Phần lý thuyết:
Thiền là vô niệm, công án
thiền là con đường ’đạt’ đến vô niệm. Thiền qua cái nhìn của
chúng ta có chiều sâu và chiều dài. Sâu vì được coi là một triết
lý sống, và dài vì đòi hỏi sự tìm hiểu, nghiên cứu và thực hành.
Đó là cái thấy của chúng ta!
Đời càng phức tạp và có
nhiều nỗi đau thì ’vực sâu tư tưởng’ nầy càng thăm thẳm, và mong
mỏi càng lớn thì đọan đường ta đi càng dài, vì chờ đợi làm cho
ta nóng lòng và vì quá nóng lòng đã làm cho thời gian như đứng
lại!
Thật sự nó nằm ngay trước
mắt và không xa không sâu như chúng ta tưởng. Sâu và xa vì chưa
nhận diện được nó, ta đi tìm những cái ở ngòai tầm với nên khó
nắm bắt. Nó chỉ cho thấy thể tánh trong khi ta đi tìm cái tướng.
Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ?
Dịch: Các
pháp đi về một, vậy cái một nầy đi về đâu?
Nhất thiết pháp không!
Dịch: Tất
cả các pháp đều không!
Không nầy là gì? Có phải là
một cái không rỗng tuếch? Xin thưa: không không phải là không,
mà là có. Có là có cái không, mà lại không có cái có!
Tất cả những cái vừa đề cập
đến trên đây chỉ là ngôn ngữ của đối đải của phân biệt. Để diễn
đạt điều nầy Đức Bổn Sư đã ”nói” về cái có và cái không, về
tướng và thể tánh, bằng hành động đưa một cành hoa sen lên trong
đại chúng và Ngài Ca Diếp mỉm cười.
Cái tánh và cái tướng thấy
rõ ràng trong những mẫu chuyện của các thiền sư với thiền sinh,
không ăn nhập đâu vào đâu cả, giống như hai người không tỉnh táo
đang đối thọai với nhau. Hoặc vì các thiền sư ’tu hành cách biệt
với thế gian’ mà thành ’gàn bát sách’ nên đã cho ra những tiếng
hét, tung lên những cái đánh với chiếc thiền trượng đang cầm
trên tay, đơn giản chỉ là một chiếc gậy lấy ở trên rừng.
Nếu chỉ thấy tướng mà không
thấy được tánh, thì đọan đường nầy đúng là vô định. Vô định ở
đây có đầy đủ cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, cả tướng lẫn tánh. Vì
mãi đi tìm thì tâm động, tâm động thì tư tưởng không dừng, tư
tưởng không dừng thì hành động vẫn có, vậy thì làm sao định
được. Vì khắc khỏai với cái mình nghĩ là mình không có, nên mình
đã lang thang đi tìm, mà hễ đi tìm thì không gặp được, chỉ gặp
khi không đi tìm:
Ta đi tìm một nửa thân ta
Huyễn hư như nắm gió ngàn xa
Như mây soi bóng trên dòng nước
Ở trong lòng vẫn mãi cách xa
Mây và nước là hai sự kiện
của một thực thể. Hơi nước gặp lạnh bốc lên thành mây. Mây lang
thang trên bầu trời xanh, để rồi một ngày nào đó Trời ’buồn trời
khóc’ thì mây sẽ thành mưa và đổ xuống lòng của dòng sông.
Vì cái thấy phức tạp, vì
cái tâm đối đãi đã cho chúng ta cái gọi là ”của ta và của người”
nên dòng sông mới có khát khao về những đám mây trắng đẹp trôi
trên bầu trời xanh thăm thẳm, và dệt nên giấc mộng được ôm mây
vào lòng. Vì mơ nên tư tưởng của dòng sông bị cái ước muốn vây
kín không lối thóat. Cả một dòng nước không đẩy trôi được sương
khói mờ hư ảo trùng trùng lớp lớp bủa kín ’tâm hồn’ của dòng
sông. Ôm hòai giấc mộng làm sao thấy được thực tánh. Mộng là cái
tướng, biết thả mộng sẽ thả được cái tướng mới thấy được bản lai
diện mục của sự vật.
Nếu thấy được thực tướng
của sự vật, hiểu được bản chất của vũ trụ là ta đã thấy được thể
tánh. Nhưng nếu dừng lại ở cái thấy nầy thì thật sự chưa là gì
cả, chỉ là giả ngộ. Chỉ mới thấy chứ chưa thông và hiểu được.
Khi biết ta hiện hữu là ta
đã ’nắm’ được cái ý của Thiền. Nắm được cái căn bản nầy rồi ta
phải hạ thủ công phu, nghĩa là hành trì, ta sẽ ’nếm’ được mùi vị
của Thiền định. Mùi vị Thiền định là mùi vị giải thóat là mùi vị
ta có được như khi đã giải công án Thiền. Vì là thực chứng, nên
con đường đó phải đi qua, không đốt giai đọan được.
Ngài Liễu quán đã ôm một
công án thiền năm năm, rồi hóat ngộ! Nói là hóat ngộ, chứ thực
chất không phải tự nhiên mà hóat được, mà chính là cái kết quả
của năm năm dài ngồi xây mặt nhìn vào vách đá để sống và thở chỉ
vì công án nầy thôi. Có vị đã ’ngắm’ vách đá hằng chín mười năm
trời và rồi ’hóat’ ngộ. Nếu là chúng ta với cái tâm đối đãi to
bằng… bộ não của chúng ta, thì chắc cũng phải a tăng kỳ kiếp!
Có thể đưa ra một thí dụ
như sau: Khi uống một tách trà ngon, giả dụ ta uống được tách
trà tuyệt hảo là ’trảm mã trà’. Sau khi uống xong, có người hỏi:
’Trà ngon không?’ Bạn sẽ trả lời: ’ngon tuyệt!’. Chắc chắn là
ngon rồi, trà vua ban không ngon sao được, ngon nhất là ở cái
đặc biệt. Chỉ cái đặc biệt không thôi cũng đủ làm cho chúng ta
phải ’ao ước’, chừng đó cũng đã làm một tách trà giá trị, huống
hồ nó lại qúa ngon!. Cái ngon và cái giá trị của nó to bằng cái
ước muốn cái ganh tị của chúng ta, vì thế nó ngon vô cùng!
Vì được cái cơ hội có một
không hai trên đời nầy, bởi vì bạn là qúy phi nương nương xinh
đẹp, là vị tể tướng đương kim, một vị quan có công khai quốc
được trọng vọng, hay cũng có thể nhờ là nịnh thần, nên được vua
ban cho chén trà đó. Khi nghe hỏi như thế đương nhiên vì sự hảnh
diện được vua trọng dụng, bạn sẽ dùng hết khả năng và ngôn ngữ
để tả về cái ngon của tách trà, nhưng cho dù bạn có giỏi diễn
đạt bao nhiêu đi nữa, và cho dù tôi đã vận dụng cả cái khối óc
phong phú giàu tưởng tượng của tôi, cùng với cái kinh nghiệm
uống trà của tôi, vì tôi là một người sống cho một đam mê:
thưởng thức trà! Đã lê mòn gót giày từ Quảng Đông đến Quảng Tây
để được uống những chén trà đặc sản, tôi cũng không thâu thập
được 1% cái vị ngon của chén trà. Bởi vì phải chính tôi uống,
phải là cái lưỡi tôi nếm giọt trà đi vào cổ họng và khi đi ngang
qua phần mũi của tôi, nó bốc lên cái mùi thơm của trà tôi mới
thực sự biết được mùi vị thơm ngon của tách trà, vì đó là thực
nghiệm chứ không phải uống chén trà bằng ngôn từ!
Thiền là con đường dẫn đến
thực chứng, mà thực chứng thì không thể diễn tả được, đã có
những từ rất hay khi giải thích như lông rùa sừng thỏ! Nhưng
thực sự lông rùa sừng thỏ cũng là một pháp rồi. Chỉ biết rằng
không là một vật, không có tướng, chỉ có tánh thì làm sao giải
thích được, thế nên khi đọc những công án Thiền, chúng ta chỉ
biết được đó là lời dạy của các thiền sư, hướng dẫn cho thấy
được cái gọi là ’đích’ là chúng ta đã bị ’tẩu hỏa nhập ma’ vì
cái chuyện ’trên trời dưới đất’ của các thiền sư. Nghe qua như
là hai người ở hai thế giới khác nhau đang nói chuyện. Thật sự
là hai thế giới khác nhau, nhưng là thế giới của thiền sư và thế
giới của chúng ta. Khác ở chỗ một thế giới thực chứng đối lại
một thế giới của ngôn từ, vậy là ”ngôn ngữ và tư tưởng bất đồng”
rồi làm sao mà chuyển đạt được! Cũng vì thế chúng ta đã nghe câu
nói: ’Ngôn ngữ không tải được Đạo’ và câu nói lừng danh của Đức
Bổn Sư: ’Trong 49 năm ta không nói điều gì cả’!
Một người bán hoa không có
được cái hiểu cái thấy của người thầy lang bán thuốc bắc. Một
bên giỏi về săn sóc hoa và biết được mùa nào có lọai hoa thích
hợp. Người thầy lang bán thuốc bắc sẽ biết được lọai thuốc nào
làm dễ tiêu hóa và ngủ ngon, trị bệnh gì… Hai người nầy không
thể một sớm một chiều, vì cái bốc đồng của phút trước mà phút
sau đổi cửa hàng cho nhau để điều hành song suốt được.Trong
Thiền học, trong Đạo Phật có nói hể đã gọi là vô minh đầy rẫy
thì làm sao mà chứng ngay được, mà phải có thời gian để gột dũa
nó từ từ.
Công án Thiền là một phương
thức tu tập để giải thóat. Đi trên con đường tu hành không thể
mang đôi hia ngàn dặm, bước một bước là đến cửa giải thóat.
Không đốt giai đọan được, mà phải tu để sửa đổi, và phải hành để
gọt bỏ vô minh. Công án Thiền có thể nói ví như khi ta nói với
cha mẹ một đứa trẻ lên sáu: - Cho nó học kỹ sư đi!. Muốn được
thế, đứa bé phải được cho học đánh vần, vào tiểu học lên trung
học và đại học rồi mới học thành kỹ sư, với điều kiện biết tinh
tấn học hành.
Thấy được như thế chúng ta
sẽ hiểu rõ được câu: Nam mô A Di Đà Phật: Xin quay về nương tựa
Phật. (Nam mô: quay về nương tựa) Phật A Di Đà là Phật ở cõi
Thanh tịnh. Quay trở về cái thanh tịnh là trở về tánh không của
vạn pháp. Là dừng lại, là hành thiền, để thực chứng. Có ngày
chúng ta sẽ thấy được thế nào là công án Thiền, thế nào là chứng
đắc! Đó là ngày ta đi trong trần gian với đôi mắt mở lớn và nhìn
vào cuộc đời để thấy cuộc đời rất thực và rất đẹp. Đức Bổn Sư đã
từng nói rằng trước đây ngài đã thấy núi sông là núi sông, rồi
Ngài đã từng không thấy núi sông là núi sông, cuối cùng ngài
thấy được núi sông vẫn là núi sông! Gọi là thấy được cái thực
trong cái mộng và cái mộng trong cái thực.
Phần thực hành:
Đã thấy được cái tướng và
có nói qua về thể tánh vậy chúng ta hãy bắt tay vào phần thực
hành.
Thường chúng ta nghe nói về
Thiền Tông và Tịnh Độ Tông: ”Thiền không phải là Tịnh Độ, và
Tịnh Độ làm sao mà so sánh với Thiền được!”. Người nói câu nầy
là người có chủ đích xiển dương Thiền mà quên rằng trong Thiền
có Tịnh Độ, trong Tịnh Độ có Thiền. Nói thế không trách Đức Phật
ngồi trên tòa sen nhìn vào chúng ta mà mỉm cười không nói, vì tư
tưởng lọan động của chúng ta! Đường nào cũng đến La Mã. Có tám
vạn bốn ngàn pháp môn, sao dùng thì giờ hí luận so sánh viễn
vông, mà không quyết tâm chọn cho mình một con đường và ”khăn
gói lên đường để tới đích”. Không đi thì không đến, ngồi nhìn
thì chỉ làm tư tưởng lọan động. Đói bụng phải đi nấu cơm ăn,
ngồi nghĩ tới nồi cơm và gạo, thì cơm không tự nhiên chín được,
và nếu có chín được trong tư tưởng thì làm sao mà no bụng. Thế
nên phải thực hành!
Đã thấy được con đường giải
thóat, đã có phát tâm và có lòng muốn tu hành thì phải thực
hiện, vì đây là một hạnh phúc to lớn của cuộc đời. Vì sao? Vì
bạn sẽ diệt được cái khổ thứ nhất trong những cái khổ của cuộc
đời chúng ta, đó là cố chấp. Cố chấp, là chấp chặt quá nên lòng
nặng nề, ăn không ngon ngủ không yên. Ăn ngon ngủ yên sẽ trị
được bá bệnh! Thì dù Hoa Đà có tái thế ở nhà bên cạnh nhà mình
cũng chỉ là người hàng xóm bình thường, gặp nhau chào hỏi vài
câu, và mình không cần phải qùy lụy vì ông. Đó chỉ là mới nêu
dẫn một cái khổ trong nhiều cái khổ.
Suốt một ngày làm việc mệt
nhọc, về đến nhà quẳng được đôi giày ra, thay bằng một đôi dép
và bộ áo quần rộng rãi mặc ở nhà, thay vì bộ áo quần đi làm
việc, thì thật là thỏai mái! Cái thỏai mái êm ái khi được ngã
người xuống ghế xa lông, sau khi uống một ly nước mình thích và
nhắm đôi mắt lại một chút thì đúng là tuyệt vời! Vì mệt quá mà
nằm nghỉ được như thế, cơ thể không phải nhọc nhằn bận bịu .Ở
cái trạng thái nầy thì đúng là được nghỉ ngơi hòan tòan.Còn gì
nữa, không đúng sao? Nằm thẳng người, chân duỗi dài ra trên ghế
xa lông, bù cho một ngày làm việc vất vã. Nhưng có thật là mình
đã nghỉ ngơi hòan tòan? Nói hòan tòan là phải nói đến con số 90
hoặc 100%.
Không đâu bạn ơi, chúng ta
mới nghỉ ngơi được nhiều lắm là 40 – 50% mà thôi. Bời vì, cơ thể
thì nghỉ ngơi, nhưng đầu óc vẫn làm việc. Trí óc của mình vẫn
nghĩ ngợi miên man thì làm sao gọi là nghỉ ngơi hòan tòan. Sợ
rằng, đây chính là lúc trí óc làm việc còn nhiều hơn những thời
điểm khác trong ngày khi mắt và tai ta tiếp nhận nhiều âm thanh
và hình ảnh trong khi ta đang bận bịu với các công việc khác.
Nghĩ cho cùng, chúng ta như một chiếc chong chóng quay vùn vụt
suốt ngày theo cái đồng hồ. Vừa làm việc nhọc nhằn cho cơ thể,
vừa suy nghĩ để xử lý thích ứng với công việc mình làm, nếu
không nói là đương đầu với cuộc sống. Đang làm việc tại công sở
mà tư tưởng có ở yên trong đó thôi đâu, mình còn cho nó chạy
lung tung mà. Nó có thể nằm trong rổ chợ sắp mua chiều nay khi
tan sở, nằm ở hãng bán xe có chiếc xe mình đã ’lỡ dại’ mê rồi.
Tư tưởng như thế đúng là đa mang. Vậy thì trí óc ta đời nào nghỉ
ngơi được, mình còn ’bồi bổ’ cho đầu óc mình đủ thứ chuyện để
lo, mà trong cái lo nầy khi nào cũng có sự hiện diện của mình,
nên danh từ nhà Phật gọi là bồi đắp cái u minh, chất cho nhiều
nỗi lo làm sao thóat được cái khổ.
Cách hay nhất là dừng bớt tư tưởng lại để bớt
lo, làm việc gì hãy chuyên tâm vào việc đó, thì công việc mới
trôi chảy và khỏi bị sơ suất vì sự chểnh mảng của chúng ta.
Nhưng làm sao mà dừng đây, nói dừng là dừng được hay sao? Phải
tập đấy bạn ạ! Chúng ta phải tập để đừng suy nghĩ nhiều. Và tập
bằng cách nào?
Mỗi buổi sáng khi vừa thức giấc, đừng vội
bước ra khỏi giường, vì bước ra khỏi giường là cái não nó sai
khiến chúng ta liền. Nằm lại trên giường để hít thở 3 hơi rồi
hãy rời chiếc giường của chúng ta: hít vào thật sâu thật chậm,
rồi thở ra thật nhẹ và dài. Khi hít sâu và thở nhẹ như thế, bạn
hãy tập trung tư tưởng của mình vào hơi thở. Tại sao vậy? Đây là
cách tập trung tư tưởng không cho tư tưởng chạy vòng vòng, để
suy nghĩ đến chuyện khác. Nhiều khi đang ở Pháp mà tư tưởng cứ
lang thang đi về Sài gòn thăm bà con chẳng hạn! rồi tư tưởng nầy
đẻ ra tư tưởng kia và ta quay mòng mòng trong đó!
Hãy thực tập như thế vài tuần, rồi gia tăng
thành ra 5 hơi thở mỗi sáng, và từ từ theo ý thích và khả năng
của mình, bạn sẽ cho tăng số hơi thở, thời gian, không gian và
cách thức thực hành hít thở như thế trong một ngày. Sau nầy bạn
sẽ thấy được dần kết qủa công việc mình làm. Đến một thời điểm
nào nó, bạn sẽ thấy được rằng mình trầm tỉnh hơn và nhìn thấy
được nhiều sự kiện rõ ràng hơn trước đây.
Hít thở và tập trung hơi thở như thế sẽ có
một ngày bạn nắm được tư tưởng của mình không bị ngọai vật và
ngọai cảnh chi phối một cách dễ dàng. Khi bạn đã vững, nghĩa là
không để cho tâm mình dễ dàng bị giao động bởi bất cứ ai, hoặc
khi đã có được sự bình tĩnh đối với mọi chuyện trong cuộc sống,
thì đầu óc bạn sẽ tỉnh táo để tiếp nhận và tìm giải pháp cho
những sự kiện đang đến với mình rõ hơn nhờ tâm mình tỉnh hơn. Sự
lọan động của tư tưởng làm ta rối trí, và khi rối trí ta sẽ
không thấy được sự kiện một cách khách quan và rõ ràng để tìm ra
được giải pháp thích ứng. Đó là lý do nên tập hít thở để nắm bắt
được cái tâm không cho nó lọan động. Công việc nầy là bước đầu
của cái gọi là thiền quán tu tập!
Để giữ cái tâm Đạo không cho mình lơ là biếng
trể việc tu hành, xin hãy thỉnh kinh sách và đọc tụng, nghiên
cứu. Tụng kinh cũng là một hình thức tu Thiền. Vì ngồi tụng kinh
phần lớn là để luyện cái tâm mình bớt vọng động. Tâm không dấy
lên vọng tưởng, thân thanh tịnh thì là thiền tập. Vì thế đơn
giản ta có thể nói, trong Thiền có Tịnh Độ và trong Tịnh Độ có
Thiền!
Đọc kinh sách mà không hành trì thì kinh sách
chỉ là một mớ chữ chết. Lời kinh do cái vô minh cái khổ của con
người chạm vào Trí tuệ của Chư Phật mà phát sinh. Trì kinh là
đọc, tụng và hiểu để thực hành. Đọc mà hiểu là giai đọan thứ
nhất, hiểu rồi phải thực hành là giai đọan thứ hai. Đó là chủ
đích của kinh, là điều Đức Phật chỉ cho thấy.
Nếu không may mắn có được một chân sư để
nương mà học hỏi, chúng ta có thể tự mình nghiên cứu để hành
trì. Khởi sự xin hãy thỉnh bộ Phật học Từ điển được phát hành
tại nhiều chùa lớn khắp nơi để thông suốt những pháp số (xin đưa
một ví dụ đơn giản: lục căn, lục dục, lục thức, lục trần gọi là
pháp số). Khi đã rõ và đã thông suốt pháp số trong kinh, ta sẽ
hiểu lời kinh rõ ràng. Song hành với việc đọc để hiểu chúng ta
phải trì kinh. Hai công việc nầy bổ sung cho nhau, cho ta được
cái tỉnh trong tư tưởng và cái tịnh của thân. Nhờ thế chúng ta
sẽ từ từ hiểu rõ kinh hơn, rồi cố gắng tinh tấn tu tập đừng để
xao lãng. Nghĩa là, phải thu xếp một ít thời gian cho việc thiền
tập, nghiên cứu học hỏi và tụng kinh. Các bạn sẽ thấy một chân
trời mới mở rộng trong cuộc đời của chúng ta, bao la trong sáng
không đắm nhiễm vì cái đẹp đơn giản của thiên nhiên, và bình dị
như nụ cười của Ngài Đạt Lai Lạt Ma.
Uyên Hạnh Đòan Thị Đoan-Trang
Trở về Trang Chính