|
Tinh
thần tôn trọng sự thật khách quan là một trong những tiêu chuẩn
hàng đầu của nghiên cứu khoa học. Những thành quả nghiên cứu
thường xuất hiện ở dạng bài báo cáo trong các tạp chí chuyên
ngành hay được phát biểu tại các hội thảo khoa học. Tính khách
quan và sự chuẩn xác của bài báo được đánh giá qua một quá trình
thẩm định bởi các chuyên gia cùng ngành (peer review). Thông
thường có từ hai đến ba người duyệt xét và gởi ý kiến của mình
đến chủ biên tạp chí. Chỉ cần một ý kiến phủ nhận thì bài báo có
thể không được đăng. Quá trình thẩm định trong các tạp chí khoa
học kể cả khoa học nhân văn (kinh tế học, sử học, tâm lý học...)
đã tồn tại hơn nửa thế kỷ và là một biện pháp rất hữu hiệu không
những để duy trình tính khách quan, tính lôgic mà còn phát hiện
kết quả ngụy tạo và đạo văn.
Tuy
nhiên, biện pháp dù hữu hiệu nhưng vẫn còn khe hở. Ngụy tạo kết
quả khoa học cũng có một "lịch sử" lâu dài như lịch sử khoa học.
Người viết nhớ đến việc ngụy tạo kết quả của một giáo sư tại đại
học Úc với mục đích làm vừa lòng một công ty dược phẩm tài trợ
công trình nghiên cứu sinh học của ông. Muốn chứng tỏ có sự lai
giống của giống chuột đen và giống chuột trắng ông dùng mực đen
bôi lên chuột trắng rồi chụp ảnh đăng báo! Một trường hợp khác
xảy ra tại đại học Pakistan. Một vị giáo sư dùng uy tín của mình
đăng một bài báo cáo trên tạp chí điạ chất học để tuyên bố rằng
ông đã khám phá một loại đá trầm tích mới tại rặng Hi Mã Lạp
Sơn. Các đồng nghiệp của ông trên thế giới quả quyết không bao
giờ có sự hiện hữu loại đá như vậy tại địa điểm trên. Sau những
bài báo công kích gắt gao, cuối cùng ông phải thú nhận rằng mẫu
đá mà ông "phân tích" đăng trên bài báo được ông mua tại một
tiệm đồ cổ trong chuyến du lịch Paris...
Woo
Suk Hwang là giáo sư sinh học tại Seoul National University (Hàn
Quốc). Mấy năm vừa qua ông nổi tiếng thế giới về các công trình
nghiên cứu sinh sản vô tính (cloning) và đã được dân Hàn Quốc
tôn vinh là anh hùng khoa học. Ông ngụy tạo kết quả thí nghiệm
trong việc tạo ra phôi con người, khôn khéo vượt qua quá trình
duyệt xét và công bố "kết quả" trên tạp chí Science
(2005). Sự ngụy tạo nầy gây ra một cú "sốc" lớn trong cộng đồng
nghiên cứu khoa học quốc tế. Ông từ chức vào tháng 12, 2005. Một
sự kiện khác là trường hợp của tiến sĩ Jan Schön. Schön là một
nhà nghiên cứu trẻ có nhiều triển vọng nhưng trong khi làm việc
tại Bell Labs (Mỹ) ông ta ngụy tạo kết quả 16 lần trong khoảng
thời gian 1998 –2001 đăng hơn 40 bài báo cáo trên các tạp chí
nổi tiếng như Nature, Science, Applied Physics
Letters và tuyên bố đã chế tạo ra transistor dưới dạng phân
tử. Có khả năng đoạt giải Nobel nếu là thật. Ông bị Bell Labs
đuổi việc ngay sau đó. Những sự kiện ngụy tạo nầy đã làm ban
biên tập tạp chí Nature đặt lại vấn đề "peer review" và
trưng cầu ý kiến độc giả về những biện pháp thẩm định và phản
biện để tăng cường độ chính xác và lôgic của những bài báo cáo
khoa học.
Trong quá trình đào tạo các sinh viên nghiên cứu, người chỉ đạo
lúc nào cũng nhấn mạnh vào tính "thật" của các kết quả thí
nghiệm. Vì vậy, ngụy tạo là một điều cấm kỵ và một "trọng tội"
trong nghiên cứu khoa học. Vậy tại sao có một số nhà khoa học
lại thích ăn quả cấm? Tâm lý chung là ngụy tạo trước để được
tiếng là người đầu tiên khám phá, giành quyền chủ động rồi sau
đó sẽ "hạ hồi phân giải". Điều quan trọng thứ hai là kết quả thí
nghiệm phải mang tính "lặp lại" (reproducibility/repeatability).
Có nghĩa là nếu thí nghiệm được lặp lại với những điều kiện
giống nhau thì phải cho ra kết quả giống nhau. Nếu không mang
tính chất "lặp lại", kết quả trở nên vô nghĩa. Vào cuối thập
niên 80, thế giới khoa học sôi động lên vì hiện tượng "dung hợp
lạnh" (cold fusion) [1]. Hiện tượng được "phát hiện" bởi một
nhóm nghiên cứu hóa điện tại đại học Southampton (Anh) nhưng
không bao giờ có thể tái hiện bởi chính người khám phá và các
nhóm nghiên cứu khác trên thế giới. Nếu "dung hợp lạnh" có thật
thì nó sẽ là một nguồn cung cấp năng lượng ít tốn kém và rất
phong phú cho con người.
|
"...Qua những thông tin của báo chí trong
nước, người ta thấy đầy dẫy hiện tượng "đạo": đạo văn,
đạo nhạc, đạo họa (tranh vẽ) và lắm lúc đạo trọn gói cả
một quyển sách. "Đạo" trở thành một thứ văn hóa "thà một
chút huy hoàng rồi chợt tối". Cứ "đạo" để được nổi tiếng
một lúc rồi hẵng hay. Xung quanh những trường đại học là
những hàng quán phục vụ việc sao chép, "lắp ráp" những
mảnh thông tin để tạo thành những luận văn tốt nghiệp
với đủ mọi đề tài..." |
Ngụy
tạo kết quả phần lớn đi từ cái thói háo danh của bản thân người
làm nghiên cứu và áp lực tìm kinh phí nghiên cứu để duy trì tăm
tiếng của mình. Những áp lực tài chính cộng với phong cách làm
việc dựa trên quan hệ mốc nối dễ đưa đến tham nhũng trong khoa
học trên bình diện quốc gia. Trường hợp của các khoa học gia tại
Trung Quốc là một thí dụ điển hình [2]. Kể từ năm 1988, khi
Đặng Tiểu Bình tuyên bố "khoa học kỹ thuật là một lực lượng sản
xuất chủ yếu", mục tiêu của nhà nước Trung Quốc là gấp rút tăng
gia kinh phí vào các dự án nghiên cứu, triển khai và sáng tạo.
Trung Quốc đã mất đi một thế hệ khoa học gia vì sự cuồng tín của
một thập niên "Cách mạng Văn hóa" (1965 –1975). Để lấp vào
khoảng trống nầy chính phủ Trung Quốc đưa ra những chính sách
nhảy vọt nhằm bắt kịp thế giới. Họ đặt mục tiêu thành lập 100
đại học có tầm vóc quốc tế trong thế kỷ 21, cho đến năm 2020
đóng góp của các thành quả khoa học kỹ thuật phải đạt đến 60 %
cho nền kinh tế quốc dân. Số tiền đầu tư vào các công trình
nghiên cứu khoa học và công nghệ tại các đại học và cơ quan
nghiên cứu tăng từ 3 tỉ năm 1996 đến 9 tỉ Mỹ kim năm 2006 và sẽ
tiếp tục tăng trong 15 năm tới. Tiêu chuẩn phân phối kinh phí
khoa học nầy cho các đại học và cơ quan nghiên cứu trên bề mặt
rất công bằng và dựa theo nguyên tắc "peer review" của Âu Mỹ
[3]. Nhưng trên thực tế sự phân phối phần lớn tùy vào quan hệ và
những quyết định tùy tiện mang tính chính trị từ phía trên. Một
thí dụ nổi bật là vào năm 2000 nhà sinh học Cheng Jing trình bày
về đề tài chip sinh học (biochips) cho nội các chính
phủ có sự hiện diện của nguyên Thủ Tướng Chu Dung Cơ. Thủ Tướng
Chu nghe bùi tai bèn trợ cấp ông Cheng 30 triệu Mỹ kim để thành
lập công ty. Một tệ hại khác liên quan đến cách sử dụng kinh phí
nghiên cứu của các giáo sư và nhà nghiên cứu Trung Quốc. Các vị
tự tiện trích 40 % số tiền để bỏ túi hoặc dùng cho việc riêng kể
cả việc tạo mốc nối và chiêu đãi những người duyệt xét hồ sơ đề
án nghiên cứu của mình.
Áp
lực đạt mục tiêu thành công cũng đưa đến những tình huống dở
khóc dở cười. Chen Jin là một Khoa trưởng của Jiaotong
University (Đại Học Giao Thông) một đại học nổi tiếng tại Thượng
Hải. Ông tuyên bố đã chế tạo ra chip điện toán Hanxin
(Hán Tâm) là một sản phẩm 100 % "made in China". "Sản phẩm" của
ông đã lôi cuốn các chính trị gia kể cả Thủ Tướng đương nhiệm Ôn
Gia Bảo đến thăm phòng nghiên cứu của ông. Thật ra, ông mua
chip từ Mỹ mang về Thượng Hải in lên hai chữ "Hán Tâm". Có
người tò mò cạo đi hai chữ Hán Tâm thì lộ ra tên tiếng Anh của
một công ty Mỹ. Một mẹo nhỏ rẻ tiền nhưng có thể "phỉnh" được
một vị Thủ Tướng và cả nội các chính phủ!
Hiện
tượng "publish or perish" (đăng báo hay là chết) [4] là
hiện tượng phổ biến trong cộng đồng nghiên cứu khoa học thế
giới. Tại Trung Quốc hiện tượng nầy lại đi đến mức cực đoan.
Nhiều cơ quan khuyến khích việc công bố kết quả thí nghiệm bằng
cách cho tiền thưởng vài trăm Mỹ kim khi có báo cáo đăng trên
các tạp chí nổi tiếng. Thậm chí có nơi tiền thưởng lên đến vài
chục ngàn Mỹ kim cho mỗi bài báo [5]. Những thành quả khoa học
được định lượng hóa theo con số của các bài báo cáo đăng trên
các tạp chí chuyên ngành và thể loại của tạp chí. Tạp chí nước
ngoài hơn tạp chí trong nước. Tạp chí nước ngoài lại được phân
hạng thấp cao. Con số các bài báo cáo là một ưu tư triền miên
của người làm công tác khoa học mà cũng là một ám ảnh thường
trực của các đại học và viện nghiên cứu trong việc duy trì tiếng
tăm và chức danh của mình. Hệ quả là một công trình nghiên cứu
được đăng nhiều lần trên các tạp chí khác nhau, tác giả tự đạo
văn mình hoặc đạo văn người khác để tăng thêm số lượng bài báo.
Một hệ quả nghiêm trọng khác là Trung Quốc đứng hàng thứ 9 trên
thế giới về số lượng bài báo cáo năm 2004 nhưng chất lượng (dựa
vào số lần trích dẫn của các đồng nghiệp quốc tế) thì ở thứ hạng
124 [6].
Trông người lại nghĩ đến ta. Trên nhiều khía cạnh của việc quản
lý nghiên cứu khoa học, Việt Nam là một mô hình nhỏ của Trung
Quốc. Qua những thông tin của báo chí trong nước, người ta thấy
đầy dẫy hiện tượng "đạo": đạo văn, đạo nhạc, đạo họa (tranh vẽ)
và lắm lúc đạo trọn gói cả một quyển sách. "Đạo" trở thành một
thứ văn hóa "thà một chút huy hoàng rồi chợt tối". Cứ "đạo" để
được nổi tiếng một lúc rồi hẵng hay. Xung quanh những trường đại
học là những hàng quán phục vụ việc sao chép, "lắp ráp" những
mảnh thông tin để tạo thành những luận văn tốt nghiệp với đủ mọi
đề tài. Một hiện tượng bất bình thường nhưng trở thành bình
thường mà người làm không cảm thấy hổ thẹn khi hành vi biến
thành một hành vi tập thể. Một trường hợp nghiêm trọng được
phanh phui là một ứng viên tiến sĩ sao chép luận văn người khác
đúng từ dấu chấm phẩy thậm chí đến những lỗi trong nguyên văn.
Người nầy lại được bổ nhiệm vào một chức vụ cao cấp trong giáo
dục đại học. Có thể đây là một trường hợp cá biệt nhưng cũng có
thể đây là phần nổi của tảng băng ngầm.
Tính
chất trọng danh hơn trọng thực đưa ra nhiều khái niệm lệch lạc
về học vị tiến sĩ tại Việt Nam. Tiến sĩ đánh dấu sự hoàn tất của
một quá trình nghiên cứu và là một bước đầu tiên đưa người mang
học vị đi xa hơn trên con đường nghiên cứu khoa học. Nó không
phải là đỉnh cao của trí tuệ khoa học và lại càng không phải là
một món hàng tiêu dùng có thể mua bán để trang điểm tên tuổi.
Sau loạt nâng cấp danh xưng, các phó tiến sĩ một đêm sáng ngày ù
té biến thành tiến sĩ. Đến bây giờ tiêu chuẩn chọn lựa tiến sĩ
vẫn còn tùy tiện và lỏng lẻo. Việc nầy đưa đến việc lạm phát các
tiến sĩ "đầu ngõ" mà người dân bình thường phải thốt lên "ra ngõ
đã gặp tiến sĩ". Hệ thống lương bổng bần cùng không thỏa mãn
được vấn đề cơ bản của "cơm áo gạo tiền" và phong cách quản lý
tài chính nhập nhằng trong các cơ quan nghiên cứu khoa học và
đại học Việt Nam đưa đến việc bòn rút kinh phí nghiên cứu vào
"việc riêng" giống như trường hợp của các đồng nghiệp Trung
Quốc.
Nghiên cứu là một quá trình biến tiền thành tri thức; sáng tạo
là một quá trình biến tri thức thành tiền. Hai quá trình nầy
luân lưu và bổ túc nhau để làm cho dân giàu nước mạnh. Ngụy tạo,
đạo văn và tham nhũng trong nghiên cứu khoa học sẽ lũng đoạn quá
trình nầy. Hơn 120 nhà khoa học Trung Quốc làm việc tại Mỹ và
các nước trên thế giới lên án các vụ bê bối trong quản lý khoa
học trên đất nước của họ. Họ tạo ra một website "New Threads"
www.xys.org để cảnh báo kịp thời những hành vi tham nhũng và
ngụy tạo. Chúng ta có thể xem trường hợp Trung Quốc như một bài
học tiêu cực. Liệu nhà nước Việt Nam có thể cải thiện chính sách
quản lý nghiên cứu khoa học để tránh vết xe đổ?
TVT
30 June 2006
(Đã
đăng trên
www.talawas.org.
Có bổ sung cho khoahoc.net)
Ghi chú
1.
Dung hợp hạch nhân (nuclear fusion) cho ra một nguồn năng lượng
rất lớn. Phản ứng dung hợp hạch nhân chỉ có thể xảy ra khi nhiệt
độ ở vài triệu độ. Phản ứng dung hợp trong tâm mặt trời là một
thí dụ. Giáo sư Fleischmann và Pons là hai người "khám phá" ra
sự "dung hợp lạnh" (cold fusion) vào năm 1989. Theo hai ông phản
ứng dung hợp hạch nhân có thể xảy ra ở nhiệt độ bình thường (vì
vậy gọi là "lạnh") trong một bình điện giải (electrolysis cell)
với kim loại palladium dùng làm điện cực. Cuộc tranh luận về sự
hiện hữu của dung hợp lạnh vẫn còn âm ỉ cho đến ngày hôm nay
(xem thêm "cold fusion" trong Wikipedia).
2.
Những số liệu, nhân vật và sự kiện về Trung Quốc được trích dẫn
từ bài "Scandals Shake Chinese Science" của tác giả Hao
Xin: Science (9 June 2006), 312, 1464.
3.
Tại Mỹ, Úc, Canada và các nước châu Âu, để xin kinh phí nghiên
cứu các ứng viên phải đệ trình lên các cơ quan tài trợ một đề án
chi tiết về mục đích nghiên cứu, kết quả có thể gặt hái, tiềm
năng áp dụng, số tiền cần thiết v.v... Đề án sẽ được thẩm định
bởi 3 đến 5 chuyên gia trong ngành. Xác suất thành công là 30 %.
Nếu thành công, kinh phí nghiên cứu sẽ được giao cho Hạch Kế
Toán và Tài Chính trực thuộc cơ quan của ứng viên để quản lý.
4.
Đây là một lối chơi chữ trong tiếng Anh vì cách phát âm của
publish và perish gần giống nhau. Ngụ ý là: công
bố hay bị đời lãng quên.
5.
Học Viện Sinh Học Vật Lý thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Trung Quốc
tặng tác giả bài báo 250000 nhân dân tệ ($31000) khi có báo cáo
đăng trên các tạp chí ê-lít như Nature, Science
và Cell. Số tiền thưởng của trường China Agricultural
University tại Bắc Kinh lên đến $50000. Nguồn: Nature
(15 June 2006), 441, 792.
6.
Xin được mở ngoặc ở đây để tránh sự ngộ nhận. Từ kinh nghiệm
tiếp xúc của người viết với những đồng nghiệp Trung Quốc làm
công tác khoa học, phải nói họ là những người cần cù nhẫn nại
trong công việc và có nhiều sáng kiến rất độc đáo. Trong phân
khoa Công Nghệ (Engineering Department) của một đại học Úc, hơn
1/3 ban giảng dạy (Giáo sư, Phó Giáo sư, Giảng viên) và 1/2
nghiên cứu sinh tiến sĩ và sau tiến sĩ (Post Doc) là người gốc
Trung Quốc (Đại lục).
Ý kiến Phê bình xin gửi về
:
truongvantan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |