TÂY TẠNG

Trước ánh lửa Thế Vận Hội 2008 tại Bắc Kinh


 

Uyên Hạnh

E-Mail: uyenhanh@khoahoc.net

03 tháng 04 năm 2008

  Nói đến Tây Tạng là nói đến một dân tộc đã từng tắm máu dưới sự tàn sát của Trung Quốc, khởi đầu từ năm 1950 khi Mao Trạnh Đông tiến vào Tây Tạng, hàng lọat người Tây Tạng bị giết chết và hơn 6000 ngôi chùa bị đập phá. Đến năm 1959 Trung Quốc dẹp tan cuộc kháng chiến của người Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma (達賴喇嘛)Tenzin Gyatso cùng chính phủ của Người phải lưu vong sang Ấn Độ. Theo ước tính của Warren W. Smith từ các báo cáo dân số thì đã có tối thiểu 200.000 người Tây Tạng bị mất tích sau cuộc biến động nầy.

Tenzin Gyatso là vị Lạt Ma thứ 14 của Tây Tạng, vị lãnh đạo tinh thần và người đã hướng dẫn cuộc tranh đấu trong thời gian kể trên chống lại sự thống trị tàn ác của Trung Quốc. Giải Nobel hoà bình năm 1989 đã được trao cho Đức Đạt Lai Lạt Ma Tenzin Gyatso vì công cuộc đấu tranh bất bạo động theo tinh thần Đạo Phật, như hành động và đường lối làm việc của Thánh Gandhi. Lạt Ma Tenzin Gyatso hiện nay đã 72 tuổi, đặt trụ sở của chính phủ lưu vong tại Dharamsala, phía Bắc Ấn Độ kể từ sau cuộc đấu tranh chống Trung Quốc để dành quyền tự trị cho Tây Tạng bị thất bại.  

Lạt Ma Tenzin Gyatso là tác giả của nhiều sách[1] viết về Phật giáo Tây Tạng và Đạo Phật. Sách hướng dẫn và chỉ rõ cho thấy cách nhận diện thế giới bên ngòai và thế giới nội tâm, để đạt nghệ thuật sống an bình trong thăng bằng và sự hài hòa giữa con người và vạn vật, tạo cho người tiếp thu các thông điệp nầy những sự kiện, mà từ đó, khi đưa vào đời sống cá nhân bằng cách thực hành sẽ có được cái hạnh phúc bình dị, như sự mong ước đơn giản được thể hiện trong lời chúc, người Phật tử được hướng dẫn theo giáo lý Đạo phật đã trao gửi cho nhau: ”thân tâm thường an lạc”. [2]

Thân chúng ta có khỏe (an), tâm chúng ta có vui (lạc) gia đình chúng ta sẽ hạnh phúc, để chúng ta thể hiện được một sự tích cực đóng góp cho xã hội từ căn bản của an lạc. Không có lòng tham và nhu cầu chiếm hữu sẽ không có điều kiện tạo tội ác với đồng bào và đồng lọai. Tu học là thâu nhận (học) để sửa đổi (tu) và từ đó tạo được cho cá nhân mình một mục đích sống, để thấy được giá trị sự sống của mình và thấy được cả giá trị sự sống của người. Thế giới sẽ an bình.

Đạt Lai Lạt Ma Tenzin Gyatso là người đã đóng góp rất nhiều cho sự phát triển Phật giáo ở Phương Tây. Đạt Lai gốc từ tiếng Mông Cổ nghĩa là "biển cả". Lạt Ma là tiếng Tây Tạng được dịch từ tiếng Phạn (Sanscrit) có nghĩa là Guru, là Đạo sư. Đạt Lai Lạt Ma là vị Đạo sư với trí huệ và tình thương rộng như biển cả.[3]

Với nụ cười bình dị hài hòa, cái cúi mình chậm rãi khá sâu khi chào người đối diện, Đức Đạt Lai Lạt Ma cho ta cơ hội trực nhận để thấy được chiều sâu trong đôi mắt sáng rỡ ngời chiếu một sự trầm lặng ẩn tàng tình người và thái độ khoan thai từ tốn gửi trao cho ta một tình thân hơn là một sự chào hỏi xã giao.

Tinh thần Bát Nhã thể hiện trên tứ đại uy nghi nên chúng ta đón nhận ở Đức Đạt Lai Lạt Ma phong cách của con người điềm đạm, bình đẳng nhân ái, và từ điện của một công lực tu hành thậm thâm. Cái công lực phát tiết nguồn từ điện mà những vị thiền sư ẩn tu hằng trăm năm trong rừng sâu đem thăng bằng đến cho quả đất. Một nội lực xuất phát từ tấm lòng rộng mở, chuyển đạt lên cái nhìn, nên mắt Người sáng ngời tình nhân lọai và chân lý sống. Khác với đôi mắt các giai nhân, tuy đẹp rực rỡ, nhưng trước hay sau khi đã chùi hết phấn son, là đôi mắt thịt bình thường như bao đôi mắt bình thường khác trong thiên hạ, chỉ làm người nhìn thu nhận được cái đẹp của những gì phơi bày trước mắt, một cái đẹp cá nhân nên không thóat khỏi lẽ vô thường của tạo hóa: sinh diệt! Khác với cái đẹp của những đôi mắt, ở đó ta thấy được cái đói khổ của nhân lọai và sự chiến đấu cho nhân quyền của những người đang bị dẫm đạp lên đời sống, cần có được quyền làm người, nghĩa là được sống an bình với đồng bào và đồng lọai của họ.

 

Khi nhân quyền được tôn trọng chúng ta có tự do và cơ hội tự kiếm được miếng cơm manh áo để nuôi dưỡng cho cơ thể được khỏe mạnh. Có tự do tôn giáo ta được hướng dẫn cách sống và củng cố niềm tin để tự tạo được cho chính ta một đời sống giá trị. Sau cùng là tự do sống đời sống cộng đồng để hòa nhập vào xã hội bằng những đóng góp cá nhân trong tinh thần tương thân tương ái và trách nhiệm. Không bị đặt để, chà đạp, đàn áp bởi một cường lực và lòng tham vô đáy của những người mang danh nhà cầm quyền hay nhà lãnh đạo của bất cứ một quốc gia nào.

Tình thương tạo nên sức mạnh để tất cả chúng ta cùng chung vai sát cánh vững bước trên con đường tranh đấu chống sự tàn ác tham tàn bạo ngược như hiện nay của Trung Quốc. Một cuộc đấu tranh cho tình người cho nhân lọai là cái đẹp không giẫy chết vì thời gian, mà trái lại vượt thóat thời gian và không gian, vì năng lực trên mỗi bước chân của bất cứ ai cũng như trên bước chân của ngài Đạt Lai Lạt Ma cho lý tưởng bình đẳng cộng đồng. Những bước chân đi trong các cuộc hành trình tranh đấu và bảo vệ cho sự bình đẳng đem lại quyền được đứng bằng hai chân trên mặt đất trong yên bình không có máu đổ lệ rơi của con người. Một sự chống đối và tranh đấu cho những người đang bị dẫm đạp lên tất cả, về tinh thần lẫn vật chất, để có được quyền sống của một con người. Một sự tranh đấu với nghĩa cử và bổn phận làm người của tất cả chúng ta. Nhưng là một nghĩa cử và bổn phận chỉ có thể phát sinh và nuôi dưỡng được bằng lòng vị tha bất vụ lợi.  

 

TÂY TẠNG đã từng là một quốc gia độc lập ở Trung Á. Một xứ sở nhỏ bé ở vùng Hy Mã Lạp Sơn, với độ cao trung bình vào khoảng 4.900 m, nằm trên vùng đất đai cằn cỗi đầy sỏi đá, có khí hậu khô khan suốt 9 tháng trong năm. Phía Bắc Tây Tạng nhiệt độ cao vào mùa hè và rất lạnh vào mùa đông. Tuyết phủ quanh năm ở những đỉnh núi có độ cao 5000-7000 m. Dãy Hy Mã Lạp Sơn chiếm phần lớn trong địa phận Tây Tạng. Đỉnh cao nhất của Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya) là ngọn núi Everest. Tính theo số liệu đo đạt cho đến năm 1999, Everset đã tăng từ độ cao 8848 m lên đến 8850m.                  

                     

 

Vị thế: Tây Tạng giáp giới Trung Quốc, East Turkistan, Miến Điện (Myanmar trước đây có tên là Burma), Bhutan, Nepal, Ấn Độ. Những con sông bắt nguồn từ Tây Tạng gồm các sông Mê Kông, Dương Tử, Hoàng Hà, Sông Ấn, Brahmaputra, Sông Hằng.

Thủ đô của Tây Tạng là Lhasa. Những thành phố lớn của Tây Tạng gồm có Shigatse, Gyantse, Chamdo, Nagchu, Nyingchi, Nedong, Dartsendo, Jyekundo hay Yushu, Golmud, Barkam, Gartse, Lhatse, Machen, Pelbar, Sakya và Tingri.

                                              

Lá ccủa Tây Tạng trước năm 1950, được Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 giới thiệu trong năm 1912. Hiện tại lá cờ nầy được Chính phủ lưu vong Tây Tạng sử dụng  dưới sự điều hành của ngài Đạt Lai Lạt Ma. Lá cờ nầy hiện bị triệt để cấm sử dụng tại Trung Quốc.

 

Dân số, Tôn gíao và Văn hóa: Người Tây Tạng viết bằng chữ Tạng. Cung điện Potala, được liệt vào hàng di sản thế giới, trước đây là nơi ở của các Đạt Lai Lạt Ma. Dân số của Tây Tạng hiện nay có khỏang 7,5 triệu người. Theo dòng lịch sử, dân cư Tây Tạng chủ yếu là tộc người Tạng. Các tộc người khác ở Tây Tạng bao gồm người Menba, người Lhoba, người Mông Cổ và người Hồi. Phật giáo là tôn giáo chính ở Tây Tạng, được truyền bá dưới dạng Mật Tông (Vajrayana). Phật giáo mang đậm sắc thái văn hóa Tây Tạng. Các vị Đạt Lai Lạt Ma được xem như hiện thân của ngài Quán Thế Âm, được gọi là Phật sống và đuợc nhiều người tôn thờ.

 

Các nguồn lợi quốc gia: Vì hạn chế về đất trồng trọt nên nông nghiệp không được phát triển. Chăn nuôi là nghề chính. Trong những năm sau nầy ngành du lịch phát triển mạnh ở Tây Tạng. Năm 2005 Trung quốc hòan thành tuyến đường sắt Thanh Hải – Tây Tạng, môt tuyến đường sắt cao nhất thế giới nối tỉnh Thanh Hải của Trung quốc với vùng Tây Tạng hùng vĩ. Tuyến đường sắt Thanh Hải – Tây Tạng dài 1956 km với chi phí xây dựng 4,2 tỷ Mỹ kim.

Chính phủ Trung Quốc đang có kế hoạch mở rộng tuyến đường sắt cao nhất thế giới nầy, kéo dài thêm 270 km từ Lhasa đến Shigatse, giáp giới bắc Ấn Độ. Theo dự định tuyến đường sắt sẽ hoàn thành trong vòng 3 năm. Theo phát biểu từ phía Trung Quốc thì  đường sắt sẽ tạo cơ hội lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội ở Shigatse. Shigatse là một thành phố có dân số khỏang 80.000 người. Một vùng đất tọa lạc tại hợp lưu của hai dòng sông tâm linh Yarlong Tsangpo và Nuangchu, ở phía tây của Khu tự trị Tây Tạng. Thành phố nầy cao hơn mực nước biển 3.800 mét.

Trước đây khi tuyến đường sắt chưa được thiết lập, chỉ có hai cách đến thủ phủ Lhasa của Tây Tạng đó là đáp một chuyến bay tốn rất nhiều tiền và khi máy bay hạ cánh hành khách bị lên ruột vì sự hiểm trở của đồi núi xứ Tây Tạng. Phương tiện thứ hai là đáp chuyến xe búyt với số lượng hành khách chật như mắm, trên một hành trình dài 3 ngày 3 đêm ròng rã vượt qua những vùng đồi núi chênh vênh rất nguy hiểm.

 

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA kêu gọi sự giúp đỡ của cộng đồng thế giới. Ủng hộ của thế giới đối với sự kiện ”vừa đánh trống vừa ăn cướp” của Trung Quốc:

Ngày 7 tháng 3 vừa qua, chính phủ Bắc Kinh tung nguồn tin đã phá vỡ âm mưu của một nhóm khủng bố Hồi giáo thuộc sắc tộc Đột Quyết, chủ mưu cướp máy bay của hãng hàng không Southern China Airlines từ Urumqi của Tân Cương bay về Bắc Kinh, mục đích phá hoại Thế Vận Hội. Tình hình trở nên sôi động và biến cố ngày 10 tháng 3 tại Tây Tạng bùng nổ, những dòng máu đỏ của người dân Tây Tạng đã đổ xuống. Theo nguồn tin của Thông Tấn Xã Reuters đã có khỏang 100 người bị giết và trên 600 người bị thương. Trước khi ngọn đuốc Thế Vân Hội 2008 Bắc Kinh được đốt lên, hình ảnh đậm nét của cuộc đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ của người Tây Tạng đã được soi rõ.

 

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã hết lời kêu gọi người dân Tây Tạng phải bình tỉnh và tuyệt đối ôn hòa không dùng vũ lực. Người cũng đã lập tức lên tiếng sẵn sàng gặp giới lảnh đạo Trung Quốc để đối thoại về vấn đề Tây Tạng. Theo nguồn tin của AFP, New Delhi - Ấn Ðộ, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma hôm 29 tháng 3 đã kêu gọi cộng đồng thế giới hãy giúp chấm dứt cuộc khủng hoảng tại quê hương của ngài. Giới lãnh đạo thế giới đề nghị Bắc Kinh nên có sự thảo luận với Ðức Ðạt Lai Lạt Ma.

 

Cho dù nhà cầm quyền Trung Quốc không tiếc lời lên án Đức Đạt Lai Lạt Ma, trong thời gian ngắn vừa qua chính giới quốc tế đã mạnh mẽ lên án hành động dùng vũ lực đàn áp của Trung quốc và bày tỏ nhiều thiện cảm qua nhiều lời tuyên bố, lời mời cũng như ngõ ý thăm viếng v.v… nhằm bày tỏ tình đoàn kết cùng Đức Đạt Lai Lạt Ma và người dân Tây Tạng. Tổng thống Pháp Nicolas Sarkoxy đã phản ứng bằng việc lên tiếng có thể xét lại việc tham dự lễ khai mạc Thế Vận Hội. Quốc hội Âu châu đã có phản ứng dữ dội hơn khi nêu vấn đề sẽ thảo luận sự kiện có nên tẩy chay Thế Vận Hội tại Bắc Kinh hay không. Thủ tướng Anh, Ba Lan, Ngoại trưởng Pháp ngỏ lời mời và hứa hẹn tiếp đón đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngoài ra đã có rất nhiều tổ chức hội đòan của dân chúng thế giới và những khôi nguyên giải Nobel đã không ngớt lên tiếng phản đối nhà cầm quyền tại Bắc Kinh. Nhiều nước đã lớn tiếng kêu gọi tất cả những ai yêu tự do phải lên tiếng chống lại hành động áp bức của Trung quốc.

 

Tại thủ đô Hy Lạp, ngay trong buổi lễ châm lửa thiêng để đốt ngọn đuốc Thế Vận Hội 2008 việc chống đối đã xảy ra. Trong lúc ông Liu Qi, chủ tịch Olimpic 2008 đang đọc diễn văn thì bất ngờ xuất hiện ba người ủng hộ cuộc tranh đấu của dân tộc Tây Tạng. Những người nầy đã lọt được lưới bảo vệ của cảnh sát vào ngay khán đài, và chạy về hướng Liu Qi cùng với biểu ngữ có hình 5 vòng tròn Olimpic thể hiện bằng những chiếc còng số 8 – một biểu tượng chống đối Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008.

Đài truyền hình Hy Lạp đã kịp thời quay trọn vẹn những gì đang xảy ra tuy rằng sự việc xảy ra rất nhanh. Dữ kiện nầy đã được truyền đi khắp thế giới trong lúc truyền hình Trung Quốc cắt ngang chương trình đang phát hình trực tiếp về cho dân chúng tại nước mình. Cuộc phản đối lễ khai mạc đốt đuốc Olimpic do chính Tổ chức "Phóng Viên Không Biên Giới" (Reporters Without Borders – RWB) thực hiện. Ba người nầy chính là chủ tịch RWB Robert Menard và hai bạn đồng nghiệp của ông, Vincent Brossel, Jean-François Juillard.

 

Trong cuộc rước lửa thiêng khai mạc Thế Vận Hội 2008 tại Bắc Kinh, cộng đồng Người Việt tại Mỹ, Úc, Á, Âu châu… đồng lòng đứng lên phản đối Trung Quốc về sự đàn áp giết hại người Tây Tạng trong mưu toan chiếm cứ Tây Tạng, như một tuyên cáo với thế giới về sự chống đối hành vi tham tàn bạo ngược của Trung Quốc, kẻ đã cưỡng chiếm Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam.

 

Đúc kết:

Thế Vận Hội 2008 sẽ khai mạc tại Bắc Kinh vào ngày 8 tháng 8 năm nay. Cuộc rước đuốc Thế Vận Hội 2008 bắt đầu sau lễ châm lửa thiêng ngày 24.3.2008 tại Hy Lạp. Hôm 31.3 chủ tịch nhà nước Trung quốc Hồ Cẩm Đào đã chính thức khai mạc cuộc chạy rước đuốc Thế Vận tại Bắc kinh. Cuộc rước đuốc sẽ vượt 137.000 km trong vòng 130 ngày, qua 20 thành phố lớn của nhiều quốc gia trên thế giới, trước khi trở về lại Bắc Kinh để khai mạc Thế Vận Hội kỳ thứ 29.

Song hành với cuộc rước đuốc được thắp lên từ Hy Lạp, chúng ta nghe được sự vùng dậy từ mọi nơi trên bước chân của người dân Tây Tạng và dân chúng nhiều quốc gia khắp nơi trên thế giới, qua các cuộc tuần hành chống đối kêu gọi sự ủng hộ trong vấn đề đòi hỏi nhân quyền cho người dân Tây Tạng.

 

Ngòai tình hình hiện tại trước mắt về biến động tại Tây Tạng, chúng ta không thể quên hành vi ngang ngược của Trung Quốc trong vụ cưỡng chiếm Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam vừa qua. Thái độ cướp giật của Trung Quốc thực sự cũng dễ hiểu. Trường Sa và Hòang Sa là nguồn dầu khí và khóang sản, hải sản đã lọt vào ”mắt xanh” của những tên giặc cướp. Ngòai ra Hòang Sa và Trường Sa còn có vị thế quan trọng về mặt quân sự trên Biển Đông đối với Trung Quốc. Biển Đông là một trong những vùng biển rộn rịp nhất thế giới do từ 50% tàu chở dầu đi qua vùng nầy.

Tuyến đường sắt Thanh Hải – Tây Tạng nối Trung Quốc với Tây Tạng cũng không ngòai mục đích chuyển vận quặng mỏ, các nguồn tài nguyên thiên nhiên Trung Quốc sẽ khai thác ở Tây Tạng. Đặc biệt là mỏ uranium và nhiều tài nguyên phong phú khác chưa được khai thác hiện còn nằm sâu trong lòng đất giữa những ngọn núi trùng trùng điệp điệp của dãy Hy Mã Lạp Sơn hùng vĩ. Đã có những suy luận quanh vấn đề chiếm cứ Tây Tạng của Trung Quốc, rằng Tây Tạng còn là một địa điểm quân sự tối cần cho Trung Quốc, cũng như những liên hệ bao quanh việc sản xuất vũ khí hạt nhân, thử nghiệm và thải rác.   

Trung Quốc hiện đang ở trong tình trạng khan hiếm dầu hỏa. Sự kiện Mỹ chiếm Irak và các giếng dầu đã ảnh hưởng lên tình trạng khan hiếm dầu của Trung Quốc. Đã từ lâu Trung Quốc phải nhập cảng dầu để đáp ứng sức tiêu thụ dầu của dân chúng trong nước. Hiện tại số dầu dự  trữ đã cạn dần, và đây chính là mối lo rất lớn của Trung Quốc. Với sức tiêu thụ tuy rất dè xẻn ”thắt lưng buộc bụng” hiện nay, Trung Quốc vẫn phải có một số lượng dầu trên dưới 1,2 tỉ lít mỗi ngày. Trung Quốc đã phải nhập cảng 60% số lượng dầu cần có từ các quốc gia như Arabie Séoudite, Iran, Angola, Soudan, Oman, Congo, Yemen, Vénézúela, Équateur,Angola, Indonésie và Nga Sô. Song hành với sự tiêu thụ dầu, các sản phẩm của nền kỹ nghệ và cơ giới Trung Quốc đang sản xuất để bán ra cho thế giới, đòi hỏi một mức tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên rất lớn như xi măng, than đá, thép, kền, nhôm và đồng...

Trung Quốc ngòai việc tìm nguồn dầu khí cho sự tiêu thụ trong nước, còn nghĩ cách đương đầu với việc bảo vệ tàu chở dầu, bằng cách thiết lập nhiều hệ thống dẫn dầu an tòan phòng có sự quấy động hay áp lực của Anh và Mỹ trên biển cả. Con đường tải dầu vào Trung Quốc phải được bảo vệ và bảo đảm tối đa. Để thực hiện sự an tòan và vững chắc trong lảnh vực nầy Trung Quốc củng cố lực lượng quân sự và tìm cách đặt tầm kiểm sóat tại nhiều nơi. Việc khai thác quặng mỏ ở xứ người để cung cấp vật liệu cho các sản xuất cơ giới và kỹ nghệ bán ra nước ngòai đều nằm sẵn trong chiến lược nầy của Trung Quốc. Âm thầm và lặng lẽ qua hành vi ”cúi cong lưng với nụ cười ruồi trơn như mỡ” để mị kẻ địch, mua chuộc các nước có mỏ quặng và dầu như ở Phi Châu chẳng hạn, Trung Quốc đã vạch sẵn một chiến trận để từ từ thâu nhiếp thiên hạ vào tay. Trong thế cờ nầy, Trung Quốc đã sắp sẵn số phận của các nước có thể xâm chiếm, cướp giật, đồng hóa hay mua chuộc. Theo đúng chiến trận dàn sẵn, Trung Quốc đã và đang muối mặt từ bỏ lòng nhân đạo, bất chấp tất cả để thực hiện dần sự cướp bóc trắng trợn nầy.

 

Nói đến Thế Vận Hội là nói đến một sự thi đua lành mạnh trong tinh thần đòan kết. Sự đàn áp giết người của nhà cầm quyền Trung Quốc là hành vi vô nhân đạo đi ngược lại tinh thần và mục đích của cuộc thi đua nầy. Ánh đuốc của Thế Vận Hội là ánh đuốc soi sáng tình người để kết nối vòng tay của năm châu trong tinh thần hòa ái. Ngọn lửa Thế Vận Hội kỳ nầy đỏ rực một mầu, đó là mầu máu của người dân Tây Tạng, đã gục ngã vì sự bất công và tư tưởng đỏ bệnh họan do lòng tham vô đáy của Trung Quốc. Ngọn lửa Thế Vận Hội kỳ nầy lại sáng ngời tinh thần đòan kết trong cuộc đấu tranh bất bạo động của người dân Tây Tạng và những người ủng hộ chung vai sát cánh với họ. Lớp người trước ngã xuống vẫn có những lớp người sau vùng lên.  Hình ảnh đó đun nóng lòng nhiệt huyết và tạo can cường thắp sáng tiếng nói bảo vệ nhân quyền dân chủ. Hãy thắp lên một nén tâm hương như một ngọn hoa đăng hướng về những tình người vô giá, cầu nguyện cho những tấm lòng khí khái bất khuất!  

 

UYÊN HẠNH

Tháng 4 năm 2008

www.khoahoc.net


 

[1] The Art of Happiness: A Handbook for Living. 

How to See Yourself as You Really Are.

The good Heart: A Buddhist Perspective on The Teachings of Jesus.

Live in A Beter Way: Reflections of Truth, Love and Happiness.

Ethics for the New Millennium.

An Open Heart: Practicing Compassion in Everyday Life.

The Meaning of Life.

Stage of Meditation.

Healing Anger: The Power of Patience from a Buddhist Perspective.

The Universe in a Single Atom:  The Convergence of Science anh Spirituality .v.v..

[2] Thân tâm thường an lạc: Thân và Tâm khởi thủy là điểm đơn giản nhưng bị phức tạp hóa bởi sự huân tập của cái ngã (cái tôi), được đề cập và chỉ cho thấy trong các kinh điển Phật giáo. Có thể nghiên cứu đọc tụng để hiểu rõ trong những bộ kinh thường trì tụng ở các chùa Phật Giáo như Bát Nhã Tâm Kinh, Trái Tim và Mặt Trời, Kinh Người Áo Trắng, Kinh Biết Sống Một Mình, và những bộ kinh lớn như Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Kinh Lăng gìa Tâm Ấn... 

[3] Trí huệ là sản phẩm của tư tưởng, lý trí trên quan điểm nhân sinh. Theo lý thuyết nhà Phật, trong Duy Thức Học thì khi từ bỏ được tư tưởng là bỏ được cái thức, là làm thể hiện trí huệ. Trái tim là tấm lòng, là tình cảm. Khi lý và tình là một là đã đạt được nhất thể, là có được một phần của sự tỉnh thức, là đang tu tập theo đúng tinh thần của chân lý Bát Nhã. Biển cả là ngôn từ để chỉ cho thấy giới hạn một không gian. Ngôn ngữ lòai người chứa đựng sự đo lường, hình ảnh, mầu sắc và âm thanh. Không dùng giới hạn của ngôn từ không chỉ rõ được tầm quan trọng của một sự kiện. Trên căn bản vật lý, nói đến tình và lý của một người là nói đến tư tưởng (bộ não) và tình cảm (trái tim) của cái tôi. Trái tim và bộ não của chúng ta chỉ đo lường được bằng giới hạn của cm. Dùng giới hạn của biển cả là để cho thấy, qua cái giới hạn được đo lường bằng cm nầy, biển cả vượt qua giới hạn của cái tôi tuy trên phương diện vật lý thì nhỏ, nhưng trên tầm nhìn của tư tưởng thì lại rất “vĩ đại” đó, nghĩa là chỉ thấy nhu cầu của ta được tạo dựng đặt để trên cá nhân chũ nghĩa. Thế giới nầy có thể thóat ra ngòai phạm vi cái ta trên tất cả đó. Khi đầu óc tư tưởng và trái tim mình không còn thấy cái ta, nó sẽ chứa đựng cả thế giới nhân lọai gồm thế giới cỏ cây, động vật và có cả những lòai côn trùng nhỏ bé, thì cái thấy cái biết tạo một lý tưởng sống cho nhân lọai như Đức Đạt Lai Lạt Ma. Là cái thấy và cái biết “to lớn” hơn hành tinh nầy là quả đất, nó sẽ to lớn hơn biển cả, là sự vô giới hạn được giới hạn trong tầm nhìn một đôi mắt trần của chúng ta.  

                         

Trở về Trang Chính