|
Nói đến mùa hạ mọi người thường nghĩ đến
mùa của nắng ấm biển mát của những cuộc du lịch đến những nơi mà
ở đó người ta được thảnh thơi ăn ngon mặc đẹp, hưởng thụ những
lạc thú của trần gian.
Mùa
hạ cũng là mùa của những lễ lạc trang nghiêm được liên tiếp tổ
chức tại các chùa chiền trong và ngoài nước, của những cực nhọc
bận rộn mà người Phật tử hoan hỉ thực hiện.
Những
việc làm đầy công qủa là cơ hội cho người Phật tử đến chùa tu
thân tích đức, nghe Kinh để hiểu và để hành trì, nghĩa là nắm
được cái phần lý thuyết trong lời dạy của chư Phật để khi rời
khỏi chùa biết áp dụng vào đời sống của mình đem an lạc và hạnh
phúc đến cho chính bản thân mình, cho gia đình và cho xã hội.
Được
như thế mới đích thực là người Phật tử thuần thành, là người
biết nuôi dưỡng chủng tử của Từ Bi và Trí Tuệ.
Kể từ
rằm tháng tư - Đại Lễ Phật Đản, cho đến rằm tháng bảy - Đại Lễ
Vu Lan, chư tăng ni quy tập về chùa an cư kiết hạ. Đây là thời
gian các tăng ni ở yên trong chùa không đi đâu và chuyên tâm
dùng thời giờ tu học. Một
năm với ba tháng tu tập như thế được kể là một năm tu của một tu
sĩ, còn gọi là tuổi hạ. Phẩm
chức của một tu sĩ được định vị qua các phật sự và tuổi hạ của
vị tu sĩ nầy.
Đại
Lễ Phật Đản, tổ chức vào ngày rằm tháng tư, là ngày lễ mừng Thái
Tử Tất Đạt Đa (Siddharta) ra đời, 563 năm trước Dương lịch. 29
tuổi đi tu, 35 tuổi thành Đạo. Thuyết Pháp truyền Đạo trong 49
năm, 84 tuổi Ngài nhập Niết Bàn ( 479 năm trước Dương Lịch) .
Rằm
tháng bảy các chùa tổ chức Đại Lễ Vu Lan còn gọi là Vu Lan Bồn,
tiếng Phạn là Ullambana, để cầu nguyện cho cha mẹ, thân bằng
quyến thuộc đã quá vãng khỏi bị đọa ở cảnh địa ngục ngạ qủy. Ngày
rằm tháng bảy là ngày Tự Tứ cũng gọi là Hoan hỉ nhật, là ngày
chư tăng ra hạ sau khi đã trải qua chín chục ngày an cư, và bằng
công hạnh tu hành thanh tịnh chư Tăng nhận sự cúng dường của
hàng Phật tử và cũng bằng vào công hạnh thanh tịnh nầy chư tăng
làm lễ cầu nguyện cho tất cả chúng sinh.
Đây
cũng là ngày chư tăng tụng giới gọi là Lễ Bố Tát, đọc giới bổn
Ba La Đề Mộc Xoa (Pratimoksa), chư Tăng hội lại mà nghe đọc
giới, và xem xét ai phạm tội thì tự mình khai ra trong Tăng
chúng mà sám hối, để bảo tồn Giới luật của Phật đã ban ra, cũng
để tu sửa những hành động tư tưởng của chính mình, tiếp tục cuộc
đời tu hành đạo hạnh thanh tịnh hầu độ mình và độ đời.
Giới
là phẩm hạnh của người tu, và giới cũng là sự bảo vệ cho các tu
sĩ có được một tự do tuyệt đối. Vì không phạm giới tu sĩ sẽ được
thong dong tự tại vô ngại. Người tu sĩ chân chính là người tu sĩ
biết đem đạo vào đời, sống và hành Đạo trong Chánh Pháp, đi đứng
nằm ngồi trong tứ đại uy nghi. Cũng giống như chúng ta khi đi ra
đường có sự bảo vệ của luật giao thông. Không có luật lệ về giao
thông thử hỏi chúng ta có có được cái tự do và sự an ninh khi đi
lại trên đường phố, nhất là chạy xe ngòai xa lộ cũng như bất kỳ
nơi đâu.
Suốt
thời gian vô hạ chùa tổ chức nhiều lễ lạc, cúng bái, với những
buổi cúng dường Trai Tăng, qua nhiều nghi thức, tác bạch thành
tâm và nghiêm túc vô cùng.
Không
khí trang nghiêm thanh tịnh, sự tu học nghiêm chỉnh đã làm nhiều
Phật tử phát Bồ Đề tâm hướng đến con đường tu hành để thóat khổ
đế, một trong bốn con đường phải qua, theo giáo pháp của Đức Bổn
Sư khi Người trong lần chuyển Pháp Luân ở Vườn Lộc Uyển, thành
Ba La Nại giảng về Tứ diệu đế cho năm anh em ông Kiều Trần Như,
đó là khổ tập diệt đạo, chỉ cho thấy Trung Đạo để thóat vòng
sinh tử luân hồi.
Trong
các buổi cúng Quá đường tăng ni ngồi thành dãy trên chiếc bàn
dài, tụng kinh và thọ thực theo đúng nghi thức, trong sự trang
nghiêm và tâm thành của chư Phật tử. Những
buổi cúng Quá đường rất thanh tịnh đẹp mắt. Chư tăng ni thân đắp
cà sa vàng thanh tịnh và đạo hạnh.
Đây
cũng là thời gian chùa tổ chức các buổi lễ cầu an cho người
sống, cầu siêu cho người đã qúa vãng và những buổi lễ phóng
sanh, hướng dẫn cho hàng Phật tử làm quen với giới không sát
sanh, để làm tăng trưởng và nuôi dưỡng thiện tâm.

Phật
tử vào chùa không ăn ngon mặc đẹp như những người đi du lịch
phương xa. Trong chùa ăn chay và y phục của tăng ni cùng Phật tử
là những bộ áo quần vạt hò, áo nhật bình, áo hoại sắc. Những tấm
áo rộng thanh thản mang trên người của những người hành đạo – tu
sĩ và người học đạo – cư sĩ cho thấy sự kính trọng của nhau và
sự tôn trọng Phật pháp nghiêm chỉnh.
Chính
ngay tại tấm áo hoại sắc của các tăng sĩ đã cho thấy cái đẹp,
cái thanh tịnh của sự giải thoát mà Đức Phật đã khổ công chỉ
bày.
Phật
tử vân tập về chùa trong khuôn viên của nơi thanh tịnh thánh
thiện để nương theo cái hạnh thanh tịnh của chư Tăng tụng kinh,
niệm Phật, cúng dường trai tăng cầu an cho cha mẹ còn sống, hoặc
cha mẹ, bà con thân thuộc đã qúa vãng.
Cái
không khí trang nghiêm của mùa an cư kiết hạ phảng phất khắp
nơi. Bước chân vào chùa thắp một nén hương, qùy gối nhìn lên bàn
thờ, nhiếp tâm trong chánh niệm để thấy được nụ cười từ bi của
Đức Phật, người Phật tử sẽ nghe tâm mình thanh thản, lòng mình
lắng xuống, bao vọng động bôn ba của cuộc đời, bao tranh đua của
cuộc sống trong giờ phút nầy trở thành xa vời qua cái nhìn từ
bi, cái thanh thóat cao siêu trong nụ cười của Đức Phật:
Nụ cười vi diệu
Rung động trời xanh
Ánh mắt tuyệt vời
An dịu thân tâm
Ôi thanh tịnh nụ cười
Ôi từ bi ánh mắt
Qùy gối
Kính ngưỡng
Nguyện trở về
Nương tựa ...
(Trích: QUY Y/ Thơ Thiện
Nghiêm)
Trong
thời gian nầy nhiều chùa tổ chức những ngày quán niệm, những lần
thọ bát quan trai, để Phật tử có cơ hội tụng kinh niệm Phật và
tập giữ giới luật thanh tịnh.
Những
buổi sáng sớm sau lần tụng công phu khuya tiếng chuông tiếng mõ
đã đưa mình về lại với mình, để thanh thản bách bộ quanh khuôn
viên chùa nghe chim hót chào mừng nắng mới, để chúng ta có cơ
hội đón mừng một ngày mới với một cái nhìn vào cuộc đời rõ nét
hơn và cởi mở hơn xưa:
Một kiểng chùa trang nhã
Một khung trời bao la
Một cõi lòng thanh tịnh
Nắng hạ vàng ươm hoa
Chim ca mừng nắng mới
Cỏ cây thì thào đưa
Lời ru êm của gió
Ngân vọng tiếng chuông
chùa
Nắng đọng trên ngàn lá
Nắng vờn bên khóm hoa
Nắng ươm hương giải thoát
Hương nhẹ nhàng lan xa
Mắt người ngời hương hoa
Hương từ bi ưu ái
Hoa giải thoát diệu sâu
Ta về đây qùy gối
Nương theo ánh Đạo mầu
Trích: Hạ Vàng Liễu Quán*
Thơ Thiện Nghiêm
(*Liễu: là thấy và biết. Quán: là nhìn sâu vào sự kiện sự vật.
Thiền
sư Liễu Quán, dòng Lâm Tế chánh tông, đã lập rất nhiều chùa
trong đó có Chùa Thiền Tôn ở núi Thiên Thai Huế vào năm 1708.
Ngài được nhắc đến với công án 5 năm: “Vạn pháp quy nhất nhất
quy hà xứ“)
Cho
dù ở đâu cũng thế, ở phương xa “đất khách quê nhà“ hay ở “xứ lạ
quê mình“ biết được Đạo nghe được Pháp Phật để tu hành là một
hạnh phúc lớn. Cái
hạnh phúc nầy chỉ thực nghiệm được bởi chính sự tu tập của chúng
ta. Cái an lạc đầy đạo vị nầy chỉ có thể thể nghiệm bằng công
hạnh tu tập, không thể diễn tả bằng ngôn từ, vì “ngôn ngữ không
thể tải được Đạo“‚ bất khả tư nghì!’
Như
uống trà thì biết được mùi thơm vị nóng của chén trà, không thể
dùng ngôn ngữ để diễn đạt đầy đủ cái ngon và cái nóng của một
chén trà.Ví
như nói ăn cơm sẽ no bụng, nhưng nói vậy chỉ là lý thuyết, làm
sao no được nếu không tự chính mình ăn cơm vào bụng.
Có
người nói tôi tu hành tôi không làm việc ác, chỉ nói thôi mà
không hành thì chỉ mới là cái phần lý thuyết, phải hành mới tạo
được kết qủa, vì Hành mới tạo Hạnh. Ví
như quyển Kinh của Đức Phật chứa bao nhiêu là giáo lý nhiệm mầu,
để chúng ta tu tập và được giải thoát, tự quyển Kinh tuy có bao
nhiêu điều mầu nhiệm ghi trong đó, chỉ là một mớ chữ chết, không
thể tự nó thành Phật được.
Cuộc
đời chúng ta trôi qua trong bao nhiêu năm tháng, kể ra thì là
một thời gian thật dài, có người đã sống qua bảy tám chục năm,
có người còn hơn thế nữa, nhưng nhìn lại thì đúng là thoắt đã
bao năm và chúng ta còn lại gì? Đức
Phật bảo đời là bể khổ thật đúng thay, thử nhìn lại một ngày của
chúng ta có bao nhiêu giây phút được an vui thoải mái, nếu có
chăng đi nữa thì có đích thực thoải mái hay không?
Những
niềm vui có được rồi cũng qua đi, sẽ như một làn gió thỏang, chỉ
là những phút giây của sự vay mượn tạm bợ và đã chắc gì đem lại
cho chúng ta một an lạc nhẹ nhàng vĩnh cửu trong tâm, vì chúng
ta luôn quay cuồng theo cái có, được, mất, còn của lẽ vô thường.
Có
nhiều niềm vui lôi kéo theo tội lỗi và là khởi đầu của một chuỗi
dài những khổ đau nào đó trong nay mai, vì cái niềm vui mong
manh đó sẽ nuôi dưỡng những ước mơ, và nếu chỉ là ước mơ thôi
thì đã chắc gì thành sự thật. Nếu
có thành sự thật chăng nữa thì có thể sự thật nầy sẽ tạo những
khổ đau cho mình và cho người khác. Đúng thế, nếu niềm vui, nếu
ước mơ nầy có tính cách vị kỹ, nghĩa là để làm thỏa mãn những
nhu cầu cá nhân, mà đã là cá nhân thì cái Ngã (cái Tôi) đã chiếm
hết không gian của mình rồi, đâu còn chỗ cho người khác nữa.
Nếu
không gian của ta đã bị cái ngã lấp đầy thì không có chỗ cho tha
nhân, và một khi đã không có chỗ cho người thì là đây là cái
tình cảm ích kỷ vụ lợi, không vị tha. Đã không có chỗ cho người
thì sẽ không có sự hòa hợp, vậy là chính mình đã đưa mình ra làm
chủ cái ốc đảo cô đơn rồi đó! Và tương lai là gì? Là nỗi sầu là
phiền não sẽ đến thăm!

Khi
đã là chủ nhân của một hải đảo cô đơn thì chỉ có nước Cam lồ mới
tẩy được cái cô đơn nầy mà thôi. Cam
lồ nói theo pháp tướng thì đó là bất tử tửu có 4 mầu xanh, đỏ,
vàng, trắng, là chất thuốc Phật ngon ngọt và linh diệu hơn các
thứ thuốc phàm, hễ rưới lên mình ai thì người ấy dứt hết bệnh
tật, dầu sắp chết cũng được sống lại. Nói
theo thể tánh thì đó là Pháp Phật là Niết Bàn là dứt tuyệt phiền
não, là giáo pháp linh diệu đưa người ta tới giải thóat.
Cam
lồ là năm nén tâm hương, xin thắp lên thành kính cúng dường chư
Phật:
Giới hương, Định hương, Tuệ hương,
Giải thoát, Giải thoát tri kiến hương
Đã
thấy được con đường, con xin thành kính đốt lên ba nén nhang
đảnh lễ chư Phật:
- Nén
thứ nhất, cúng dường chư Phật (Buddha) để nương theo gương Ngài,
nguyện sống cuộc đời giải thoát.
- Nén
thứ hai, cúng dường Pháp Phật (Dharma) nguyện tu tập hành trì
theo sự chỉ dạy của Đức Phật, để sống cuộc sống xứng đáng, lợi
mình và lợi người.
- Nén
thứ ba, thắp sáng tăng thân (Shanga) những người con Phật, đoàn
thể của những người tu tập nguyện sống cuộc đời tỉnh thức.
Tăng
thân, với chiếc áo nhà Phật hành Đạo, đem lời dạy của chư Phật,
sống trong giới luật thanh tịnh dưới chiếc áo nhà tu trao truyền
cho chúng ta. Biết tu hành và biết nương theo chiếc áo của Phật
sẽ cho chúng ta những ngày, những giờ phút qúy báu trong cuộc
sống của chúng ta. Nói
đến chiếc áo của tu sĩ chúng ta đã được giảng rõ: hãy nương vào
giáo lý giải thoát trên chiếc áo nhà Phật của người tu, đừng
nương vào một cá nhân nào hết. Thấy
được như thế là có được cái thấy sáng suốt và không bị thất vọng
đến nỗi phải 'bỏ tu hành' khi chúng ta vào một thời điểm nào đó
khám phá ra rằng các tăng, ni cũng chỉ là người phàm mắt thịt
như chúng ta. Họ cũng đang tu chứ chưa thành Phật.
Hãy
thắp sáng năm nén tâm hương, hãy hành trì và nhiếp tâm trong
chánh niệm, nhớ tưởng tới Phật. Ở đâu cũng có Phật có Pháp và ở
đâu cũng có tâm hương, không nhất thiết phải đến chùa mới có
Phật có Pháp. Chỗ nào thanh tịnh chỗ ấy có Phật có Pháp.
Nhất thiết pháp giai
thị Phật pháp
Lễ
lạc chỉ là phần hình thức, nhưng rất cần thiết, vì đó là một
trong những phương tiện dẫn dắt ta đến chùa, khép mình dưới sự
chỉ dẫn dưới quy luật của Chánh pháp, chính là phương tiện cho
ta thấy được Chân lý. Dần
dần với sự tu tập chúng ta sẽ thấy phương tiện và cứu cánh là
một, để rồi cuối cùng cởi bỏ được tất cả mọi ràng buộc mọi vướng
mắc và có thể bước được những bước chân thảnh thơi trên con
đường giải thóat, như lời Phật dạy: “Qua sông phải bỏ bè. Chánh
pháp còn bỏ huống gì là phi pháp“ (Kinh Kim Cang).
Nhược
thủ phi pháp tướng tức trước ngã nhơn chúng sanh thọ giả. Thị cố
bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp. Dĩ thị nghĩa cố, Như Lai
thường thuyết: Nhữ đẳng Tỳ Khưu tri ngã thuyết pháp như phiệt dụ
gỉa, pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp (Kim Cang Kinh)
Phương tiện lễ lạy bái sám giúp chúng ta được tỉnh tâm và giúp
ta gọt bớt cái Ngã, có thế tâm chúng ta mới có chỗ chứa tình
thương thay vì thù hận, trí óc chúng ta mới thấy được cái hay
cái đẹp của sự giải thoát để sống cuộc sống lành và thiện thay
vì khư khư ôm chặc sự sân hận để tạo thêm ràng buộc vướng mắc.
Khi
đứng trước hình tượng của chư Phật chúng ta chắp tay cung kính
lạy. Hai bàn tay chắp thành hình hoa sen, biểu tượng của sự
thanh khiết trong sạch đó là ý nghĩa của sự giải thoát.

Chúng
ta đưa hai bàn tay lên ngay trán (phần tư tưởng), kéo thẳng từ
trán xuống, đi ngang qua miệng (phần lời nói) và đi thẳng xuống
ngực, nơi mình cảm nhận được tiếng đập của trái tim, dừng lại
đây và cung kính cúi đầu vái xuống (lòng kính trọng thay lời
chào).
Bạn
đã thấy được cái đẹp và ý nghĩa cái lạy như thế nầy trong giáo
lý của Đức Phật chưa? Xin
thưa: đó là, tư tưởng thanh tịnh, lời nói thanh tịnh và tấm lòng
thanh tịnh. Với ba hạnh thanh tịnh như thế (thân tâm nhất như)
xin chào Người bằng lòng tôn kính của con.
(Tư
tưởng thanh tịnh: không nghỉ xấu. Lời nói thanh tịnh: không nói
ác. Trái tim thanh tịnh: thương không phân biệt. Hành trì như
thế sẽ còn lại sự tôn kính đối với tha nhân) . Đây
là cái hạnh của Ngài Thường Bất Khinh Bồ Tát trong Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa.
Lạy
được cái lạy như thế thể hiện được từ bi và trí tuệ của người
Phật tử, xứng đáng là con của Phật. Xứng đáng vì đã hiểu được
lời Phật dạy và đang hành trì lời dạy nầy. Lạy
được như thế, chúng ta sẽ không còn khúm núm còng lưng xuống vì
sợ hải, để van nài. Chúng
ta sẽ nhìn thẳng mắt, đứng thẳng lưng. Chính qua cái lạy nầy
chúng ta đã tự phát nguyện tu tập. Một cái lạy như thế đã hội đủ
tinh thần Bi Trí Dũng.
Nụ
cười của Đức Phật vi diệu vì qua nụ cười của Người ta hiểu và
biết thương yêu nhân loại, biết dẹp bớt cái Tôi vĩ đại để có thể
mở rộng lòng và nhìn vào cuộc đời bằng cái nhìn sáng suốt có
tình thương.
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam
Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát
Phật
Lịch 2550
THIỆN
NGHIÊM Đòan Thị Đoan-Trang
(viết
ngày 09.07.2006)
Trở về Trang Chính
|