Công Án Thiền


 

Uyên Hạnh

E-Mail: uyenhanh@khoahoc.net

13 tháng 09 năm 2006

        Thiền qua phần lý thuyết và thực hành.

 

Phần lý thuyết:

Thiền  là vô niệm, công án thiền là con đường ’đạt’ đến vô niệm. Thiền qua cái nhìn của chúng ta có chiều sâu và chiều dài. Sâu vì được coi là một triết lý sống, và dài vì đòi hỏi sự tìm hiểu, nghiên cứu và thực hành. Đó là cái thấy của chúng ta!

Đời càng phức tạp và có nhiều nỗi đau thì ’vực sâu tư tưởng’ nầy càng thăm thẳm, và mong mỏi càng lớn thì đọan đường ta đi càng dài, vì chờ đợi làm cho ta nóng lòng và vì quá nóng lòng đã làm  cho thời gian như đứng lại!

Thật sự nó nằm ngay trước mắt và không xa không sâu như chúng ta tưởng. Sâu và xa vì chưa nhận diện được nó, ta đi tìm những cái ở ngòai tầm với nên khó nắm bắt. Nó chỉ cho thấy thể tánh trong khi ta đi tìm cái tướng.

  Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ?

Dịch:                Các pháp đi về một, vậy cái một nầy đi về đâu?

                        Nhất thiết pháp không!

Dịch:                Tất cả các pháp đều không!

Không nầy là gì? Có phải là một cái không rỗng tuếch? Xin thưa: không không phải là không, mà là có. Có là có cái không, mà lại không có cái có!

Tất cả những cái vừa đề cập đến trên đây chỉ là ngôn ngữ của đối đải của phân biệt. Để diễn đạt điều nầy Đức Bổn Sư đã ”nói” về cái có và cái không, về tướng và thể tánh, bằng hành động đưa một cành hoa sen lên trong đại chúng và Ngài Ca Diếp mỉm cười.

Cái tánh và cái tướng thấy rõ ràng trong những mẫu chuyện của các thiền sư với thiền sinh, không ăn nhập đâu vào đâu cả, giống như hai người không tỉnh táo đang đối thọai với nhau. Hoặc vì các thiền sư ’tu hành cách biệt với thế gian’ mà thành ’gàn bát sách’ nên đã cho ra những tiếng hét, tung lên những cái đánh với chiếc thiền trượng đang cầm trên tay, đơn giản chỉ là một chiếc gậy lấy ở trên rừng.

 

Nếu chỉ thấy tướng mà không thấy được tánh, thì đọan đường nầy đúng là vô định. Vô định ở đây có đầy đủ cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, cả tướng lẫn tánh. Vì mãi đi tìm thì tâm động, tâm động thì tư tưởng không dừng, tư tưởng không dừng thì hành động vẫn có, vậy thì làm sao định được. Vì khắc khỏai với cái mình nghĩ là mình không có, nên mình đã lang thang đi tìm, mà hễ đi tìm thì không gặp được, chỉ gặp khi không đi tìm:

Ta đi tìm một nửa thân ta

Huyễn hư như nắm gió ngàn xa

Như mây soi bóng trên dòng nước

Ở trong lòng vẫn mãi cách xa

Mây và nước là hai sự kiện của một thực thể. Hơi nước gặp lạnh bốc lên thành mây. Mây lang thang trên bầu trời xanh, để rồi một ngày nào đó Trời ’buồn trời khóc’ thì mây sẽ thành mưa và đổ xuống lòng của dòng sông.

Vì cái thấy phức tạp, vì cái tâm đối đãi đã cho chúng ta cái gọi là ”của ta và của người” nên dòng sông mới có khát khao về những đám mây trắng đẹp trôi trên bầu trời xanh thăm thẳm, và dệt nên giấc mộng được ôm mây vào lòng. Vì mơ nên tư tưởng của dòng sông bị cái ước muốn vây kín không lối thóat. Cả một dòng nước không đẩy trôi được sương khói mờ hư ảo trùng trùng lớp lớp bủa kín ’tâm hồn’ của dòng sông. Ôm hòai giấc mộng làm sao thấy được thực tánh. Mộng là cái tướng, biết thả mộng sẽ thả được cái tướng mới thấy được bản lai diện mục của sự vật.

 

Nếu thấy được thực tướng của sự vật, hiểu được bản chất của vũ trụ là ta đã thấy được thể tánh. Nhưng nếu dừng lại ở cái thấy nầy thì thật sự chưa là gì cả, chỉ là giả ngộ. Chỉ mới thấy chứ chưa thông và hiểu được.

Khi biết ta hiện hữu là ta đã ’nắm’ được cái ý của Thiền. Nắm được cái căn bản nầy rồi ta phải hạ thủ công phu, nghĩa là hành trì, ta sẽ ’nếm’ được mùi vị của Thiền định. Mùi vị Thiền định là mùi vị giải thóat là mùi vị ta có được như khi đã giải công án Thiền. Vì là thực chứng, nên con đường đó phải đi qua, không đốt giai đọan được.

Ngài Liễu quán đã ôm một công án thiền năm năm, rồi hóat ngộ! Nói là hóat ngộ, chứ thực chất không phải tự nhiên mà hóat được, mà chính là cái kết quả của năm năm dài ngồi xây mặt nhìn vào vách đá để sống và thở chỉ vì công án nầy thôi. Có vị đã ’ngắm’ vách đá hằng chín mười năm trời và rồi ’hóat’ ngộ. Nếu là chúng ta với cái tâm đối đãi to bằng… bộ não của chúng ta, thì chắc cũng phải a tăng kỳ kiếp!

 

Có thể đưa ra một thí dụ như sau: Khi uống một tách trà ngon, giả dụ ta uống được tách trà tuyệt hảo là ’trảm mã trà’. Sau khi uống xong, có người hỏi: ’Trà ngon không?’ Bạn sẽ trả lời: ’ngon tuyệt!’. Chắc chắn là ngon rồi, trà vua ban không ngon sao được, ngon nhất là ở cái đặc biệt. Chỉ cái đặc biệt không thôi cũng đủ làm cho chúng ta phải ’ao ước’, chừng đó cũng đã làm một tách trà giá trị, huống hồ nó lại qúa ngon!. Cái ngon và cái giá trị của nó to bằng cái ước muốn cái ganh tị của chúng ta, vì thế nó ngon vô cùng!

Vì được cái cơ hội có một không hai trên đời nầy, bởi vì bạn là qúy phi nương nương xinh đẹp, là vị tể tướng đương kim, một vị quan có công khai quốc được trọng vọng, hay cũng có thể nhờ là nịnh thần, nên được vua ban cho chén trà đó. Khi nghe hỏi như thế đương nhiên vì sự hảnh diện được vua trọng dụng, bạn sẽ dùng hết khả năng và ngôn ngữ để tả về cái ngon của tách trà, nhưng cho dù bạn có giỏi diễn đạt bao nhiêu đi nữa, và cho dù tôi đã vận dụng cả cái khối óc phong phú giàu tưởng tượng của tôi, cùng với cái kinh nghiệm uống trà của tôi, vì tôi là một người sống cho một đam mê: thưởng thức trà!  Đã lê mòn gót giày từ Quảng Đông đến Quảng Tây để được uống những chén trà đặc sản, tôi cũng không thâu thập được 1% cái vị ngon của chén trà. Bởi vì phải chính tôi uống, phải là cái lưỡi tôi nếm giọt trà đi vào cổ họng và khi đi ngang qua phần mũi của tôi, nó bốc lên cái mùi thơm của trà tôi mới thực sự biết được mùi vị thơm ngon của tách trà, vì đó là thực nghiệm chứ không phải uống chén trà bằng ngôn từ!

 

Thiền là con đường dẫn đến thực chứng, mà thực chứng thì không thể diễn tả được, đã có những từ rất hay khi giải thích như lông rùa sừng thỏ! Nhưng thực sự lông rùa sừng thỏ cũng là một pháp rồi. Chỉ biết rằng không là một vật, không có tướng, chỉ có tánh thì làm sao giải thích được, thế nên khi đọc những công án Thiền, chúng ta chỉ biết được đó là lời dạy của các thiền sư, hướng dẫn cho thấy được cái gọi là ’đích’ là chúng ta đã bị ’tẩu hỏa nhập ma’ vì cái chuyện ’trên trời dưới đất’ của các thiền sư. Nghe qua như là hai người ở hai thế giới khác nhau đang nói chuyện. Thật sự là hai thế giới khác nhau, nhưng là thế giới của thiền sư và thế giới của chúng ta. Khác ở chỗ một thế giới thực chứng đối lại  một thế giới của ngôn từ, vậy là ”ngôn ngữ và tư tưởng bất đồng” rồi làm sao mà chuyển đạt được! Cũng vì thế chúng ta đã nghe câu nói: ’Ngôn ngữ không tải được Đạo’ và câu nói lừng danh của Đức Bổn Sư: ’Trong 49 năm ta không nói điều gì cả’!

 

Một người bán hoa không có được cái hiểu cái thấy của người thầy lang bán thuốc bắc. Một bên giỏi về săn sóc hoa và biết được mùa nào có lọai hoa thích hợp. Người thầy lang bán thuốc bắc sẽ biết được lọai thuốc nào làm dễ tiêu hóa và ngủ ngon, trị bệnh gì… Hai người nầy không thể một sớm một chiều, vì cái bốc đồng của phút trước mà phút sau đổi cửa hàng cho nhau để điều hành song suốt được.Trong Thiền học, trong Đạo Phật có nói hể đã gọi là vô minh đầy rẫy thì làm sao mà chứng ngay được, mà phải có thời gian để gột dũa nó từ từ.

Công án Thiền là một phương thức tu tập để giải thóat. Đi trên con đường tu hành không thể mang đôi hia ngàn dặm, bước một bước là đến cửa giải thóat. Không đốt giai đọan được, mà phải tu để sửa đổi, và phải hành để gọt bỏ vô minh. Công án Thiền có thể nói ví như khi ta nói với cha mẹ một đứa trẻ lên sáu: - Cho nó học kỹ sư đi!. Muốn được thế, đứa bé phải được cho học đánh vần, vào tiểu học lên trung học và đại học rồi mới học thành kỹ sư, với điều kiện biết tinh tấn học hành.

Thấy được như thế chúng ta sẽ hiểu rõ được câu: Nam mô A Di Đà Phật: Xin quay về nương tựa Phật. (Nam mô: quay về nương tựa) Phật A Di Đà là Phật ở cõi Thanh tịnh. Quay trở về cái thanh tịnh là trở về tánh không của vạn pháp. Là dừng lại, là hành thiền, để thực chứng. Có ngày chúng ta sẽ thấy được thế nào là công án Thiền, thế nào là chứng đắc! Đó là ngày ta đi trong trần gian với đôi mắt mở lớn và nhìn vào cuộc đời để thấy cuộc đời rất thực và rất đẹp. Đức Bổn Sư đã từng nói rằng trước đây ngài đã thấy núi sông là núi sông, rồi Ngài đã từng không thấy núi sông là núi sông, cuối cùng ngài thấy được núi sông vẫn là núi sông! Gọi là thấy được cái thực trong cái mộng và cái mộng trong cái thực.

 

Phần thực hành:

Đã thấy được cái tướng và có nói qua về thể tánh vậy chúng ta hãy bắt tay vào phần thực hành.

Thường chúng ta nghe nói về Thiền Tông và Tịnh Độ Tông: ”Thiền không phải là Tịnh Độ, và Tịnh Độ làm sao mà so sánh với Thiền được!”. Người nói câu nầy là người có chủ đích xiển dương Thiền mà quên rằng trong Thiền có Tịnh Độ, trong Tịnh Độ có Thiền. Nói thế không trách Đức Phật ngồi trên tòa sen nhìn vào chúng ta mà mỉm cười không nói, vì tư tưởng lọan động của chúng ta! Đường nào cũng đến La Mã. Có tám vạn bốn ngàn pháp môn, sao dùng thì giờ hí luận so sánh viễn vông, mà không quyết tâm chọn cho mình một con đường và ”khăn gói lên đường để tới đích”. Không đi thì không đến, ngồi nhìn thì chỉ làm tư tưởng lọan động. Đói bụng phải đi nấu cơm ăn, ngồi nghĩ tới nồi cơm và gạo, thì cơm không tự nhiên chín được, và nếu có chín được trong tư tưởng thì làm sao mà no bụng. Thế nên phải thực hành!

 

Đã thấy được con đường giải thóat, đã có phát tâm và có lòng muốn tu hành thì phải thực hiện, vì đây là một hạnh phúc to lớn của cuộc đời. Vì sao? Vì bạn sẽ diệt được cái khổ thứ nhất trong những cái khổ của cuộc đời chúng ta, đó là cố chấp. Cố chấp, là chấp chặt quá nên lòng nặng nề, ăn không ngon ngủ không yên. Ăn ngon ngủ yên sẽ trị được bá bệnh! Thì dù Hoa Đà có tái thế ở nhà bên cạnh nhà mình cũng chỉ là người hàng xóm bình thường, gặp nhau chào hỏi vài câu, và mình không cần phải qùy lụy vì ông. Đó chỉ là mới nêu dẫn một cái khổ trong nhiều cái khổ.

 

Suốt một ngày làm việc mệt nhọc, về đến nhà quẳng được đôi giày ra, thay bằng một đôi dép và bộ áo quần rộng rãi mặc ở nhà, thay vì bộ áo quần đi làm việc, thì thật là thỏai mái! Cái thỏai mái êm ái khi được ngã người xuống ghế xa lông, sau khi uống một ly nước mình thích và nhắm đôi mắt lại một chút thì đúng là tuyệt vời! Vì mệt quá mà nằm nghỉ được như thế, cơ thể không phải nhọc nhằn bận bịu .Ở cái trạng thái nầy thì đúng là được nghỉ ngơi hòan tòan.Còn gì nữa, không đúng sao? Nằm thẳng người, chân duỗi dài ra trên ghế xa lông, bù cho một ngày làm việc vất vã. Nhưng có thật là mình đã nghỉ ngơi hòan tòan? Nói hòan tòan là phải nói đến con số 90 hoặc 100%.

Không đâu bạn ơi, chúng ta mới nghỉ ngơi được nhiều lắm là 40 – 50% mà thôi. Bời vì, cơ thể thì nghỉ ngơi, nhưng đầu óc vẫn làm việc. Trí óc của mình vẫn nghĩ ngợi miên man thì làm sao gọi là nghỉ ngơi hòan tòan. Sợ rằng, đây chính là lúc trí óc làm việc còn nhiều hơn những thời điểm khác trong ngày khi mắt và tai ta tiếp nhận nhiều âm thanh và hình ảnh trong khi ta đang bận bịu với các công việc khác. Nghĩ cho cùng, chúng ta như một chiếc chong chóng quay vùn vụt suốt ngày theo cái đồng hồ. Vừa làm việc nhọc nhằn cho cơ thể, vừa suy nghĩ để xử lý thích ứng với công việc mình làm, nếu không nói là đương đầu với cuộc sống. Đang làm việc tại công sở mà tư tưởng có ở yên trong đó thôi đâu, mình còn cho nó chạy lung tung mà. Nó có thể nằm trong rổ chợ sắp mua chiều nay khi tan sở, nằm ở hãng bán xe có chiếc xe mình đã ’lỡ dại’ mê rồi. Tư tưởng như thế đúng là đa mang. Vậy thì trí óc ta đời nào nghỉ ngơi được, mình còn ’bồi bổ’ cho đầu óc mình đủ thứ chuyện để lo, mà trong cái lo nầy khi nào cũng có sự hiện diện của mình, nên danh từ nhà Phật gọi là bồi đắp cái u minh, chất cho nhiều nỗi lo làm sao thóat được cái khổ.

Cách hay nhất là dừng bớt tư tưởng lại để bớt lo, làm việc gì hãy chuyên tâm vào việc đó, thì công việc mới trôi chảy và khỏi bị sơ suất vì sự chểnh mảng của chúng ta. Nhưng làm sao mà dừng đây, nói dừng là dừng được hay sao? Phải tập đấy bạn ạ! Chúng ta phải tập để đừng suy nghĩ nhiều. Và tập bằng cách nào?

Mỗi buổi sáng khi vừa thức giấc, đừng vội bước ra khỏi giường, vì bước ra khỏi giường là cái não nó sai khiến chúng ta liền. Nằm lại trên giường để hít thở 3 hơi rồi hãy rời chiếc giường của chúng ta: hít vào thật sâu thật chậm, rồi thở ra thật nhẹ và dài. Khi hít sâu và thở nhẹ như thế, bạn hãy tập trung tư tưởng của mình vào hơi thở. Tại sao vậy? Đây là cách tập trung tư tưởng không cho tư tưởng chạy vòng vòng, để suy nghĩ đến chuyện khác. Nhiều khi đang ở Pháp mà tư tưởng cứ lang thang đi về Sài gòn thăm bà con chẳng hạn! rồi tư tưởng nầy đẻ ra tư tưởng kia và ta quay mòng mòng trong đó!

Hãy thực tập như thế vài tuần, rồi gia tăng thành ra 5 hơi thở mỗi sáng, và từ từ theo ý thích và khả năng của mình, bạn sẽ cho tăng số hơi thở, thời gian, không gian và cách thức thực hành hít thở như thế trong một ngày. Sau nầy bạn sẽ thấy được dần kết qủa công việc mình làm. Đến một thời điểm nào nó, bạn sẽ thấy được rằng mình trầm tỉnh hơn và nhìn thấy được nhiều sự kiện rõ ràng hơn trước đây.

Hít thở và tập trung hơi thở như thế sẽ có một ngày bạn nắm được tư tưởng của mình không bị ngọai vật và ngọai cảnh chi phối một cách dễ dàng. Khi bạn đã vững, nghĩa là không để cho tâm mình dễ dàng bị giao động bởi bất cứ ai, hoặc khi đã có được sự bình tĩnh đối với mọi chuyện trong cuộc sống, thì đầu óc bạn sẽ tỉnh táo để tiếp nhận và tìm giải pháp cho những sự kiện đang đến với mình rõ hơn nhờ tâm mình tỉnh hơn. Sự lọan động của tư tưởng làm ta rối trí, và khi rối trí ta sẽ không thấy được sự kiện một cách khách quan và rõ ràng để tìm ra được giải pháp thích ứng. Đó là lý do nên tập hít thở để nắm bắt được cái tâm không cho nó lọan động. Công việc nầy là bước đầu của cái gọi là thiền quán tu tập!

Để giữ cái tâm Đạo không cho mình lơ là biếng trể việc tu hành, xin hãy thỉnh kinh sách và đọc tụng, nghiên cứu. Tụng kinh cũng là một hình thức tu Thiền. Vì ngồi tụng kinh phần lớn là để luyện cái tâm mình bớt vọng động. Tâm không dấy lên vọng tưởng, thân thanh tịnh thì là thiền tập. Vì thế đơn giản ta có thể nói, trong Thiền có Tịnh Độ và trong Tịnh Độ có Thiền!

Đọc kinh sách mà không hành trì thì kinh sách chỉ là một mớ chữ chết. Lời kinh do cái vô minh cái khổ của con người chạm vào Trí tuệ của Chư Phật mà phát sinh. Trì kinh là đọc, tụng và hiểu để thực hành. Đọc mà hiểu là giai đọan thứ nhất, hiểu rồi phải thực hành là giai đọan thứ hai. Đó là  chủ đích của kinh, là điều Đức Phật chỉ cho thấy.

Nếu không may mắn có được một chân sư để nương mà học hỏi, chúng ta có thể tự mình nghiên cứu để hành trì. Khởi sự xin hãy thỉnh bộ Phật học Từ điển được phát hành tại nhiều chùa lớn khắp nơi để thông suốt những pháp số (xin đưa một ví dụ đơn giản: lục căn, lục dục, lục thức, lục trần gọi là pháp số). Khi đã rõ và đã thông suốt pháp số trong kinh, ta sẽ hiểu lời kinh rõ ràng. Song hành với việc đọc để hiểu chúng ta phải trì kinh. Hai công việc nầy bổ sung cho nhau, cho ta được cái tỉnh trong tư tưởng và cái tịnh của thân. Nhờ thế chúng ta sẽ từ từ hiểu rõ kinh hơn, rồi cố gắng tinh tấn tu tập đừng để xao lãng. Nghĩa là, phải thu xếp một ít thời gian cho việc thiền tập, nghiên cứu học hỏi và tụng kinh. Các bạn sẽ thấy một chân trời mới mở rộng trong cuộc đời của chúng ta, bao la trong sáng không đắm nhiễm vì cái đẹp đơn giản của thiên nhiên, và bình dị như nụ cười của Ngài Đạt Lai Lạt Ma.

 

Uyên Hạnh Đòan Thị Đoan-Trang

 

Trở về Trang Chính