Tiếp sau đó là tác phẩm thứ hai của Phạm Trần Anh được ra mắt
đồng bào. Và đến bây giờ tác phẩm thứ ba được ra đời: HUYỀN TÍCH
VIỆT. Sách dày 373 trang, xuất bản ngày 30.04.2008.
Chỉ trong vòng hơn 1 năm chúng tôi giới thiệu đến độc gỉa khắp
nơi tất cả 3 quyển sách của Phạm Trần Anh. Sức làm việc của anh
thật đáng nể phục! Một người ngoài sự kiện đôi mắt bị mù lòa,
phải thay thủy tinh thể, bị đánh gãy 2 hàm răng cùng những
thương tích khác, là nội thương, hiện tại là vấn đề cho sức khỏe
của anh, nhưng tại sao anh lại có được sức mạnh vô bờ để hòan
thành và liên tiếp cho xuất bản những tác phẩm lịch sử của mình.
Phải chăng nhờ một tiềm lực vô biên tìm thấy được qua niềm hãnh
diện lòng tự tin và hạnh phúc tiềm tàng của một người đã có được
cái nhìn rất sâu vào vũ trụ vào con người và nhận chân được giá
trị cao cả linh thiêng của huyết thống một dân tộc. Huyết thống
của một dân tộc năng động quật cường bất khuất dũng cảm vị tha
đã vượt qua không biết bao nhiêu khó khăn gian nan để gầy dựng
đất nước Việt. Từ đó biết được rằng sự hiện hữu của con người
chúng ta không đơn thuần được đóng khung trong bốn chữ ”đất,
nước, gió, lửa” mà chính thực do từ nguồn tạo nên thân tứ đại
nầy. Đời sống của mỗi một cá nhân là sự tiếp nối của những gì
thần kỳ lớn lao của một dân tộc. Phạm Trần Anh cho thấy anh đã
chia sẻ hạnh phúc làm con dân nước Việt, bằng công sức tham khảo
tra cứu phối hợp với khả năng cùng tấm lòng của mình, viết nên
Huyền Tích Việt.
HUYỀN TÍCH VIỆT có tính chất thu hút vì văn thức nhẹ nhàng trong
sáng. Những điển tích huyền sử với những diễn giải bình phẩm
chứng minh rõ ràng minh bạch cho ta hiểu rõ rằng, huyền tích là
lịch sử là đời sống xa xưa nhưng tiếp cận được với bây giờ. Một
tiếp nối linh động cho những gì rất linh thiêng rất phong phú
của ngàn xưa làm nền tảng cho sự sống, để sự cằn cỗi không dễ
dàng lớn mạnh và sự vị kỷ không còn được ”thăng hoa” trong cuộc
sống ngàn sau, là căn bản tạo niềm tin và đem lại sự vững chải,
là điểm tựa cần có được trong đời sống hiện tại của chúng ta.
Đọc Huyền Tích Việt chúng ta sẽ có nhiều nỗi
ngạc nhiên không nhỏ, cụ thể như đọan sau đây: Chính “Vạn thế Sư
biểu” của Hán tộc là Khổng Tử cũng đã phải đem những nghiên cứu,
sưu tập, học hỏi của nền văn minh Bách Việt phương Nam đặt để
thành những quy luật, trật tự cho xã hội phương Bắc. Tất cả
những “Tứ thư, ngũ kinh” được xem như tinh hoa của Hán tộc đã
được chính Khổng Tử xác nhận là ông chỉ kể lại “Thuật nhi bất
tác”, sao chép lại của tiền nhân chứ không phải do ông sáng
tác ra. Ngày nay, sự thật lịch sử đã được phục hồi khi giới
nghiên cứu đều xác nhận hầu hết các phát minh gọi là văn minh
Trung Quốc từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh kim loại, kỹ
thuật đúc đồng, cách làm giấy, cách nấu thủy tinh, cách làm
thuốc súng, kiến trúc nóc oằn mái và đầu dao cong vút … tất cả
đều là của nền văn minh Bách Việt.
Hoặc khi chúng ta đọc đến đọan: « Mới đây nhà Sử
học Shi Shi của Trung Quốc, công bố công trình nghiên cứu cho
biết người U-Việt đã biết đánh bắt cá ngoài biển khơi cách đây
cả 7 ngàn năm. Ngày nay các học giả quốc tế đều công nhận Việt
tộc (U-Việt) là một chiếc nôi của nền văn minh biển cả và đã
từng làm chủ một vùng từ Bắc xuống Nam Thái Bình Dương. Chính ý
chí quyết tâm sống còn cùng với tài nghệ đi biển mà cách đây mấy
ngàn năm khi bị đánh đuổi khỏi Trung Nguyên, họ đã vượt biển
ngược lên Nhật, ra Đài Loan rồi xuôi Nam xuống Hải Nam, Việt
Nam. Từ đây một cuộc hải trình mới xuống eo bể Malacca thành lập
quốc gia Tân Gia Ba (Singapore) năm 1819, thành lập Vương quốc
Malacca năm 1825 rồi xuống Mã Lai, sang Châu Mỹ định cư mà
phương Tây gọi một cách sai lầm là thổ dân da đỏ là Indian thực
ra là gốc Hoabinhian tức
Protoviets với đặc trưng là trồng lúa nước của
Malayo-ProtoViets tức Bách Việt ».
Không nắm được giá trị căn bản của đời sống sẽ
không thấy được giá trị đạo đức luân lý của con người. Nếu không
học hỏi được tình thương đồng bào qua công lao dựng nước bằng
một tâm lành trong sáng của ông cha chúng ta thì trên cương vị
của người lảnh đạo đất nước, người ta sẽ chỉ thấy được nhu cầu
đời sống qua mắt nhìn hạn hẹp để chỉ biết giới hạn tất cả quyền
lợi của con dân trong cái tôi của lòng tham vô đáy, do từ sự ích
kỷ của mình họ sẽ dễ dàng áp chế ép đặt nhân dân, mục đích biến
dân chúng thành những cỗ máy vô hồn. Thì giá trị và sự linh
thiêng của một đời sống con người hòan tòan bị hủy diệt. Trên
cương vị của một người dân, nếu không thấy được một gốc tích
đáng trân qúy của mình, khởi nguồn từ bao nhiêu thế hệ bao nhiêu
thăng trầm bằng những gương hy sinh cao cả những tấm lòng khí
khái quật cường của tiền nhân, chúng ta sẽ không học hỏi được,
thế nào là một cuộc sống vị tha, một cuộc sống biết đem tim óc
xây dựng cho người và cho mình. Sẽ làm đời sống của chúng ta
nghèo nàn đi, vì tất cả sẽ gói trọn trong chủ thuyết cá nhân,
thì hành động và tư tưởng sẽ không có gía trị đạo đức và luân
lý. Là nguy cơ của họa diệt vong, bán nước. Khi người dân của
đất nước đó là những con người vô cảm lạnh lùng, sẽ vong bản mất
gốc vì ”ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai mang tính thực dụng,
quên đi bản sắc văn hóa truyền thống Việt chan chứa tình người”.
Đọc Huyền Tích Việt ta bắt gặp nỗi lòng của một
người con dân yêu nước Việt vô bờ: ”Chính vì vậy, vấn đề hết sức
khẩn thiết là làm sao phải phục hoạt văn hóa Việt, phục hưng
minh triết Việt để tu tâm dưỡng tánh rèn luyện cá thể, để tẩy
rửa mọi ý hệ ngoại lai. Thế hệ con em chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về
cội nguồn dân tộc, thấy rõ hơn gía trị cao đẹp của bản sắc văn
hóa truyền thống Việt và tự hào là “con Rồng cháu Tiên” của một
dân tộc có gần năm ngàn năm văn hiến để ngẩng cao đầu sánh vai
cùng các cường quốc trong thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại”.
(PTA/HTV)
Cành cây lớn muôn lá, gốc vốn ở rễ. Nước
có nghìn dòng sông, muôn ngọn suối, vốn có gốc từ một ngọn
nguồn. Cảnh vật còn như vậy, huống chi là con người chúng ta.
Con người sinh ra đời, đời đời nối tiếp về sau, đều do các người
đời trước nuôi nấng dìu dắt vậy. (HOÀNG
ĐẾ QUANG TRUNG. Nói chuyện với
các bô lão làng Vân Nội)
Huyền Tích Việt có một nội dung hàm súc. Qua một
trong những mục trong sách, như mục "Những LỄ HỘI Dân gian của
người Việt cổ", chúng ta đọc được rất nhiều điều thú vị vì sự
phối hợp linh động của những nhận thức rất sáng những diễn giải
rất sâu sắc:- Lễ hội đua thuyền là một sinh hoạt văn hoá
truyền thống của Việt tộc đồng thời còn là dịp để mọi người
luyện tập vũ bộ, rèn luyện kỹ thuật đi biển, chiến đấu trên sông
nước đúng như lời của Việt Vương Câu Tiễn nói trong Việt tuyệt
thư: “Người Việt đi trên nước mà ở trên núi, lấy thuyền làm
xe, lấy chèo làm ngựa. Đi như gió thổi mà về nhà thì khó theo,
đã đánh thì quyết đánh không sợ chết, ấy là thường tánh của
người Việt” . .
Theo Phạm Trần Anh thì: « Truyền thuyết Việt Nam
không mang tính huyền thoại hoang đường của chủ nghĩa duy thần
cuồng tín hoặc duy nhân thái quá khiến con người bị nhấc bổng
lên không, để tự mãn cho rằng chỉ có con người làm nên tất cả,
chỉ có cái ta duy lý đó dẫn tới quan niệm độc tôn, độc đoán, độc
tài … của phương Tây. Truyền thuyết Việt
Nam không mang tính huyền thoại ly kỳ như truyền thuyết về tình
yêu của những anh hùng không thực và giai nhân tuyệt sắc của Ấn
Độ. Truyền thuyết Việt Nam cũng không thiên về sức mạnh của vật
chất, của bắp thịt siêu nhiên kiểu Samson, Hercule ... Truyền
thuyết Việt Nam cũng không tôn thờ những thần thánh “thế tục hơn
cả thế tục” kiểu thần Ouranos loạn luân vô đạo, thần tửu sắc
Baccus, nữ thần sắc đẹp Vénus dâm dục, thần quan thầy thương mại
Mercure tay cầm túi tiền, tay cầm dùi đục như thần thoại La Hy
phương Tây và những nước cận Đông khác”.
Tình cảm và tinh thần vị tha yêu nước yêu nhân
lọai là những gì đánh động được người đọc, cũng như sự trung
thực của một tài liệu sử học luôn luôn có một giá trị rất cao.
Trong Huyền Tích Việt Phạm Trần Anh đã lưu ý đến vấn đề nầy: -
Ngày nay không ai phủ nhận được giá trị của huyền thoại và
truyền thuyết được coi là lịch sử dân gian có giá trị trung thực
hơn cái gọi là “chính sử” tại một số nước độc tài hiện nay. Nói
cách khác như Jung, một triết gia thời đại thì “Huyền thoại
là đạo sống của một dân tộc” mà theo Wallace Cliff thì “
Nếu dân tộc nào để mất đi huyền thoại là đánh mất mạch nối vào
nguồn cội quá khứ của tổ tiên và cũng sẽ mất luôn căn bản cho
việc xây dựng tiền đồ của dân tộc đó”. Thật vậy Laurens và
de Post đã xem huyền thoại là di sản thiêng liêng nhất vì nó
diễn tả tinh thần dân tộc ở mức độ cao nhất. Micia Eliado cũng
cho rằng “Huyền thoại là gia sản quí báu nhất vì tính chất
thiêng liêng điển hình và mang lại ý nghĩa sống cho cả một dân
tộc”.
Ngòi bút của Phạm Trần Anh đem lại cho huyền sử
dân tộc Việt chất vị ngọt ngào vì chứa ít nhiều lãng mạn. Là nhà
văn cũng là nhà thơ nên đọc văn anh chúng ta sẽ cảm thấy thích
thú vì sự sống động trong lời văn và những cảm giác nhẹ nhàng
dịu ngọt có được. Điểm đặt biệt ở nhà viết sử Phạm Trần Anh là
anh cho chúng ta thấy được dù ngàn xưa hay bây giờ thì huyền
thọai hay truyện kể vẫn là kể về con người và kể cho con người.
Con người sống với tình yêu và cho tình yêu, nên huyền thọai, dã
sử hay hiện sử Việt đã tiềm tàng ẩn hịện tình yêu nam nữ trong
căn bản tình đồng bào vị tha và rộng lớn. Tình cảm và tinh thần
vị tha yêu nước yêu đồng bào là những gì đánh động được người
đọc. Huyền Tích Việt không mang tích chất xa vời mông lung mà
lại cho chúng ta cảm giác rất gần gủi. Với những hiểu biết có
được do Huyền Tích Việt đem lại chúng ta sẽ cảm nhận được hạnh
phúc của một niềm hảnh diện không nhỏ. Với niềm hảnh diện nầy
tâm chúng ta sẽ thỏai mái bình an hơn, lòng chúng ta sẽ rộng mở
và chúng ta sẽ vững chải hăng hái hơn. Với một cá thể vững vàng
năng động chúng ta dễ dàng mang lại những đóng góp hữu ích cho
đời cho người cho dân tộc Việt hùng cường bất khuất. Đây chính
là hạnh phúc Phạm Trần Anh muốn chia sẻ cùng chúng ta.
UYÊN HẠNH
Tháng 6 năm 2008

Cùng một tác
giả:
-
NGUỒN GỐC VIỆT TỘC
-
ĐOẠN TRƯỜNG BẤT KHUẤT
-
HUYỀN TÍCH VIỆT