|
VŨ TRỤ TRONG MỘT NGUYÊN TỬ
vừa xuất bản vào cuối tháng 9/2009, là tác phẩm tiếng Việt được
Trần Uyên Thi chuyển dịch từ nguyên tác
” THE UNIVERSE IN A SINGLE ATOM – The
Convergence of Science and Spirituality” do Đức Đạt Lai Lạt Ma
Thứ 14 viết vào năm 2005.
Trong mắt
nhìn và theo ngôn ngữ của nhà khoa học thì vũ trụ là cái vĩ đai
nhất và nguyên tử là cái nhỏ nhất hiện hữu và gần với lòai
người. Chọn nhan đề nầy cho quyển sách, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã
gây cho ta một băn khoăn thắc mắc: ”Làm sao thực hiện được”! Bởi
vì chúng ta đang cố tình ”đặt” vũ trụ vào trong một hạt nguyên
tử qua tính cách vật lý lượng tử. Đi sâu vào những chương sách
chúng ta thấy rõ một nội dung phong phú linh động của hai lãnh
vực Khoa học và Phật giáo. Sách đề cập đến nhiều vấn đề sâu xa
và thực tiễn của khía cạnh vật lý và tâm linh, của vũ trụ và con
người với hiện hữu cụ thể và đời sống tình cảm, giúp ta ý thức
được để chuyển hướng nhìn từ cái vĩ đại nhất là thế giới lòai
người đến đơn vị nhỏ nhất là một con người, và thực hiện một sự
dung hợp hài hòa.
Bìa sách
màu vàng cam và màu nâu cho chúng ta một cảm giác ấm áp, một
liên tưởng đến tấm áo cà sa của người tu Phật, hiện thân của
thửa ruộng gieo trồng và nẩy nở hạt mầm phước đức. Bắt nguồn từ
một mảnh vải tầm thường của chiếc phấn tảo y màu hòang cam, ngày
xưa Đức Phật ngẫu nhiên khóac vào người, bước xuống đời trên con
đường hành đạo của một khất sĩ, để truyền cái nhìn đơn thuần
thanh khiết, đưa con người đạt tới cái thấy sâu xa hướng vào nội
tâm và nhìn ra vũ trụ vạn vật.
Trang sách
đầu tiên dành riêng cho câu kệ của Ngài Khánh Hỷ, thiền sư Việt
Nam.
…Càn khôn tận thị mao đầu thượng
Nhật nguyệt bao
hàm giới tử trung
Trên trang
sách kế tiếp, ta đọc được câu nói của nhà bác học Einstein, viết
bằng hai thứ tiếng Anh và tiếng Việt.
… Nếu có một tôn giáo nào có thể đáp ứng nhu
cầu của khoa học hiện đại, tôn giáo ấy là
Phật Giáo.
Einstein
… If there is any religion that could respond to
the needs of modern science, it would be Buddhism. Albert
Einstein (1879-1955)
Sách
dày 256 trang. Sau phần Tri Ân và Phàm Lệ là Lời Giới Thiệu của
Giáo sư Trần Ngọc Ninh.
NỘI DUNG
sách gồm có Lời ngỏ của Đức Đạt Lai Lạt Ma và 10 chương sách đầy
rẫy hình ảnh và dữ kiện của thế giới khoa học thực nghiệm, của
tư tưởng và triết thuyết Nhà Phật, cũng như những câu chuyện kể
linh động chứa nhiều ý nghĩa chân chất lẫn cao qúy thâm sâu, và
qua lời dịch rất thóat rất chính xác của Trần Uyên Thi tạo cho
người đọc sự thích thú và khâm phục theo dõi.
”Quán
chiếu” là chương thứ nhất trong 10 chương của quyển sách nầy.
”Nhờ quán chiếu, đạo lý có chỗ đứng trong khoa học bởi vì khoa
học như con dao hai lưỡi, có thể sử dụng cho mục đích tốt hay
xấu. Chính người cầm dao quyết định lưỡi dao sử dụng vào mục
đích gì… Động cơ thúc đẩy việc sử dụng khoa học kỹ thuật phải
dựa trên sự hoà hợp giữa tình cảm và trí tuệ”.
Trong
chương sách thứ hai với đề tài ”Gặp gỡ với khoa học”
Đức Đạt Lai Lạt Ma kể rằng: ”Lòng say mê của tôi đối với
khoa học bắt nguồn từ kỹ thuật”. Qua nhiều câu chuyện vui và lối
viết đơn thuần lôi cuốn người đọc đi vào sự năng động của ngài
ngay khi còn nhỏ, và qua lòng hiếu kỳ đưa đẩy tìm tòi dẫn đến sự
ham thích việc lắp ráp máy móc, sử dụng dụng cụ thiên văn, đi
dần đến việc tìm hiểu những cái to lớn hơn phức tạp hơn như máy
móc xe hơi v.v... Và cứ thế với những ham thích máy móc kỹ thuật
từ câu chuyện nầy đến câu chuyện khác, cho đến ngày 20 tuổi khi
bắt đầu du hành ra nước ngòai, Ngài bắt đầu đi vào thế giới của
khoa học thực nghiệm.
Qua nhiều
cuộc gặp gỡ đàm luận với một số nhân vật xuất sắc Ngài đi dần
vào sự tìm hiểu sâu hơn về lãnh vực khoa học. Như đối với Thủ
tướng Jawaharlal Nehru của xứ Ấn Độ, một người có tinh thần
khoa học rất cao. Với các giáo sư về tâm linh học, những người
đang tìm cách hòa hợp khoa học và tâm linh. Với các khoa học gia
nổi tiếng đã đưa Ngài đến ”một sự ngạc nhiên kỳ thú đó là tôi
nhận thấy giữa khoa học và Phật Giáo có nhiều điểm tương đồng
đáng kinh ngạc trong tinh thần tìm hiểu thế giới”. Cùng Carl von
Weizsacker đi vào thế giới của vật lý học lượng tử cũng như ý
nghĩa triết học của nó. Với nhà vật lý xuất sắc David Bohm trong
lý thú của quá trình tìm hiểu mối liên hệ giữa khoa học khách
quan và thiền quán. Với triết gia Sir Karl Popper, một tên tuổi
trong lãnh vực triết lý và khoa học, và lần lượt Ngài đã gặp
được rất nhiều người nổi tiếng trong các lãnh vực trên.
Trong
chương sách thứ ba đề cập đến ”Tánh không, thuyết tương đối, và
vật lí lượng tử” Đức Đạt lai Lạt Ma đã dẫn người đọc vào một sự
ngạc nhiên đầy thích thú. Với lối trình bày một đề tài khá phức
tạp của khoa học trong tương quan của Giáo lý nhà Phật, Ngài đã
dùng một lối diễn giải mạch lạc lồng vào những so sánh chính xác
đã cho chúng ta hiểu và thấy được điều ngài muốn trình bày. Với
cái nhìn sáng suốt lạ kỳ và khả năng vượt bực của mình, Đức Đạt
Lai Lạt Ma đã dễ dàng dùng ngôn ngữ khoa học thích hợp được các
đẳng cấp tri thức thế gian để diễn đạt cái thấy xuất thế gian
của Ngài.
Khai triển
sâu hơn về hai thế giới vật lý và tâm linh, Đức Đạt Lai Lạt Ma
đi vào bảy đề mục rộng lớn như: Big Bang và vũ trụ vô thủy của
Phật giáo. Tiến hóa, nghiệp, và thế giới giác thức. Vấn đề tâm
thức. Hướng đến một khoa học về tâm thức. Phạm vi bao quát của
tâm thức. Đạo lí và di truyền học mới. Khoa học, tâm linh, và
nhân loại
Luận về
các đề tài trên đây Đức Đạt Lai Lạt Ma cho rằng sự tiến bộ của
khoa học thật phi thường và đáng ngưỡng mộ, và cái biết về khoa
học đã làm giàu cho khía cạnh vũ trụ quan Phật giáo của Ngài,
một nêu dẫn cụ thể thí dụ thuyết tương đối của Einstein và lý
thuyết của Ngài Long Thọ về tính tương đối của thời gian. Thán
phục tầm phát triển rộng lớn của khoa học nhưng lại cho rằng
khoa học vẫn chưa có thể cho chúng ta một sự hiểu biết tòan diện
rốt ráo, vì tri thức khoa học hiện nay chưa được hòan chỉnh, do
đó việc hội nhập khoa học vào khối tri thức tòan diện của con
người là thiết yếu.
Đức Đạt
lai Lạt Ma đồng thời phát biểu: ”Trong bản chất, khoa học và tâm
linh, tuy sử dụng những phương thức tiếp cận khác nhau, nhưng có
cùng một mục đích, đó là giúp con người vươn tới sự hòan thiện.
Trên phương diện lý tưởng, khoa học như thế có thể xem là một
tuệ giác được xây dựng trên nền tảng của lòng từ bi. Cũng như
thế, tâm linh là một cuộc hành trình vào nội tâm, với mục đích
tìm hiểu con người thật của ta trên bình diện thâm sâu nhất và
khám phá một lối sống hướng đến Chân - Thiện - Mỹ. Đây cũng là
biểu hiệu của sự hợp nhất giữa tuệ giác và lòng từ bi. Cầu mong
mỗi người chúng ta nghe theo tiếng gọi của nghĩa vụ đạo đức, hãy
cùng nhau làm cho sự hợp tác giữa khoa học và tâm linh trở thành
hiện thực”.
Theo Ngài,
khi các khoa học gia có trách nhiệm đạo đức sẽ đảm bảo khoa học
phục vụ cho lợi ích con người và tạo cho con người lòng tin vững
chắc vào khoa học. Đức Đạt Lai Lạt Ma nêu dẫn những thiệt hại
như những tai nạn nguyên tử tại Hiroshima, Nagasaki, Chernobyl,
Three Miles Island, hay Bhopal. Để kết thúc, Ngài đã đồng thời
nhấn mạnh ở điểm, cần có sự hòa hợp của khoa học và đạo đức
nghĩa là của lãnh vực vật lý và tâm linh, để tránh những thảm
họa sinh thái hóa học và sự thóai hóa của môi trường, trong đó
có sự chọc thủng tầng ozone.
Một nhân cách lớn cho hòa bình nhân loại
nói chung và cho Tây Tạng nói riêng
Giáo sư
Eric Sharpe miêu tả thánh nhân là người suốt đời chú trọng đến
việc đem an lạc cho con người và cuộc đời. Đức Đạt Lai Lạt Ma
thứ 14 là hiện thân cho những gì đã được miêu tả như thế. Ngài
đấu tranh không mỏi mệt cho an bình của nhân lọai và cho Tây
Tạng trong việc chống đàn áp dày xéo và vi phạm nhân quyền của
nhà cầm quyền Trung Quốc kể từ 50 năm qua.
Bằng
phương cách tranh đấu bất bạo động, Đức Đạt Lai Lạt Ma đòi hỏi
nhà cầm quyền Bắc Kinh trao trả lại nền độc lập cho Tây Tạng,
chấm dứt việc di dân Trung Hoa đe dọa sự tồn tại của dân tộc Tây
Tạng, tôn trọng các quyền dân chủ tự do và quyền làm người của
dân Tây Tạng. Điểm sau cùng, nhưng không kém phần quan trọng
khẩn trương, đó là phục hồi và bảo vệ môi sinh của Tây Tạng,
bằng cách chấm dứt việc sử dụng đất Tây Tạng để sản xuất vũ khí
nguyên tử và chứa rác phế thải nguyên tử.
”I
am just a simple Buddhist monk - no more, no less”.
“Tôi chỉ là một tu sĩ Phật giáo bình
thường, không hơn, không kém”. Đó là
câu trả lời của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Theo
công trình nghiên cứu mới đây
của giáo sư Eric Sharp thuộc Đại học Sydney
ở Úc thì ở thế
kỷ 20 có ba thánh nhân người châu Á, đó
là cố thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore (1861-1941), Mahātma
Gandhi (1869-1948) và chính Ngài, Đức
Đạt Lai
Lạt Ma Thứ 14
của Tây Tạng.
Đức Đạt
Lai Lạt Ma tên là Tenzin Gyatso, sinh
ngày 6 tháng 7 năm 1935. Bắt
đầu sự nghiệp học vấn của mình vào năm 6 tuổi và hoàn tất học vị
cao nhất của Phật giáo Tây Tạng là Geshe Lharampa, tương đương
với Tiến sĩ triết học Phật giáo -
Doctorate of Buddhist Philosophy,
ở tuổi 25. Năm
1940 tại Lhasa, thủ đô của Tây Tạng Ngài được chính thức tấn
phong là người lãnh đạo chính trị và tôn giáo cho 6 triệu người
Tây Tạng.
Kể từ năm
1959 Ngài sống lưu vong tại Ấn Độ sau trận đàn áp giết chết vô
số tu sĩ Tây Tạng mà Trung Quốc trong thời kỳ cưỡng chiếm xứ sở
nầy đã dùng vũ lực dã man tàn sát người dân tại đây. Năm 1989
Đức Đạt Lai Lạt Ma được trao giải Nobel Hòa bình cho công cuộc
đấu tranh bất bạo động của Ngài, được kính trọng và tôn vinh là
người đại diện Phật giáo xuất sắc hiện nay trên thế giới.
Đức Đạt
Lai Lạt Ma hiện cư ngụ tại một tịnh thất nhỏ ở Dharamsala. Mỗi
ngày Ngài thức dậy vào lúc 4 giờ sáng, ngồi thiền, và sau đó làm
việc theo thời khóa biểu của văn phòng chính phủ, cụ thể như
tiếp khách, diễn giảng giáo lý cho các khóa tu, hoặc chứng minh
các đại lễ. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết khỏang 50 quyển sách cùng
rất nhiều bài vở về Phật pháp và đời sống con người.
Ý thức và đời sống.
Cuộc sống của Đức Đạt Lai Lạt Ma đơn giản như bộ
áo cà sa trên người của Ngài. Cho dù đến gặp các nguyên thủ quốc
gia của các đại cường quốc trên thế giới, Đức Đạt Lai Lạt Ma
không bao giờ khóac vào người một chiếc áo cà sa may bằng gấm
ngũ thể hoặc thất thể, đội mũ hợp chưởng, đi dưới tàng lọng che
bằng gấm thêu hoa. Luôn luôn hiện diện với ngài là tinh thần
bình dị đồng đẳng, một nụ cười hiền hòa hầu như bao giờ cũng nở
trên môi, trong phong thái khoan thai nhân từ, và đôi bàn tay
chấp lại biểu hiện sự kính trọng người trực diện.
Lời hướng
dẫn của Đức Đạt Lai Lạt Ma là sống phải có từ tâm, biết tinh tấn
phấn đấu, vị tha, bỏ tính ích kỷ, biết chấp nhận, tri ân và ý
thức về việc làm của mình, chúng ta sẽ có được an vui trong đời.
Bởi vì hạnh phúc bạn có được đến từ sự hành xử của bạn. Về vấn
đề tín ngưỡng và hành đạo, Đức Đạt Lai Lạt Ma có cái nhìn rất
thóat, Ngài phát biểu: “Tín ngưỡng của tôi rất đơn giản, tín
ngưỡng của tôi là lòng tốt. Không cần có các chùa chiền, không
cần các triết lý cao siêu. Tim và óc của tôi là các chùa chiền;
triết lý của tôi là lòng tốt”.
Càn
khôn tận thị mao đầu thượng
Nhật
nguyệt bao hàm giới tử trung
Hai câu kệ
của Thiền sư Khánh Hỷ được
nêu dẫn trong trang đầu của quyển sách, diễn nghĩa là
”Càn khôn ở trên đầu một sợi lông và nhật nguyệt nằm trong lòng
một hạt cải”. Càn là quẻ thuần dương, tượng trưng cho Trời. Khôn
là quẻ thuần Âm của Bát quái, tượng trưng cho Ðất. Càn khôn là
Trời Ðất. Nhật Nguyệt là Mặt trời và Mặt trăng.
Lý Bột
đời Đường đọc sách nhiều đến nỗi được gọi là Lý Vạn Quyển. Một
hôm đến Lô Sơn tham vấn Hoà thượng Quy Tôn, ông hỏi: “Kinh nói
hạt cải chứa núi Tu Di nghĩa là sao?”. Hoà thượng Quy Tôn hỏi
lại: “Vậy thì vạn quyển sách chứa trong đầu ông thế nào?”
Ta cũng
có thể nói rằng, trong 6 chữ “VŨ TRỤ TRONG MỘT NGUYÊN TỬ” chứa
cái bao la tột cùng của thế giới tâm linh và tiềm năng vĩ đại
của khoa học, cùng hạnh phúc vô bờ của một phối hợp đồng điệu
hài hòa.
Đọc VŨ TRỤ
TRONG MỘT NGUYÊN TỬ của Đức Đạt Lai Lạt Ma chúng ta
sẽ mở rộng được tầm
nhìn, thấy được sự vi diệu của cuộc sống và sự tương tức của vạn
vật. Vũ trụ được hình thành từ những đơn vị nhỏ nhất, theo con
mắt của nhà khoa học là một nguyên tử, theo ngôn ngữ của nhà
Phật là một vi trần. Sách hướng đến sự định vị con người và vạn
vật, từ cái nhỏ nhất tiến tới hay từ cái vĩ đại nhất trở về, thì
mục đích là tạo thăng bằng để bảo tồn sự sống còn của vũ trụ và
đem an bình đến cho đời sống con người.
UYÊN HẠNH
10.10.09

Sách ấn tống, không bán, chỉ xin gửi lại
tiền cước phí (trong nước Mỹ: $5, ngoài nước Mỹ: $15).
Ủng hộ tuỳ hỷ. Số tiền ủng hộ của quý
vị (suggested $15), một nửa sẽ tặng cho các Tăng đoàn
Tây Tạng để hoằng dương Phật pháp, một nửa để NXB có
phương tiện in những sách tiếp theo.
Thi Tran
13210 Maple Creek Lane
GHI CHÚ:
Khoahoc.net sẽ trích đăng 3 chương đầu của quyển sách nầy kể từ
tuần sau, theo thứ tự là các chương 1.QUÁN CHIẾU - 2.GẶP GỠ CỦA
KHOA HỌC và 3.TÁNH KHÔNG, THUYẾT TƯƠNG ĐỐI VÀ VẬT LÝ LƯỢNG TỬ.
(Đạ tạ dịch giả Trần Uyên Thi).
www.khoahoc.net
1. Tên của bạn::
'PHAM MINH DUC'
2. E-Mail của bạn::
'mdcauduong
3. Góp ý cho bài ? :
'Xóa rồi ghi tên bài ở đây'
4. Góp ý, Phê bình::
'cuốn sách viết khá bao quát về khoa học vũ trụ và những liên
quan nhưng o nên đứng trên một phương diện nào để xem nhẹ lĩnh
vực khác đặc biệt là tôn giáo, nếu không thấu đáo thì không nên
nói đến. về vũ trụ thì ngài còn rất hạn chế.'
Trở về Trang Chính
|