|
Khi nói
đến Ấn Độ, người ta nghĩ ngay đến món cà ri cay đặc trưng. Đối
với những người sống và lớn lên trong thập niên 60 tại miền Nam
Việt Nam ai cũng có một thời mê phim thần thoại Ấn Độ trong đó
lúc nào cũng có phần ca nhạc đặc sắc, điển hình là một nàng công
chúa mặc trang phục hở rún vừa ca vừa nhảy lắc qua lắc lại hoặc
chạy lòng vòng thập thò quanh một cây cột trêu một chàng hoàng
tử si tình đẹp trai tất tả chạy theo sau. Hoặc người ta sẽ nghĩ
đến bộ cổ thư Kama Sutra mô tả những "mánh khóe" phòng the, hoặc
những con bò trắng đi lững thững thản nhiên xả những thứ phế
thải trên đường phố. Ấn Độ, một đất nước rất gần Việt Nam nhưng
cũng rất xa. Rất gần, vì khoảng cách địa lý vì thương nhân Ấn Độ
cũng có một thời đến Việt Nam định cư buôn bán; bây giờ ngôi
chùa Ấn Hindu vẫn còn nghi ngút khói hương trên đường Trương
Định, Sài Gòn. Rất xa, vì ngoài món cà ri và những phim ảnh linh
tinh sự hiểu biết của chúng ta về 5000 năm văn minh và con người
Ấn Độ rất sơ sài. Chúng ta cũng biết rất ít đến nền khoa học kỹ
thuật hiện đại của Ấn Độ mặc dù xứ cà ri cũng đã sản sinh ra
nhiều thiên tài khoa học.
Trong những thiên
tài nầy phải kể đến nhà vật lý học Raman. Ông đã khám phá sự
phân tán phi đàn tính (inelastic scattering) của ánh sáng khi
ánh sáng tác động lên các phân tử của một vật liệu và đã được
giải Nobel Vật Lý năm 1930 nhờ sự khám phá nầy. Hiện tượng nầy
đưa đến quang phổ Raman nổi tiếng trong quang phổ học và được
dùng để phân tích nhiều vật liệu từ plastic đến kim cương và đá
qúi. Bose là một nhà toán học vật lý nổi tiếng khác đã từng làm
việc với Einstein và Marie Curie. Trong môn vật lý thống kê
(Statistical Physics) và cơ học lượng tử (Quantum Mechanics),
ông đã phát hiện ra một qui luật thống kê cho những hạt sơ cấp
gọi là "thống kê Bose". Trong vật lý thiên văn, người ta phải đề
cập đến Chandrasekhar. Khi ông còn là một anh sinh viên vừa mới
tốt nghiệp đại học được Đại Học Cambridge cấp học bỗng tiến sĩ,
trên chuyến tàu đi đến Anh Quốc để nhận học bỗng năm 1928, ông
đã tiên đoán ngôi sao có thể bị nén lại đến một tỉ trọng vô cùng
lớn và chỉ ra khả năng hiện hữu của lỗ đen trong vũ trụ.
Chandrasekhar đã được giải Nobel Vật Lý năm 1983 cho sự tiên
đoán thiên tài nầy.
Ngoài
những cá nhân khoa học lỗi lạc, chính phủ Ấn Độ đã đặc biệt chú
trọng việc áp dụng khoa học kỹ thuật để phát triển tiềm năng của
Ấn Độ đem lại lợi ích và nâng cao mức sống của người dân. Lúc
còn sinh tiền Bose cũng đã hô hào "đại chúng hóa" khoa học.
Chương trình nghiên cứu không gian cũng không ngoài mục đích
nầy. Hơn bốn mươi năm trước đây, Vikram Sarabhai một khoa học
gia người Ấn tốt nghiệp tại Anh Quốc đã thiết lập một giàn phóng
hỏa tiển và bắn vào không gian chiếc hỏa tiển đầu tiên của Ấn Độ
vào năm 1963. Khác với chương trình không gian của các nước Âu
Tây mà mục đích chính là phát triển công nghệ quốc phòng để
tranh đoạt bá quyền, với chủ trương của Sarabhai chương trình
không gian của Ấn Độ nhằm mục đích phục vụ sự sống còn của 700
triệu người nông dân cùng khổ chiếm 70 % dân số Ấn Độ. Chủ
trương nầy cho đến ngày hôm nay vẫn là mục tiêu hàng đầu của Tổ
Chức Nghiên Cứu Không Gian Ấn Độ (Indian Space Reseach
Organisation, ISRO).
Từ khi
Ấn Độ thí nghiệm thành công hỏa tiển Agni có tầm bắn 2000 km
(Intermediate-Range Ballistic Missile, IRBM) với khả năng mang
đầu đạn nguyên tử ở cuối thập niên 80, các nước Âu Mỹ ra lệnh
cấm vận bằng cách đình chỉ những chương trình phát triển không
gian với Ấn Độ. Sự kiện nầy đã gây nhiều khó khăn cho Ấn Độ
nhưng một cách gián tiếp đã đẩy ISRO vào con đường tự lực cánh
sinh. ISRO đưa ra chính sách chế tạo tại chỗ, "nội hóa"
(indigenization) những gì có thể "nội hóa". Những khoa học gia
và kỹ sư của ISRO đã "nội hóa" những linh kiện quan trọng mà từ
trước đến giờ phải nhập cảng. Bây giờ họ có thể xuất cảng trở
lại những linh kiện đến những nước mà trước kia họ phải phụ
thuộc. Antrix Corp. Ltd. là bộ phận thương mãi của ISRO trong
năm qua đã bán ra những linh kiện vệ tinh và phi thuyền đáng giá
$40 triệu USD, gia tăng 30 % so với năm trước. Sự cần thiết đưa
đến việc phát minh. Một thí dụ là Ấn Độ không có những trang bị
tinh vi chụp từ vệ tinh những hình ảnh của mặt đất với độ chính
xác và rõ ràng trong phạm vi 1 mét (1-meter resolution). Các
khoa học gia của ISRO đã giải quyết được vấn đề hóc búa nầy một
cách sáng tạo và thành công trong việc đạt đến độ chính xác
trong phạm vi 1 mét mà không cần trang bị của Âu Mỹ.
Ý tưởng
phục vụ nhân sinh và cách nhìn xa trông rộng của Vikram Sarabhai
vẫn được chính phủ Ấn Độ duy trì qua việc phóng vệ tinh viễn
thông Edusat vào tháng 9, 2004. Vệ tinh nầy nặng 2 tấn trên giàn
phóng. Sứ mệnh của vệ tinh nầy là giáo dục viễn thông nối liền
600 000 làng mạc trên toàn quốc với những vị giáo viên và giáo
sư nổi tiếng của Ấn Độ. Edusat không những là một bước đầu tiên
trong việc nâng cao trình độ giáo dục của hằng trăm triệu người
dân ở vùng sâu vùng xa, mà cũng đánh dấu một bước tiến kỹ thuật
không gian đạt đến mức cao cấp hiện đại (state-of-the-art). Vệ
tinh được trang bị một hệ thống phản chiếu vi ba (microwave
reflector) có đường kính 1.2 mét cho việc viễn thông và một hệ
thống pin mặt trời (solar batteries) với một công suất 3
kilowatt để cung cấp điện cho toàn vệ tinh. ISRO cũng đang thiết
kế một loạt vệ tinh Insat với một hệ thống điện 12 kilowatt, một
hệ thống thu và phát vi ba truyền thông tinh vi. Loạt vệ tinh
nầy sẽ dùng cho khí tượng học và y khoa viễn thông
(telemedicine). Tương tự như Edusat, các bác sĩ chuyên khoa nổi
tiếng ở thành phố sẽ có thể trực tiếp tư vấn với đồng nghiệp
hoặc trả lời bệnh nhân trong các bệnh viện rãi rác ở vùng quê xa
xôi.
Tại Ấn
Độ có 45 triệu hec-ta đất không đủ nước nên chỉ sản xuất 120
triệu tấn ngũ cốc. Hơn nữa, 100 triệu hec-ta đất nằm trong vùng
có mưa chỉ có thể sản xuất 80 triệu tấn lương thực, 0.8 tấn cho
mỗi hec-ta. Cung cấp đủ lương thực cho 1 tỷ dân Ấn là một vấn đề
bức thiết trong quốc sách của chính phủ. Với những dữ liệu và
hình ảnh được cung cấp từ vệ tinh Resourcesat-1, chuyên gia có
thể nâng cao xác suất thành công trong việc đào giếng từ 50 %
đến 90 % cho việc dẫn thủy nhập điền và nước uống trong thôn
quê. Ngoài ra, vệ tinh còn cung cấp những dự báo thời tiết để
nông dân có thể lợi dụng tối đa việc canh tác trong mùa mưa,
chuẩn bị phòng chống những bất trắc có thể xảy ra trong mùa hạn.
Những dữ liệu cung cấp từ vệ tinh cũng giúp chuyên gia phục hồi
lại những vùng đất hoang phế (wasteland), gia tăng sản lượng
đánh bắt hải sản ở những vùng ven biển hoặc theo dõi trữ lượng
nước của các ao hồ sông ngòi. Những thành công rực rỡ nầy có thể
qui vào hệ thống nội hóa "điều khiển từ xa" (remote control) có
tên là "Indian Remote Sensing" được trang bị trên vệ tinh để
chụp những hình ảnh trên mặt đất với độ chính xác trong phạm vi
1 mét.
Hiện
nay ISRO có một đội ngũ gồm 16000 khoa học gia và kỹ sư. Ngoài
ra còn 20000 người trong các công ty được thiết lập bởi chính
phủ để thương mãi hóa các phát minh của ISRO. Với thành tựu ưu
việt trong vòng 40 năm qua, tổ chức nầy vẫn tiếp tục phát triển
cho mục đích hòa bình và nâng cao mức sống người dân. Từ việc
phóng vệ tinh bay vòng quanh trái đất với những thành công trong
việc dự báo khí tượng, viễn thông và chụp ảnh với những trang bị
"điều khiển từ xa" nội hóa, ISRO tiến thêm một bước dự trù phóng
vệ tinh Chandrayaan-1 bay quanh mặt trăng vào năm 2007. Vệ tinh
nầy là một niềm tự hào của Ấn Độ là một kết tinh của trí tuệ và
cũng là một niềm kích thích vô biên của các nhà khoa học trẻ Ấn
Độ. Khi Chandrayaan-1 bay vào qũi đạo mặt trăng, vệ tinh nầy sẽ
bay trong 2 năm để thu thập thông tin về địa hình, địa chất và
khoáng sản của mặt trăng. Trạm theo dõi (tracking station) được
thiết lập trên mặt đất với một đĩa thu nhận thông tin (tracking
dish) có đường kính 34 mét. Hiện nay Ấn Độ cũng gần có khả năng
phóng người vào không gian như Trung Quốc đã thực hiện vào tháng
10, 2003. Tuy nhiên, vì ngân sách eo hẹp và để thực hiện dự án
nầy Ấn Độ phải nghiên cứu nhiều hơn về hệ thống duy trì sự sống
(life support system), độ an toàn và phương pháp thu hồi vệ tinh
khi trở về quả đất.
Kể từ những năm đầu
của thập niên 60 khi các khoa học gia Ấn Độ còn sang Úc tham vấn
các khoa học gia Úc về việc bắn hỏa tiển vào không gian, Ấn Độ
đã đi một bước rất dài trong chương trình phát triển không gian
để phục vụ nhân sinh, đã chế tạo và phát minh những linh kiện và
bộ phận quan trọng cho vệ tinh và phi thuyền trong tinh thần tự
túc tự cường. Ngược lại, cũng từ thập niên 60 Úc đã đình chỉ
việc nghiên cứu không gian vì chính sách thiển cận, lệ thuộc Anh
Quốc của chính phủ Úc Robert Menzies. Chương trình phát triển
không gian Ấn Độ không khỏi không có những áp dụng quốc phòng.
Tuy nhiên, trong 5000 năm lịch sử đất nước và con người Ấn Độ
lúc nào cũng hiếu hòa chưa bao giờ xâm lược và diệt chủng một
dân tộc nào, chúng ta không ngạc nhiên khi ưu tiên của chương
trình phát triển không gian của Ấn Độ là cho mục tiêu hòa bình
và cho đa số quần chúng thôn quê.
Người
Ấn Độ đã làm việc âm thầm để đưa đất nước của họ lên hàng cường
quốc không gian bằng trí tuệ ưu việt và tầm nhìn sâu rộng của
những nhà lãnh đạo qua các thời đại từ ngày dành được độc lập
(1947). Thành kiến của người Tây Phương về một nước Ấn Độ chỉ có
thể sản sinh ra những triết gia hay những "guru" tôn giáo giờ
đây đã bị đảo lộn trước những bước tiến vĩ đại trong công nghệ
không gian và tin học Ấn Độ. Thật ra, người ta đã nhận thấy sự
hiện diện và sức nặng của các "guru" khoa học kỹ thuật Ấn Độ
trên tất cả mọi ngành mũi nhọn. Ấn Độ là nơi sản xuất phần mềm
vi tính đứng thứ hai trên thế giới, mặc dù những học sinh trung
học của Ấn Độ ít bao giờ được huy chương trong các kỳ thi
Olympic Toán hay Vật Lý. Điều nầy nói lên một chính sách giáo
dục toàn diện và phát triển khoa học hợp lý đem đến lợi ích lâu
dài hơn là một sự vinh quang nhất thời. Indian Institute of
Technology (IIT) là một viện đại học công nghệ nổi tiếng trên
thế giới liên tục đào tạo những khoa học gia và kỹ sư có tầm mức
quốc tế. Chính phủ Ấn Độ cũng đã đưa ra nhiều chương trình
"National Initiatives" (Sáng kiến Quốc gia) cho khoa học kỹ
thuật nhấn mạnh việc dùng nghiên cứu cơ sở cho áp dụng thực tế.
Người viết bài nầy cũng có dịp biết được một chương trình
"National Initiatives" về "Công nghệ Nano/Micro & Vật liệu và
Cấu trúc Thông minh" (Nano/Micro Technologies & Smart Materials
and Structures) tại một hội nghị khoa học gần đây.
Mô hình
phát triển theo Nhật Bản hay Hàn Quốc có lẽ cần quá nhiều đầu tư
về nhân lực và tài lực, nhưng Ấn Độ có thể lại là một mô hình
hữu hiệu hơn cho các nước nghèo của thế giới thứ ba. Dù theo mô
hình nào, cái nhìn xa hiểu rộng và khiêm tốn học hỏi của các nhà
lãnh đạo một nước vẫn là yếu tố then chốt, vì trí tuệ và sự
thông minh của con người không mang chủng tộc tính.
*
Ghi Chú: Những dữ kiện và con số về vệ tinh trong bài viết
nầy được trích dẫn từ bài "Third World Rising", Aviation Week
& Space Technology, November 22, 2004, pp. 46 – 52.
Những
ngày cuối năm 2004
TVT
Ý kiến Phê bình xin gửi về
:
truongvantan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |