|
Câu Chuyện Da Cam/Dioxin Việt Nam là tập sách
do Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, Chủ tịch Hội đồng Quản trị VAST chủ
trương điều hợp biên khảo. VAST là tên
của Tổ chức Vietnamese American Science & Technology Society -
Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam. VAST là một tổ chức tư nhân,
bất vụ lợi (non-profit), và phi chánh phủ (Non-Government
Organization).
Sách
dày 480 trang, gồm 45 chương, là một tập hợp của nhiều bài viết,
những phân tích của một số nhà làm khoa học bao quanh vấn đề và
vụ kiện da cam tại Hoa Kỳ. Những dữ kiện khoa học qua qúa trình
10 năm họat động đã được tất cả các thành viên của VAST cố gắng
phổ biến qua những trao đổi thông tin, các cuộc Hội thảo, Hội
nghị để tham khảo và thảo luận về vấn đề Dioxin và chất Da Cam ở
Việt Nam. Tiếng nói của Hội đã được
chuyển tải qua truyền hình SBTN, Việt Nam Hải Ngoại khắp nơi, và
trên truyền thanh cũng được phát đi thường xuyên qua các Đài như
Á Châu Tự Do (RFA), Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA), Đài Pháp Quốc tế
(RFI), SBS (Úc), Đài Việt Nam Hải Ngoại khắp Hoa Kỳ, các Đài địa
phương như Radio Bolsa, Washington,Tiếng Nước Tôi, Chân Trời
Mới, Houston, Dallas, Philadelphia, New Orleans ..v.v
Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam VAST thực hiện
việc in ấn tập tài liệu nầy nhằm thoả mãn nhu cầu tìm hiểu và
tham khảo của những người quan tâm đến vấn đề trên. Ước mong
khác của Hội là cống hiến một tài liệu tham khảo hữu ích cho
giới trẻ, các sinh viên nghiên cứu qua trường lớp đại học sử
dụng như là một trường hợp điển hình (case study).
Chất
Da
Cam,
tiếng Anh gọi là
Agent Orange - Tác
nhân Da cam,
là loại hóa chất khai quang quân đội
Mỹ đã rải ở Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh 1961 –
1971, chủ đích diệt cỏ và làm rụng lá cây để quân đội du kích từ
phương Bắc tràn xuống đánh phá miền Nam ẩn náu trong các khu
rừng rậm phải lộ hình,
không còn nơi lẩn
trốn. Lần đầu tiên
quân đội Mỹ tiến hành đợt rải chất hóa học nầy xuống miền Nam
Việt Nam là ngày 10/8/1961. Các loại hợp chất này được trộn vào
dầu hỏa hoặc nhiên liệu dầu cặn rồi rải bằng máy bay hoặc các
phương tiện khác.
Theo tạp
chí Nature trong thời gian 10 năm đó quân đội Mỹ và quân đội Nam
Việt Nam đã rải 76,9 triệu lít hóa chất xuống rừng núi và đồng
cỏ Việt Nam. Tổng số lượng dioxin Việt
Nam hứng chịu vào khoảng 370kg. Trong số này có 64% là hóa chất
màu da cam, 27% là chất màu trắng, 8,7% chất màu xanh và 0,6%
chất màu tím. Quân đội Hoa Kỳ
sử dụng một số mã danh để
chỉ đến các chất được dùng trong thời kỳ này: Agent Blue/Chất
Xanh, cacodylic acid.
Agent White/Chất Trắng, hỗn hợp 4:1 của 2,4-D và picloram. Agent
Purple/Chất Tím và
Agent Pink/Chất Hồng.
Đến năm 1971, Chất Da Cam
không còn được dùng để làm rụng lá nữa; 2,4-D
vẫn còn được sử dụng để làm diệt cỏ. 2,4,5-T đã bị cấm dùng tại
Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác.
Dioxin là
tên chung của một hỗn hợp gồm hàng trăm hóa chất có khả năng tồn
tại bền vững trong môi trường cũng như trong cơ thể con người và
các sinh vật khác. Thành phần độc hại nhất là TCDD
(2,3,7,8-tetrachlorodibenzo-p-dioxin). Dioxin có trong các sản
phẩm phụ của nhiều sản phẩm hóa học công nghiệp được sử dụng
trong hệ thống đốt chất thải, các lọai thuốc trừ sâu và tẩy
trắng trong ngành sản xuất giấy v.v... Năm 1994 Cục Bảo vệ Môi
trường Hoa Kỳ (EPA) qua báo cáo sơ thảo đã miêu tả dioxin như là
tác nhân đe doạ nguy hiểm đối với sức khoẻ cộng đồng. Tổ chức
quốc tế về nghiên cứu ung thư (IARC) thuộc WHO đã công bố
2,3,7,8-TC DD là chất gây ung thư nhóm 1. Đồng thời, tháng 1 năm
2001, chương trình Độc học Quốc gia Hoa Kỳ đã chuyển dioxin vào
nhóm "các chất gây ung thư cho người".
Cơ chế
phân tử của dioxin tác động lên các tế bào và cơ thể người, động
vật vẫn đang còn nhiều tranh cãi về chi tiết. Một số thí nghiệm
trên chuột cho thấy dioxin làm tăng nồng độ các gốc ion tự do
trong tế bào. Dioxin có thể phá huỷ các cấu trúc tế bào, các
protein quan trọng, và quan trọng hơn cả, nó có thể gây đột biến
trên phân tử DNA.
Theo dẫn
giải suy luận được đưa ra từ phía chính quyền Việt Nam trong các
cuộc kiện tụng tại Tòa án Hoa Kỳ vào năm 2004, 2006 và 2007 thì
lượng Dioxin trong Chất Da Cam ngoài việc gây nên bệnh ung thư,
còn là nguyên nhân của một số bệnh nguy hiểm khác như bệnh rám
da, mù, viêm da, thiếu khả năng sinh dục, sinh quái thai hoặc
thiểu năng trí tuệ..v.v. Việt Nam còn cho rằng, nhiều thế hệ
bị ảnh hưởng vì chất dioxin và con số có thể lên tới 5
triệu người. Hoa Kỳ thì cho rằng chưa đủ chứng cứ khoa
học để đưa ra cáo buộc trên đây.
Giáo sư
Alvin L. Young - chuyên gia dioxin cho biết không có tác hại
sinh thái nào được ghi nhận ở động thực vật mặc dù một lượng lớn
chất diệt cỏ và dioxin đã được sử dụng và ông còn nói rằng thông
tin này chưa được xem xét trong các lần đánh giá trước của Cơ
quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ và Viện Y học thuộc Viện Hàn lâm
Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ. Tuy nhiên, ông cũng đã lưu ý rằng "các
chất diệt cỏ đổ thẳng xuống đất và ngấm sâu trước khi thoái biến
sẽ có tồn dư và vì vậy là một mối lo ngại". Theo Thông cáo Báo
chí của Tòa Đại sứ Hoa kỳ tại Việt nam, Cựu Đại sứ Mỹ tại Việt
Nam ông Michael Marine cho rằng mối liên hệ giữa sự phơi nhiễm
dioxin và sức khoẻ con người vẫn chưa được chứng minh. Tuy nhiên
ông đã công bố khoản tài trợ trị giá 400 nghìn USD để nghiên cứu
ô nhiễm dioxin và tẩy độc tại sân bay Đà Nẵng.
Qua các dữ
kiện được đề cập đến trong sách, chúng ta biết được
Hội Nạn nhân Chất Da cam/Dioxin Việt Nam từ
trong nước sang Hoa Kỳ nạp đơn ngày 30/1/2004 tại toà án
Brooklyn, New York, quy trách và kiện đòi bồi thường nhắm vào 37
Công ty hoá chất Hoa Kỳ đã tham gia sản xuất chất Da cam cung
ứng cho quân đội Mỹ phun xịt trong khoảng thời gian chiến tranh
tại Việt Nam trước năm 1975. Qua các vụ kiện kể từ vụ kiện đầu
tiên vào ngày 31 tháng 1 năm 2004, Hội Nạn nhân Chất độc da
cam/dioxin Việt Nam (The Vietnam Association of Victims of Agent
Orange/Dioxin - VAVA) đã kiện và đòi bồi thường do trách nhiệm
gây ra thương tích vì đã sản xuất chất hóa học này. Dow Chemical
và Monsanto là hai công ty sản xuất Chất Da cam lớn nhất cho
quân đội Hoa Kỳ đã bị nêu tên trong vụ kiện cùng các công ty
khác.
Ngày
10 tháng 3 năm 2005 quan tòa địa hạt (Jack Weinstein) đã bác đơn
kiện, quyết định rằng những đòi hỏi của đơn kiện không có cơ sở
pháp luật. Ngày 7 tháng 4, 2005 các nguyên đơn Việt Nam đã tiếp
tục gửi đơn kháng cáo lên Tòa Phúc thẩm của Mỹ đòi lật lại quyết
định của tòa sơ thẩm. Tòa Phúc thẩm Khu vực 2 tại Manhattan bắt
đầu xem xét lại vụ kiện vào tháng 6 năm 2006, ra phán quyết vào
tháng 2 năm 2007 đồng ý với phán quyết của Tòa sơ thẩm. Tòa
phúc thẩm đã phán quyết rằng họ đồng ý với kết luận
trước, là chất độc màu da cam được sử dụng nhằm bảo
vệ quân đội Mỹ chứ không phải vũ khí chống lại dân
thường. Tòa phúc thẩm xem xét vụ kiện từ tháng 6/2007,
với phiên điều trần của các nạn nhân mà bên nguyên đơn
đưa ra. Theo thông tin của VAST trong sách, phiên toà không có
kết luận, và cũng im lặng không công bố gì cả cho đến hôm nay
(thời điểm đầu năm 2008).
Sách đã đề
cập vấn đề sau đây: Con số nạn nhân ở Việt Nam đã được chính phủ
Việt Nam thay đổi
tuỳ thời điểm, và con số đó tiếp tục tăng dần theo thời gian
cũng như số lượng trẻ em thuộc thế hệ thứ hai và thứ ba sau
chiến dịch Ranch Hand cũng tăng mạnh lên.
Sách cũng
đưa ra những sự kiện khác như: ”Năm 2007, Liên Hiệp Quốc qua
Chương trình Môi trường nhận định đất canh tác nông nghiệp ở
Việt Nam đã cằn cỗi do việc khai thác bừa bãi và quá tải cũng
như ước tính hiện có khoảng 8 triệu mẫu đất đang bị hoang hoá và
sa mạc hoá. Việt Nam cần được phát triển”.
VAST đã
nêu ra quan điểm sau đây: Phát triển phải đặt trên sự đồng bộ,
hài hoà, và ứng hợp với chiều hướng phát triển toàn cầu, nghĩa
là phải đi đôi với việc bảo vệ môi trường. Và qua nhiều cuộc
nghiên cứu quốc tế như UNICEF, Ngân hàng Thế giới, cho thấy trẻ
em Việt Nam trong giai đoạn đầu đời, thiếu nhiều vitamines cần
thiết cho dinh dưỡng như các loại Vit B và acid folic. Nếu nhận
thức được điều nầy, tổng số trên dưới 5 triệu nạn nhân Việt Nam
tự đưa ra dưới cái tên nạn nhân của chất độc màu da cam sẽ không
hiện diện trên dãy đất thân yêu của chúng ta ngày hôm nay nữa.
Theo quan
điểm của VAST, Việt Nam cần phải nhìn nhận một thực tế đúng đắn
rằng, phải giải quyết một sự thật hiển nhiên là tình trạng ô
nhiễm môi trường và suy dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam. Đây là
hai việc chính yếu mà Việt Nam cần phải thẳng thắn đối mặt và
xác định ưu tiên cần phải làm trước hơn cả.
Sách cũng
trình bày quan điểm của VAST như sau: ”Là một người làm khoa
hoc, chúng tôi luôn tôn trọng tuyệt đối sự khách quan và tính
chính xác khoa học, do đó, vấn đề Da cam/Dioxin Việt Nam trong
thời gian chiến tranh cần được nghiên cứu chứng minh rõ ràng,
không thể nào đem yếu tố chính trị xen vào kết luận mà phải nhìn
toàn thể bối cảnh của môi trường và xã hội Việt Nam hiện tại. Là
một người Việt chân chính, chúng tôi không thể nào vô cảm trước
nỗi đau nếu có của hàng triệu đồng bào ruột thịt đang phải gánh
chịu ngày nay. Nếu quả thật những nạn nhân được nêu ra là nạn
nhân của chất Da cam, chúng tôi sẽ là một trong những người đầu
tiên tình nguyện tham gia vào đoàn cứu trợ hầu được đóng góp vào
việc xoa dịu nỗi đau của dân tộc. Và sau cùng, chúng tôi hoàn
toàn đặt tin tưởng vào Tuổi Trẻ Việt Nam ở trong và ngoài nước,
có thừa khả năng về chuyên môn cộng thêm một tâm lành trong
sáng, đã và đang thể hiện tinh thần Quang Trung, sẽ giải quyết
vấn nạn ô nhiễm môi trường trong cả nghĩa bóng và nghĩa đen ở
Việt Nam mà thế hệ cha anh để lại.
UYÊN HẠNH
Ngày 27.3.2008

CÂU
CHUYỆN DA CAM/DIOXIN VIỆT NAM
của
Mai
Thanh Truyết
Sách gồm
45 Chương, 480 trang. Giá bán $25:00 luôn cước phí.
Liên
lạc: Mai Thanh Truyết
2210 S.
Azusa Ave
West
Covina, CA 91792
Email: EnviroVN@gmail.com
Trở về Trang Chính
|