Nụ Cười Vi Diệu 


 

Thiện Nghiêm

E-Mail: uyenhanh@khoahoc.net

13 tháng 07 năm 2006

    Nói đến mùa hạ mọi người thường nghĩ đến mùa của nắng ấm biển mát của những cuộc du lịch đến những nơi mà ở đó người ta được thảnh thơi ăn ngon mặc đẹp, hưởng thụ những lạc thú của trần gian. Mùa hạ cũng là mùa của những lễ lạc trang nghiêm được liên tiếp tổ chức tại các chùa chiền trong và ngoài nước, của những cực nhọc bận rộn mà người Phật tử hoan hỉ thực hiện.

Những việc làm đầy công qủa là cơ hội cho người Phật tử đến chùa tu thân tích đức, nghe Kinh để hiểu và để hành trì, nghĩa là nắm được cái phần lý thuyết trong lời dạy của chư Phật để khi rời khỏi chùa biết áp dụng vào đời sống của mình đem an lạc và hạnh phúc đến cho chính bản thân mình, cho gia đình và cho xã hội. Được như thế mới đích thực là người Phật tử thuần thành, là người biết nuôi dưỡng chủng tử của Từ Bi và Trí Tuệ.

Kể từ rằm tháng tư - Đại Lễ Phật Đản, cho đến rằm tháng bảy - Đại Lễ Vu Lan, chư tăng ni quy tập về chùa an cư kiết hạ. Đây là thời gian các tăng ni ở yên trong chùa không đi đâu và chuyên tâm dùng thời giờ tu học. Một năm với ba tháng tu tập như thế được kể là một năm tu của một tu sĩ, còn gọi là tuổi hạ. Phẩm chức của một tu sĩ được định vị qua các phật sự và tuổi hạ của vị tu sĩ nầy.

Đại Lễ Phật Đản, tổ chức vào ngày rằm tháng tư, là ngày lễ mừng Thái Tử Tất Đạt Đa (Siddharta) ra đời, 563 năm trước Dương lịch. 29 tuổi đi tu, 35 tuổi thành Đạo. Thuyết Pháp truyền Đạo trong 49 năm, 84 tuổi Ngài nhập Niết Bàn ( 479 năm trước Dương Lịch) .
 

Rằm tháng bảy các chùa tổ chức Đại Lễ Vu Lan còn gọi là Vu Lan Bồn, tiếng Phạn là Ullambana, để cầu nguyện cho cha mẹ, thân bằng quyến thuộc đã quá vãng khỏi bị đọa ở cảnh địa ngục ngạ qủy. Ngày rằm tháng bảy là ngày Tự Tứ cũng gọi là Hoan hỉ nhật, là ngày chư tăng ra hạ sau khi đã trải qua chín chục ngày an cư, và bằng công hạnh tu hành thanh tịnh chư Tăng nhận sự cúng dường của hàng Phật tử và cũng bằng vào công hạnh thanh tịnh nầy chư tăng làm lễ cầu nguyện cho tất cả chúng sinh.

Đây cũng là ngày chư tăng tụng giới gọi là Lễ Bố Tát, đọc giới bổn Ba La Đề Mộc Xoa (Pratimoksa), chư Tăng hội lại mà nghe đọc giới, và xem xét ai phạm tội thì tự mình khai ra trong Tăng chúng mà sám hối, để bảo tồn Giới luật của Phật đã ban ra, cũng để tu sửa những hành động tư tưởng của chính mình, tiếp tục cuộc đời tu hành đạo hạnh thanh tịnh hầu độ mình và độ đời.

Giới là phẩm hạnh của người tu, và giới cũng là sự bảo vệ cho các tu sĩ có được một tự do tuyệt đối. Vì không phạm giới tu sĩ sẽ được thong dong tự tại vô ngại. Người tu sĩ chân chính là người tu sĩ biết đem đạo vào đời, sống và hành Đạo trong Chánh Pháp, đi đứng nằm ngồi trong tứ đại uy nghi. Cũng giống như chúng ta khi đi ra đường có sự bảo vệ của luật giao thông. Không có luật lệ về giao thông thử hỏi chúng ta có có được cái tự do và sự an ninh khi đi lại trên đường phố, nhất là chạy xe ngòai xa lộ cũng như bất kỳ nơi đâu.   

Suốt thời gian vô hạ chùa tổ chức nhiều lễ lạc, cúng bái, với những buổi  cúng dường Trai Tăng, qua nhiều nghi thức, tác bạch thành tâm và nghiêm túc vô cùng.

Không khí trang nghiêm thanh tịnh, sự tu học nghiêm chỉnh đã làm nhiều Phật tử phát Bồ Đề tâm hướng đến con đường tu hành để thóat khổ đế, một trong bốn con đường phải qua, theo giáo pháp của Đức Bổn Sư khi Người trong lần chuyển Pháp Luân ở Vườn Lộc Uyển, thành Ba La Nại giảng về Tứ diệu đế cho năm anh em ông Kiều Trần Như, đó là khổ tập diệt đạo, chỉ cho thấy Trung Đạo để thóat vòng sinh tử luân hồi.

Trong các buổi cúng Quá đường tăng ni ngồi thành dãy trên chiếc bàn dài, tụng kinh và thọ thực theo đúng nghi thức, trong sự trang nghiêm và tâm thành của chư Phật tử. Những buổi cúng Quá đường rất thanh tịnh đẹp mắt. Chư tăng ni thân đắp cà sa vàng thanh tịnh và đạo hạnh.

Đây cũng là thời gian chùa tổ chức các buổi lễ cầu an cho người sống, cầu siêu cho người đã qúa vãng và những buổi lễ phóng sanh, hướng dẫn cho hàng Phật tử làm quen với giới không sát sanh, để làm tăng trưởng và nuôi dưỡng thiện tâm.

 

Phật tử vào chùa không ăn ngon mặc đẹp như những người đi du lịch phương xa. Trong chùa ăn chay và y phục của tăng ni cùng Phật tử là những bộ áo quần vạt hò, áo nhật bình, áo hoại sắc. Những tấm áo rộng thanh thản mang trên người của những người hành đạo – tu sĩ và người học đạo – cư sĩ cho thấy sự kính trọng của nhau và sự tôn trọng Phật pháp nghiêm chỉnh.

Chính ngay tại tấm áo hoại sắc của các tăng sĩ đã cho thấy cái đẹp, cái thanh tịnh của sự giải thoát mà Đức Phật đã khổ công chỉ bày.

Phật tử vân tập về chùa trong khuôn viên của nơi thanh tịnh thánh thiện để nương theo cái hạnh thanh tịnh của chư Tăng tụng kinh, niệm Phật, cúng dường trai tăng cầu an cho cha mẹ còn sống, hoặc cha mẹ, bà con thân thuộc đã qúa vãng.

Cái không khí trang nghiêm của mùa an cư kiết hạ phảng phất khắp nơi. Bước chân vào chùa thắp một nén hương, qùy gối nhìn lên bàn thờ, nhiếp tâm trong chánh niệm để thấy được nụ cười từ bi của Đức Phật, người Phật tử sẽ nghe tâm mình thanh thản, lòng mình lắng xuống, bao vọng động bôn ba của cuộc đời, bao tranh đua của cuộc sống trong giờ phút nầy trở thành xa vời qua cái nhìn từ bi, cái thanh thóat cao siêu trong nụ cười của Đức Phật:

Nụ cười vi diệu

Rung động trời xanh

Ánh mắt tuyệt vời

An dịu thân tâm

 

Ôi thanh tịnh nụ cười

Ôi từ bi ánh mắt

 

Qùy gối

Kính ngưỡng

Nguyện trở về

Nương tựa ...

 

(Trích: QUY Y/ Thơ Thiện Nghiêm)

 

Trong thời gian nầy nhiều chùa tổ chức những ngày quán niệm, những lần thọ bát quan trai, để Phật tử có cơ hội tụng kinh niệm Phật và tập giữ giới luật thanh tịnh.

Những buổi sáng sớm sau lần tụng công phu khuya tiếng chuông tiếng mõ đã đưa mình về lại với mình, để thanh thản bách bộ quanh khuôn viên chùa nghe chim hót chào mừng nắng mới, để chúng ta có cơ hội đón mừng một ngày mới với một cái nhìn vào cuộc đời rõ nét hơn và cởi mở hơn xưa: 

Một kiểng chùa trang nhã

Một khung trời bao la

Một cõi lòng thanh tịnh

Nắng hạ vàng ươm hoa

 

Chim ca mừng nắng mới

Cỏ cây thì thào đưa

Lời ru êm của gió

Ngân vọng tiếng chuông chùa

 

Nắng đọng trên ngàn lá

Nắng vờn bên khóm hoa

Nắng ươm hương giải thoát

Hương nhẹ nhàng lan xa

 

Mắt người ngời hương hoa

Hương từ bi ưu ái

Hoa giải thoát diệu sâu

Ta về đây qùy gối

Nương theo ánh Đạo mầu  

 

Trích: Hạ Vàng Liễu Quán*

Thơ Thiện Nghiêm

(*Liễu: là thấy và biết. Quán: là nhìn sâu vào sự kiện sự vật.

Thiền sư Liễu Quán, dòng Lâm Tế chánh tông, đã lập rất nhiều chùa trong đó có Chùa Thiền Tôn ở núi Thiên Thai Huế vào năm 1708. Ngài được nhắc đến với công án 5 năm: “Vạn pháp quy nhất nhất quy hà xứ“)

Cho dù ở đâu cũng thế, ở phương xa “đất khách quê nhà“ hay ở “xứ lạ quê mình“ biết được Đạo nghe được Pháp Phật để tu hành là một hạnh phúc lớn. Cái hạnh phúc nầy chỉ thực nghiệm được bởi chính sự tu tập của chúng ta. Cái an lạc đầy đạo vị nầy chỉ có thể thể nghiệm bằng công hạnh tu tập, không thể diễn tả bằng ngôn từ, vì “ngôn ngữ không thể tải được Đạo“‚ bất khả tư nghì!’

Như uống trà thì biết được mùi thơm vị nóng của chén trà, không thể dùng ngôn ngữ để diễn đạt đầy đủ cái ngon và cái nóng của một chén trà.Ví như nói ăn cơm sẽ no bụng, nhưng nói vậy chỉ là lý thuyết, làm sao no được nếu không tự chính mình ăn cơm vào bụng.

Có người nói tôi tu hành tôi không làm việc ác, chỉ nói thôi mà không hành thì chỉ mới là cái phần lý thuyết, phải hành mới tạo được kết qủa, vì Hành mới tạo Hạnh. Ví như quyển Kinh của Đức Phật chứa bao nhiêu là giáo lý nhiệm mầu, để chúng ta tu tập và được giải thoát, tự quyển Kinh tuy có bao nhiêu điều mầu nhiệm ghi trong đó, chỉ là một mớ chữ chết, không thể tự nó thành Phật được.

Cuộc đời chúng ta trôi qua trong bao nhiêu năm tháng, kể ra thì là một thời gian thật dài, có người đã sống qua bảy tám chục năm, có người còn hơn thế nữa, nhưng nhìn lại thì đúng là thoắt đã bao năm và chúng ta còn lại gì? Đức Phật bảo đời là bể khổ thật đúng thay, thử nhìn lại một ngày của chúng ta có bao nhiêu giây phút được an vui thoải mái, nếu có chăng đi nữa thì có đích thực thoải mái hay không?

Những niềm vui có được rồi cũng qua đi, sẽ như một làn gió thỏang, chỉ là những phút giây của sự vay mượn tạm bợ và đã chắc gì đem lại cho chúng ta một an lạc nhẹ nhàng vĩnh cửu trong tâm, vì chúng ta luôn quay cuồng theo cái có, được, mất, còn của lẽ vô thường. Có nhiều niềm vui lôi kéo theo tội lỗi và là khởi đầu của một chuỗi dài những khổ đau nào đó trong nay mai, vì cái niềm vui mong manh đó sẽ nuôi dưỡng những ước mơ, và nếu chỉ là ước mơ thôi thì đã chắc gì thành sự thật. Nếu có thành sự thật chăng nữa thì có thể sự thật nầy sẽ tạo những khổ đau cho mình và cho người khác. Đúng thế, nếu niềm vui, nếu ước mơ nầy có tính cách vị kỹ, nghĩa là để làm thỏa mãn những nhu cầu cá nhân, mà đã là cá nhân thì cái Ngã (cái Tôi) đã chiếm hết không gian của mình rồi, đâu còn chỗ cho người khác nữa.

Nếu không gian của ta đã bị cái ngã lấp đầy thì không có chỗ cho tha nhân, và một khi đã không có chỗ cho người thì là đây là cái tình cảm ích kỷ vụ lợi, không vị tha. Đã không có chỗ cho người thì sẽ không có sự hòa hợp, vậy là chính mình đã đưa mình ra làm chủ cái ốc đảo cô đơn rồi đó! Và tương lai là gì? Là nỗi sầu là phiền não sẽ đến thăm!

Khi đã là chủ nhân của một hải đảo cô đơn thì chỉ có nước Cam lồ mới tẩy được cái cô đơn nầy mà thôi. Cam lồ nói theo pháp tướng thì đó là bất tử tửu có 4 mầu xanh, đỏ, vàng, trắng, là chất thuốc Phật ngon ngọt và linh diệu hơn các thứ thuốc phàm, hễ rưới lên mình ai thì người ấy dứt hết bệnh tật, dầu sắp chết cũng được sống lại. Nói theo thể tánh thì đó là Pháp Phật là Niết Bàn là dứt tuyệt phiền não, là giáo pháp linh diệu đưa người ta tới giải thóat.

Cam lồ là năm nén tâm hương, xin thắp lên thành kính cúng dường chư Phật:

                       Giới hương, Định hương, Tuệ hương, Giải thoát, Giải thoát tri kiến hương

Đã thấy được con đường, con xin thành kính đốt lên ba nén nhang đảnh lễ chư Phật:

- Nén thứ nhất, cúng dường chư Phật (Buddha) để nương theo gương Ngài, nguyện sống cuộc đời giải thoát.

- Nén thứ hai, cúng dường Pháp Phật  (Dharma) nguyện tu tập hành trì theo sự chỉ dạy của Đức Phật, để sống cuộc sống xứng đáng, lợi mình và lợi người.

- Nén thứ ba, thắp sáng tăng thân (Shanga) những  người con Phật, đoàn thể của những người tu tập nguyện sống cuộc đời tỉnh thức.

Tăng thân, với chiếc áo nhà Phật hành Đạo, đem lời dạy của chư Phật, sống trong giới luật thanh tịnh dưới chiếc áo nhà tu trao truyền cho chúng ta. Biết tu hành và biết nương theo chiếc áo của Phật sẽ cho chúng ta những ngày, những giờ phút qúy báu trong cuộc sống của chúng ta. Nói đến chiếc áo của tu sĩ chúng ta đã được giảng rõ: hãy nương vào giáo lý giải thoát trên chiếc áo nhà Phật của người tu, đừng nương vào một cá nhân nào hết. Thấy được như thế là có được cái thấy sáng suốt và không bị thất vọng đến nỗi phải 'bỏ tu hành' khi chúng ta vào một thời điểm nào đó khám phá ra rằng các tăng, ni cũng chỉ là người phàm mắt thịt như chúng ta. Họ cũng đang tu chứ chưa thành Phật.

Hãy thắp sáng năm nén tâm hương, hãy hành trì và nhiếp tâm trong chánh niệm, nhớ tưởng tới Phật. Ở đâu cũng có Phật có Pháp và ở đâu cũng có tâm hương, không nhất thiết phải đến chùa mới có Phật có Pháp. Chỗ nào thanh tịnh chỗ ấy có Phật có Pháp.

Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp

 Lễ lạc chỉ là phần hình thức, nhưng rất cần thiết, vì đó là một trong những phương tiện dẫn dắt ta đến chùa, khép mình dưới sự chỉ dẫn dưới quy luật của Chánh pháp, chính là phương tiện cho ta thấy được Chân lý. Dần dần với sự tu tập chúng ta sẽ thấy phương tiện và cứu cánh là một, để rồi cuối cùng cởi bỏ được tất cả mọi ràng buộc mọi vướng mắc và có thể bước được những bước chân thảnh thơi trên con đường giải thóat, như lời Phật dạy: “Qua sông phải bỏ bè. Chánh pháp còn bỏ huống gì là phi pháp“ (Kinh Kim Cang).

Nhược thủ phi pháp tướng tức trước ngã nhơn chúng sanh thọ giả. Thị cố bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp. Dĩ thị nghĩa cố, Như Lai thường thuyết: Nhữ đẳng Tỳ Khưu tri ngã thuyết pháp như phiệt dụ gỉa, pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp   (Kim Cang Kinh)

Phương tiện lễ lạy bái sám giúp chúng ta được tỉnh tâm và giúp ta gọt bớt cái Ngã, có thế tâm chúng ta mới có chỗ chứa tình thương thay vì thù hận, trí óc chúng ta mới thấy được cái hay cái đẹp của sự giải thoát để sống cuộc sống lành và thiện thay vì khư khư ôm chặc sự sân hận để tạo thêm ràng buộc vướng mắc.

Khi đứng trước hình tượng của chư Phật chúng ta chắp tay cung kính lạy. Hai bàn tay chắp thành hình hoa sen, biểu tượng của sự thanh khiết trong sạch đó là ý nghĩa của sự giải thoát.

Chúng ta đưa hai bàn tay lên ngay trán (phần tư tưởng), kéo thẳng từ trán xuống, đi ngang qua miệng (phần lời nói) và đi thẳng xuống ngực, nơi mình cảm nhận được tiếng đập của trái tim, dừng lại đây và cung kính cúi đầu vái xuống (lòng kính trọng thay lời chào).

Bạn đã thấy được cái đẹp và ý nghĩa cái lạy như thế nầy trong giáo lý của Đức Phật chưa? Xin thưa: đó là, tư tưởng thanh tịnh, lời nói thanh tịnh và tấm lòng thanh tịnh. Với ba hạnh thanh tịnh như thế (thân tâm nhất như) xin chào Người bằng lòng tôn kính của con.

(Tư tưởng thanh tịnh: không nghỉ xấu. Lời nói thanh tịnh: không nói ác. Trái tim thanh tịnh: thương không phân biệt. Hành trì như thế sẽ còn lại sự tôn kính đối với tha nhân) . Đây là cái hạnh của Ngài Thường Bất Khinh Bồ Tát trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

Lạy được cái lạy như thế thể hiện được từ bi và trí tuệ của người Phật tử, xứng đáng là con của Phật. Xứng đáng vì đã hiểu được lời Phật dạy và đang hành trì lời dạy nầy. Lạy được như thế, chúng ta sẽ không còn khúm núm còng lưng xuống vì sợ hải, để van nài. Chúng ta sẽ nhìn thẳng mắt, đứng thẳng lưng. Chính qua cái lạy nầy chúng ta đã tự phát nguyện tu tập. Một cái lạy như thế đã hội đủ tinh thần Bi Trí Dũng.

Nụ cười của Đức Phật vi diệu vì qua nụ cười của Người ta hiểu và biết thương yêu nhân loại, biết dẹp bớt cái Tôi vĩ đại để có thể mở rộng lòng và nhìn vào cuộc đời bằng cái nhìn sáng suốt có tình thương.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát

Phật Lịch 2550

 

THIỆN NGHIÊM Đòan Thị Đoan-Trang

(viết ngày 09.07.2006)

 

Trở về Trang Chính