gia tăng hàng triệu hàng tỷ lần. Lực hút van der
Waals cũng tăng theo diện tích tiếp xúc đưa ra khái niệm mới về
sự bám dính: sự bám dính khô (dry adhesion). Ta hãy nhìn lại bàn
chân thạch sùng. Hình 2 cho thấy những sợi lông con với đường
kính ở thứ nguyên nano (10 - 15 nm) bám sát vào bề mặt cực kỳ
hiệu quả. Kích thước 10 - 15 nm là chiều dày của 10 đến 15 phân
tử. Cái "bám sát cực kỳ hiệu quả" hàm ý một hiện tượng chỉ xảy
ra ở thế giới phân tử. Nhưng "sát" đến bao nhiêu thì mới thấy sự
hiệu quả? Người ta biết lực hút van der Waals chỉ xuất hiện giữa
hai vật thể khi được đặt "sát" ở khoảng cách nanomét. Trong
trường hợp bàn chân thằn lằn, để tạo một lực bám hữu hiệu khoảng
cách giữa các sợi lông con và mặt nền nhiều nhất là 2 nm, tương
đương với kích thước của 2 phân tử. Trên 2 nm, lực van der
Waals biến mất.

Hình 2:
Cấu trúc với nhiều
thứ bậc của sợi lông bàn chân thằn lằn (xem thêm Hình 1D, E).
Sợi lông con rất mềm nên có thể bám sát vào mặt nền lồi lõm rất
hiệu quả [4].
Theo sự
tính toán của Autumn, nếu toàn thể 6,5 triệu sợi lông con trên
bốn bàn chân bám vào mặt nền cùng một lúc thì thằn lằn có thể
phình ra to bằng một chú lợn nặng 120 kg nhưng vẫn còn dính trên
trần nhà! Bốn bàn chân tí hon chịu một sức nặng 120 kg phải gọi
là "siêu dính". Nếu một bàn chân có diện tích 1 cm2
thì lực dính trung bình là 30 kg/cm2. Mặc dù lực van
der Waals yếu hơn các lực khác trong liên kết hóa học (chemical
bonding) như nối cộng hóa trị, nối ion, nhưng vì bề mặt tiếp
xúc của cấu trúc nano trở nên cực lớn nên lực hút van
der Waals tạo một sức chịu đáng kể. Trên thực tế toàn thể các
sợi lông con không thể bám vào mặt nền cùng một lúc. Theo kết
quả đo lường của Autumn, hai bàn chân trước của thằn lằn có thể
chịu một sức nặng gần 2 kg [3]. Một cách chính xác hơn, diện
tích bàn chân là 1 cm2 nên lực dính do lực van der
Waals là 1 kg/cm2. Kinh nghiệm thường ngày cho biết
nếu ta cắt 1 cm2 băng keo văn phòng hay thậm chí dùng
keo "super glue" gia dụng, các loại keo này không thể đạt được
sức chịu 1 kg. Mặc dù con số này nhỏ hơn kết quả tính toán 30
lần (30 kg/cm2), lực dính một ngón chân cũng đủ sức
treo thằn lằn lơ lửng giữa trần nhà. Ngoài ra, động tác giở chân
lên đặt chân xuống của thằn lằn hay chu kỳ từ bám dính đến tách
rời (không dính) xảy ra rất nhanh, 20 lần trong một
giây. Nếu toàn thể các sợi lông con bàn chân bám vào mặt nền
cùng lúc, e rằng bàn chân thạch sùng sẽ như đôi ủng dính bùn,
làm sao có thể xoay sở để săn mồi, rượt đuổi? Phải nói cấu trúc
của bàn chân thạch sùng là một sản phẩm tuyệt tác của tạo
hóa được thiết kế để điều hòa sự bám dính và những động tác cơ
học đến mức tối ưu.
Mặt dính nano nhân tạo
Sự khám
phá và kết quả nghiên cứu của Autumn không chỉ thỏa mãn sự tò mò
sinh học nhưng còn đặt ra một vấn đề thú vị cho công nghệ tự
động điều khiển học. Bài báo trên tờ Nature của Autumn và các
cộng sự viên đã được trích dẫn rất nhiều lần trong giới nghiên
cứu về khoa học bám dính (adhesion science) vì đây là một khái
niệm dính khô hoàn toàn mới lạ, mang tính đột phá và đưa đến khả
năng chế tạo các công cụ dính không keo, các dụng cụ "thông
minh" lúc dính lúc không tùy vào tác động. Sự bám dính khô do
lực hút van der Waals khác bám dính ướt (wet adhesion) dùng chất
keo thông thường. Bám dính ướt có liên quan đến sự tẩm ướt
(wettability), sức căng bề mặt (surface tension) và năng lượng
bề mặt của vật chất. Những vấn đề này ngoài phạm vi của bài viết
nhưng đã được đề cập tỉ mỉ trong các sách giáo khoa.
Đặc
tính của bám dính khô vượt ra ngoài những chi phối của định
luật về "khoa hoc bề mặt" (surface science). Nó chỉ tùy thuộc
vào hình dạng, kích thước và thiết kế của cấu trúc bề mặt nano
mà trong trường hợp của bàn chân thằn lằn là hàng triệu những
sợi lông con keratin để đạt đến diện tích tiếp xúc cực đại. Điều
này có nghĩa là sợi nano của mặt dính nhân tạo có thể chế tạo từ
bất cứ vật liệu nào miễn sao cho bề mặt tiếp xúc đạt đến một trị
số lớn nhất. Năm 2002, Autumn cùng các đồng nghiệp là giáo sư
Ron Fearing và Robert Full (University of California, Berkeley,
Mỹ) tạo ra một bề mặt với các loại sợi polyester hay silicon.
Polyester là vật liệu polymer dùng làm vải vóc hoặc các loại
chai nhựa. Trên một diện tích 1 cm2, Autumn, Fearing
và Full tạo một bề mặt với 200 triệu sợi nano polyester có đường
kính 700 nm (nhỏ hơn sợi tóc 100 lần) (Hình 1F). Mặc dù to hơn
sợi lông con của bàn chân thằn lằn (10 -15 nm), cấu trúc nầy vẫn
tạo ra một lực bám dính là 6 kg/cm2 nếu tất cả 200
triệu sợi đồng thời tác động lên mặt nền.
Năm 2003, Geim và các cộng sự viên chế tạo mặt
dính với sợi polyimide (thương hiệu: Kapton) (Hình 3) [5]. Sợi
có chiều dài 200 µm và đường kính 0,2 µm (= 200 nm). Ông dồn 100
triệu sợi trên một diện tích 1 cm2. Mặt dính này có
thể chịu một sức là 1 kg. Sau đó, ông dùng 0,5 cm2
mặt dính để treo lơ lửng đồ chơi "Spiderman" nặng 40 g vào mặt
thủy tinh (Hình 4). Tiếc rằng sau năm lần bám dính/ tách rời,
mặt dính mất hiệu năng. Geim cho rằng nguyên nhân chính là do
tính thích nước của polyimide. Polyimide hút nước trên mặt thủy
tính làm giảm tính "bám sát" trên bề mặt và sau đó các sợi
polyimide lại quyện vào nhau như mái tóc bị thấm nước làm mất đi
bản chất nano của mặt dính. Sự thất bại của tính bền khiến Geim
phải kiểm điểm lại lý tính của keratin làm nên các sợi lông bàn
chân thằn lằn và ông nhận ra rằng keratin là một vật liệu sinh
học ghét nước. Ông cũng nhìn nhận mặt dính của Autumn, Full và
Fearing bền hơn vì polyester và silicon là các vật liệu ghét
nước giống như keratin. Vì vậy, mặc dù trong việc thiết kế mặt
dính không tùy vào bản chất vật liệu, nhưng để mặt dính có tính
bền lâu dài hóa tính và lý tính của vật liệu phải tương tự với
keratin.

Hình 3:
Mặt dính nhân tạo polyimide của Geim. Sợi có chiều dài 200 µm
và đường kính 0,2 µm (= 200 nm) [5].
Hình 4: Spiderman (người nhện)
nặng 40 g bám vào mặt thủy tinh với mặt dính nhân
tạo polyimide của Geim [5]
Gần đây, ống than nano cũng là một vật liệu thông dụng để tạo
nên mặt dính không keo. Trong quá trình chế tạo ống than nano
trong lò nung cao nhiệt (~1000
°C),
các ống than có thể "mọc" thẳng đứng như một thân cây dài (đường
kính ống khoảng 50 - 100 nm) dày đặt nhưng một khu rừng nhiệt
đới (tương tự như Hình 1F). Nhóm của giáo sư Liming Dai
(University of Dalton, Mỹ) đã tạo được bề mặt ống than nano và 1
cm2 của bề mặt nầy có thể chịu một sức kéo gần 3 kg
(3 kg/cm2) vượt hơn khả năng của bàn chân thằn lằn là
1 kg/cm2 [6].
Khác
với các loại băng keo văn phòng, vì cấu trúc sợi nano của bàn
chân thằn lằn khi hai mặt bàn chân chập vào nhau, hiện tượng bám
dính không xảy ra. Lý do là vì không có bề mặt tiếp xúc nên các
sợi nano không bám được vào nhau. Điều này xem chừng như là một
nghịch lý vì bàn chân thằn lằn vừa có thể bám, vừa không thể
bám. Theo thường thức nếu không bảo quản kỷ lưỡng, băng keo có
thể bám bụi làm giảm hiệu năng. Nhưng bàn chân thằn lằn thì
không. Điều này có thể giải thích bằng hai lý do. Một mặt, chất
keratin làm ra sợi lông bàn chân thằn lằn là một vật liệu sinh
học ghét nước. Mặt khác, các sợi nano làm nên cấu trúc nano
biến toàn thể bàn chân thành mặt ghét nước giống như lá sen. Đây
là hiệu ứng lá sen (lotus effect). "Nước đổ lá sen (môn)" hay
"Nước đổ đầu vịt" là những thành ngữ quen thuộc nói tới sự không
biết nghe lời, phục thiện của những cái đầu bướng bĩnh hay những
chế độ có các ông quan mặt dày. Nhưng "lá sen" hay "đầu vịt" lại
là những cấu trúc nano đặc biệt cho việc "tự làm sạch"
(self-cleaning) cho các loại bề mặt trong đó có bàn chân thạch
sùng. Hiệu ứng này giúp thằn lằn bám dính/tách rời (attachment/
detachment) hằng triệu lần trong suốt cuộc đời của mình mà bàn
chân không mảy may bám chút bụi trần lúc nào cũng nguyên vẹn như
vừa được "bóc tem"! Hiệu ứng lá sen sẽ được đề cập trong một bài
viết khác.
Bàn
chân "lông lá" không phải chỉ có ở thằn lằn. Sau bài báo cáo
khoa học đăng trên Nature của Autumn và cộng sự viên [3], bàn
chân của các loại côn trùng có khả năng leo tường, bám trần như
bọ hung, ruồi, nhện... và người "anh em" với thằn lằn là kỳ
nhông được khám nghiệm dưới góc nhìn của vật lý nano. Dưới kính
hiển vi, người ta nhận diện những sợi lông ở kích thước nano dù
khác nhau về hình dạng, mật độ tùy theo loại côn trùng, động
vật, nhưng cơ chế bám dính chủ yếu vẫn là lực van der Waals. Mật
độ các sợi lông bàn chân dày đặc ở những động vật to như thằn
lằn, kỳ nhông nhưng thưa hơn ở côn trùng. Chẳng qua, thiết kế
của thiên nhiên lúc nào cũng tối ưu và hợp lý, không thừa không
thiếu. Mật độ các sợi lông gia tăng theo trọng lượng vật để tạo
một sức chịu tương đương.
Nhằm
tạo ra sản phẩm có những ứng dụng thực tiễn cho chân robot
hay các dụng cụ dính không keo, ngoài việc mô phỏng cấu trúc
nano phức tạp các nhà khoa học quan sát và phân tích từng động
tác và cơ chế bám dính/tách rời của bàn chân thằn lằn một
cách tỉ mỉ. Với các loại keo gia dụng (pressure-sensitive
adhesive), ta cần một áp lực để ép sát hai bề mặt để gia tăng
lực dính. Thằn lằn không dùng sức để làm việc này. Chúng chỉ đặt
nhẹ bàn chân lên rồi khẻ kéo các ngón chân song song với mặt nền
để cho các sợi lông con dễ tiếp giáp lên bề mặt. Lực hút van der
Waals sẽ tác động vào bàn chân. Khi muốn giơ chân lên, các ngón
chân cong lại đến một góc độ thích hợp kéo các sợi lông con rời
khỏi mặt nền làm triệt tiêu lực van der Waals. Tất cả những động
tác xảy ra trong một chu kỳ 50 mili giây (20 lần/giây).
Mô
phỏng các động tác này quả là khó khăn. Tuy nhiên, điều này
không làm chùn bước tiến sĩ Kimberly Turner (University of
California, Santa Barbara, Mỹ). Năm 2007, Turner đã "trồng" được
các sợi nano polymer trên mặt kim loại kền. Sau đó dùng từ lực
làm di động lên xuống mặt kim loại này để các sợi nano polymer
tiếp giáp hoặc rời xa mặt nền tạo ra chu kỳ bám dính/tách rời.
Turner đã thí nghiệm thành công nhưng vẫn chưa đạt đến con số 20
lần/giây. Nhóm nghiên cứu của giáo sư Roger Quinn (Case Weatern
Reserve University, Mỹ) đi xa hơn một bước là chế tạo ra một
robot biết leo tường và bám trần nhà. Robot của ông và các cộng
sự viên thật ra là một cái hộp nặng 87 g, chứa mô-tô nhỏ được
điều khiển từ xa để quay bốn cái "chân" [7]. Mỗi chân là do bốn
cái nan tạo thành. "Mặt dính thạch sùng" được gắn vào trên mỗi
cái nan và con robot sẽ leo tường và đi trên trần nhà bằng những
bước đi "lạch bạch".
Từ bài
báo cáo của nhóm Autumn trong tạp chí Nature cho đến mặt dính di
động của Turner và con robot của Quinn chỉ cần vài năm. Lực van
der Waals trên bàn chân thạch sùng là một ẩn tàng của thiên
nhiên như một thứ "rượu cũ" trong cái "bình cũ". Cũ là vì lực
van der Waals hiện hữu từ khi vũ trụ xuất hiện và bàn chân thạch
sùng không ngừng tiến hóa hàng triệu năm từ khi sinh vật có mặt
trên quả địa cầu. Nhưng hai cái "cũ" này khơi dậy không ít niềm
đam mê của các nhà khoa học, nhanh chóng đẩy mạnh sự tiến bộ của
bộ môn nghiên cứu về "mặt dính nano không keo". Tuy nhiên, họ sẽ
phải cần một thời gian rất dài để tạo ra một con robot có khả
năng như "tay leo trèo siêu hạng" thạch sùng. Nhìn lại cấu trúc
của bàn chân thằn lằn, ta thấy có thứ bậc cấu tạo (structural
hierachy) rõ rệt, từ những lá mỏng vắt ngang ngón chân đến các
cụm lông, đến sợi lông chính rồi tủa ra những sợi lông con (Hình
1). Trong quá trình bám dính/tách rời, mặt nền tác động lên
những sợi lông con, rồi đến sợi lông chính, đến các cụm lông,
đến mặt ngón chân, đến ngón chân... Những tác động dây
chuyền này của những thành viên trong cấu tạo có thứ bậc di
chuyển từ cấp độ vi mô đến cấp độ vĩ mô một cách liên tục, trơn
tru và hài hòa. Đó là lý do chính tại sao thằn lằn có thể
bám/rời bề mặt 20 lần/giây. Trong khi đó "mặt dính thạch
sùng" nhân tạo chỉ có hai thứ bậc: các sợi nano được hình thành
trên mặt đệm dẻo. Hiển nhiên, cái cấu trúc nhân tạo này vẫn còn
quá thô thiển so với cấu trúc hài hòa của thiên nhiên.
Tiềm năng ứng dụng
Những
kết quả thực nghiệm của bàn chân thằn lằn không chỉ ngừng ở việc
nghiên cứu hàn lâm. Trong báo cáo phát minh năm 2004, Autumn,
Full và Fearing đưa ra những khả năng ứng dụng của "chất dính
không keo" hay là "mặt dính thạch sùng" mà các ông cho là gần
như vô hạn, bao gồm nhiều lĩnh vực từ y khoa, điện tử, chân
robot, đến dụng cụ thể thao và đồ chơi trẻ con. Trong một tương
lai gần, người ta có thể chế tạo những cây hút bụi tí hon trang
bị với "mặt dính thạch sùng" để nhặt những hạt bụi miromét trên
các chip vi tính; hoặc những dụng cụ để sắp xếp và điều
chỉnh các bộ phận của hệ thống điện cơ vi mô
(micro-electromechanical system, MEMS). Một sản phẩm mang tính
"cách mạng" phát xuất từ một cấu trúc nano được thành hình qua
sự mô phỏng thiên nhiên cần thời gian để thay đổi tư duy của
khách hàng, để tìm thị trường và tiếp thị. "Mặt dính" có thể
thay thế băng keo và các loại keo nước. Thị trường này rất lớn
nhưng doanh thu có thể rất nhỏ vì với đặc tính dùng lại nhiều
lần của "mặt dính", có ai muốn trở lại mua cho những lần kế
tiếp?
Lời kết
Câu
chuyện về bàn chân thạch sùng chỉ là một trong nhiều thí dụ về
cấu trúc nano có những hiệu ứng cực kỳ thú vị và không lường
trước được. Vì không thể lường trước nên con người phải đợi hơn
2000 năm để giải toả cái băn khoăn Aristotle và 200 năm để làm
sáng tỏ cơ chế bám dính không keo. Bàn chân thạch sùng cũng cho
ta thấy khi vật chất bị thu nhỏ đến vài triệu, vài tỷ lần thì
một đặc tính hay hiệu ứng nào đó sẽ lộ diện với số lần phóng đại
tương đương. Sẽ còn hàng trăm hàng ngàn hay nhiều hơn nữa những
cấu trúc nano trong thiên nhiên hiện hữu như một thách đố, ẩn
tàng đâu đó để con người phát hiện và mô phỏng. Tiếc rằng, từ
khi sự sống xuất hiện trên quả đất hàng triệu năm qua, vạn vật
sinh sôi nảy nở rồi cuối cùng đi đến sự tuyệt diệt, đã mang theo
nhiều bí ẩn chôn vùi theo một thời thái cổ xa xăm. Nhưng có một
điều khiến ta phải suy ngẫm là dù cấu trúc nano của vạn vật có
thiên hình vạn trạng tạo ra muôn vàn chức năng kỳ thú, dù tồn
tại hay biến mất theo thời gian, chúng không thể vượt qua ngoài
phạm vi của các định luật vật lý chi phối từ vật nhỏ nhất đến
vật to nhất, hữu cơ hay vô cơ, ngay từ những giây phút đầu khi
vũ trụ khai sinh.
26
March 2008
TVT
Ghi chú và tài liệu tham khảo
-
K. Autumn, MRS Bulletin, 32
(June 2007) 473.
-
Một thí dụ vật liệu thích nước là thủy
tinh và ghét nước là cái chảo rán có phủ lớp Teflon. Trên
mặt thủy tinh, vì "thích" nước nên nước có khuynh hướng
dính trên mặt. Ngược lại, Teflon "ghét" nước khiến nước co
lại thành những hạt tròn lăn trên mặt Teflon.
-
K. Autumn, Y. A. Liang, S. T. Hsieh, W.
Zesch, W. P. Chan, T. W. Kenny, R. Fearing and R. J. Full,
Nature, 405 (2000) 681.
-
B. N. J. Persson, MRS Bulletin,
32 (June 2007) 486.
-
A. K. Geim, S. V.
Dubonos,
I. V. Grigorieva, K. S. Novoselov, A. A.
Zhukov and S. Y. Shapoval, Nature Materials, 2
(2003) 461.
-
L. Qu and L. Dai, Adv. Mater.,
19 (2007) 3844.
-
K. A. Daltorio, S. Gorb, A. Peressadko,
A. D. Horchler, T. E. Wei, R. E. Ritzman and R. D. Quinn,
MRS Bulletin, 32 (June 2007) 504.
Ý kiến Phê bình xin gửi về
:
truongvantan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |