tỉnh Hải Nam để quản trị một số quần đảo, trong
đó có Hoàng Sa và Trường Sa. Sự kiện nầy
cho thấy một lần nữa Trung Quốc đã lấn lướt chủ quyền Việt Nam
trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Đây không phải là lần
đầu tiên Trung Quốc có hành động ngang ngược như thế. Dòng máu
xâm lăng bạo ngược và tàn độc của Trung quốc đã thể hiện quá rõ
với đất nước Việt Nam chúng ta. Suốt một ngàn năm càn quét hà
hiếp bạo hành họ đã để lại trong lòng người dân Việt nhiều căm
hờn phẫn nộ. Lòng căm hờn đối với hành vi tham tàn của Trung
quốc càng đậm nét khi họ dùng hải và không lực đánh chiếm tòan
bộ quần đảo Hòang Sa vào ngày 19.01.1974. Một sự cưỡng chiếm
bằng vũ lực của Trung Quốc ngay sau khi
Việt Nam Cộng Hòa cho phép các công ty dầu khí phương Tây
được khởi đầu sự thăm dò
quần đảo Trường Sa vào năm 1974.
Hành động bạo ngược nầy được tiếp nối bằng một số hành động
ngang ngược về sau của Trung quốc như việc cưỡng chiếm một số
đảo thuộc quần đảo Trường Sa vào ngày 14
tháng 3 năm 1988 và một tháng sau đó,
ngày 14 tháng 4 năm 1988, bằng một nghị
quyết Trung Quốc đã
ngang nhiên thông qua
việc tuyên bố sát nhập 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh
Hải Nam của Trung quốc.
Theo nghị quyết đó bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân
Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ
nước CHNDTQ, bao gồm phần đất TQ trên đất liền và các hải đảo
ngoài khơi, Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần
đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa (tức Hòang Sa), quần đảo Trung Sa,
quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa)
Trước sự kiện ngày 2 tháng 12 năm nay đại diện các đoàn thể
người Việt khắp nơi trên thế giới đã cực lực lên án chủ nghĩa bá
quyền của Trung Quốc cụ thể qua hành động thô bạo trong việc
dùng vũ lực cưỡng chiếm lãnh thổ và lãnh hải, đồng thời phủ nhận
chủ quyền Trung quốc trên các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Nhiều tổ chức đòan thể người Việt yêu nước đã đứng lên kêu gọi
nhân dân Việt trong và ngòai nước phản đối hành vi ngang ngược
của Trung Quốc. Các cuộc biểu tình trước sứ quán và lãnh sự quán
Trung Quốc ở nhiều nơi, đặc biệt tại Hà Nội và Sài Gòn là sự
phản kháng hành động bá quyền của Trung Quốc, là tiếng nói tạo
sự chú ý đối với quốc tế yêu cầu các quốc gia yêu chuộng hòa
bình và công lý ủng hộ việc buộc Trung Quốc hoàn trả hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa về cho Việt Nam. Đây cũng là tiếng nói
của nhân dân Việt không chấp nhận việc mất lãnh thổ và lãnh hải
vào tay Trung Quốc, đồng thời tỏ thái độ khẳng định việc không
chấp nhận Công Hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 do Thủ Tướng Chính
Phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Phạm văn Đồng đã ký "công
nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính
phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa quyết định về hải phận của
Trung Quốc". Công hàm được viết ngày 14
tháng 9 đăng trên báo Nhân Dân ngày 22 tháng 9 năm 1958, với nội
dung: "Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán
thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về hải phận của Trung quốc". Về sau
Trung Quốc cũng đã nêu một số tài liệu khác do chính phủ Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa phổ biến để làm bằng cớ về sự thỏa thuận
nhượng biển của Hà Nội.

Vị trí hai quần đảo Hòang
Sa và Trường Sa trên Biển Đông
Theo các tài liệu cho thấy Việt Nam đã
tiến hành nhiều cuộc khảo sát địa lý và tài nguyên trên quần đảo
và tất cả kết quả các chuyến khảo sát được ghi chép trong văn
học và lịch sử Việt Nam, xuất bản kể từ thế kỷ 17.
Trong cuốn Phủ Biên Tạp Lục của học giả
Lê Quý Đôn ghi chép
Hoàng Sa và Trường Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi,
và đã có sự khai thác các sản phẩm biển
và những đồ vật sót lại từ các vụ đắm tàu. Sách cũng có ghi rằng
Việt Nam vào thế kỷ 17 qua các hoạt động kinh tế tại đó đã có sự
tài trợ của nhà Lê kể từ thời gian 200 năm trước đó. Từ thế kỷ
18 chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều cuộc nghiên cứu địa lý
về các đảo. Riêng trong quyển Đại Nam Thống Nhất Toàn Đồ, được
hoàn thành năm 1838, trong đó Trường Sa được vẽ thuộc lãnh thổ
Việt Nam. Một sự kiện khác cũng đã chứng minh rõ rệt là thời kỳ
Pháp đô hộ Việt Nam đã ký kết một hiệp ước với triều đại nhà
Nguyễn, đại diện quyền lợi của Việt Nam cho các vấn đề đối ngọai
để thi hành chủ quyền trên hai quần đảo nầy thay cho Việt Nam.
Tháng 7 năm 1951 khi Trần Văn Hữu chủ tịch phái đoàn chính phủ
Bảo Đại tới dự Hội nghị San Francisco về Hiệp ước Hoà bình với
Nhật Bản đã tuyên bố trước sự hiện diện của 51 nước về chủ quyền
của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu thuộc lãnh thổ
Việt Nam. Về điểm nầy đã không có sự chống đối hoặc yêu cầu liên
hệ về tuyên bố trên đây. Sau khi Pháp rút khỏi Việt Nam, chính
phủ Việt Nam Cộng Hòa đã tiếp tục thi hành chủ quyền trên hai
quần đảo nầy đối với quốc tế.
TRƯỜNG SA:
gồm khoảng 100 đảo nhỏ với một diện tích trên gần 400.000
km² ở giữa biển Đông. Vì không thể trồng trọt được nên không có
dân cư sinh sống lập nghiệp. Các nguồn lợi thu họach được trên
đảo gồm có cá và phân chim. Tuy chưa có những cuộc khảo cứu địa
chất thực thụ nhưng với những nghiên cứu sơ khởi và các cuộc
phỏng định giá trị thì Trường Sa có một tiềm năng lớn về khóang
sản, dầu mỏ và khí đốt. Hiện thời việc nghiên cứu địa chất hay
khai thác các tiềm năng nầy không thực hiện được vì sự tranh
chấp chủ quyền.
Năm 1956 Trường Sa
được sát nhập vào một
phần của tỉnh
Phước Tuy. Năm 1982 tòan bộ khu vực quần đảo Trường Sa thuộc
tỉnh Đồng Nai. Trước đó quần đảo Trường Sa thuộc huyện Long Đất,
rồi chuyển sang tỉnh Phú Khánh vào năm 1982 và đến năm 1989
Trường Sa trực thuộc Tỉnh Khánh Hòa.
Bản đồ quần đảo Trường Sa từ CIA
World Factbook 2002
Những dữ kiện tạo tranh
chấp chủ quyền:
-
Theo thống kê cho thấy Biển Đông cung cấp
một nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú.
Lượng cá và hải sản đánh và bắt được ở Biển
Đông chiếm 8% số lượng cá và hải sản của thế giới.
-
Năm 1968 người ta tìm thấy dầu mỏ trong
vùng. Nhiều dự đóan giá trị dựa trên một số dữ kiện cho thấy
các nguồn lợi thiên nhiên như dầu mỏ khí đốt có một trữ
lượng lớn và là một trong bốn vùng có trữ lượng dầu và khí
đốt thiên nhiên lớn nhất thế giới. Tiềm năng dầu khí to lớn
này gây tình hình căng thẳng và tạo động lực cho các nước
trong vùng tranh dành chủ quyền. Vào năm 1976, Phi Luật Tân
đã tiến hành một cuộc tìm kiếm dầu khí ngoài khơi Palawan,
trong khu vực quần đảo Trường Sa, và số lượng dầu khí khai
thác được tại đó chiếm năm mươi phần trăm tổng lượng số dầu
được tiêu thụ tại Phi Luật Tân.
-
Đây là vùng có số lượng tàu bè qua lại nhiều
nhất trên thế giới. Lượng dầu thô
trên thế giới được chở ngang qua Biển Đông chiếm một tỷ số
là 20%.
-
Có nhiều nhận định cho thấy rằng Trung Quốc
chiếm hai đảo Hòang Sa và Trường Sa không hẳn vì nguồn tài
nguyên phong phú của biển cả mà là vị thế quân sự trọng yếu.
Điển hình từ đảo ngầm Mischief họ có thể giám sát tàu Hải
quân của Mỹ chạy ngang qua biển Tây của Phi Luật Tân.
Trước tình hình căng thẳng về vấn đề lãnh hải
liên hệ đến việc khai
thác nguồn tài nguyên thiên dưới lòng
biển sâu trong lãnh hải của các nước liên
hệ, Hội nghị Liên
hiệp quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982 đã được triệu tập để
bàn thảo và ấn định giới hạn vùng biển quốc tế. UNCLOS thỏa
thuận lãnh hải của một nước được giới hạn 200 dặm từ biên giới
đất liền của nước đó. Nhưng các tranh chấp trước đây không thể
giải quyết được nên vấn đề chủ quyền của các đảo vẫn chưa có một
giải pháp thích đáng.
HOÀNG SA
có khỏang chừng 30
đảo nhỏ nằm giữa
một khu vực có tiềm năng cao về hải sản và trữ lượng dầu mỏ.
Trên đảo Hòang Sa không có dân cư sinh sống.
Hoàng-Sa nằm giữa Biển Đông nên khí hậu điều
hòa. Đảo Hoàng Sa hình bầu dục, dài khoảng 950m, rộng khoảng
650m. Hoàng Sa là đảo chính của quần đảo nhưng không phải là
đảo lớn nhất. Nhiều nhà quân sự cho rằng đảo này có vị trí quan
trọng nhất trong việc phòng thủ vùng bờ biển Việt Nam.

Quần đảo
Hoàng Sa
Theo Jean Baptiste
Chaigneau tác gỉa Hồi ký về Đông Dương
thì những dữ liệu ông tìm được đã ghi
rằng vua Gia Long chính thức thu nhận quần đảo Hoàng Sa vào năm
1816. Khi người Pháp đặt nền bảo hộ trên toàn cõi Đông Dương, họ
cũng tiếp tục lãnh nhiệm vụ bảo vệ Hoàng Sa.
Năm 1938 người Pháp đã dựng bia chủ quyền trên đảo Hòang Sa
ghi lại việc nhận chủ quyền chính thức
của chính quyền Việt Nam từ 1816 (Thời Vua Gia Long) với hàng
chữ ghi như sau: République Française, Empire d'Annam,
Archipel des Paracels, 1816 - Ile de Pattle-1938.
Các năm 1895
và 1896 khi hai
thương thuyền Bellona và Iruezi Maru chở đồng cho người Anh bị
đắm tại nhóm đảo Tuyên Đức và bị người Trung Hoa đến đánh cướp.
Đại diện người Anh tại Bắc Kinh đòi nhà Thanh phải bồi thường vì
có một số đồng được đem về bán tại đảo Hải Nam, chính quyền nhà
Thanh không chịu bồi thường, viện cớ quần đảo Hoàng Sa không
thuộc chủ quyền của Trung Hoa.
Trong thời gian Hoàng Sa dưới chủ quyền của
Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ở đây có đặt căn cứ quân sự cho việc
trú phòng của một tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến. Ngòai ra trên
đảo Hòang sa còn có thiết lập hải đăng, đài khí tượng, miễu bà
(do vua Minh Mạng lập), và cầu tàu. Chiếu Hiệp định Genève hai
quần đảo thuộc sở quyền Việt Nam Cộng Hòa vì nằm dưới vĩ tuyến
17 và thuộc về tổ quốc Việt Nam xét theo địa lý và lịch sử lâu
đời.
Một trong những nghiên cứu mới nhất được công bố về Hoàng Sa là
luận án tiến sĩ của ông Nguyễn Nhã, đề tài Quá trình xác lập chủ
quyền của VN tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bảo vệ ngày 18
tháng 1 năm 2003 (29 năm sau trận hải chiến giữa Trung Quốc và
Việt Nam Cộng hòa) tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn TPHCM. Ông Nguyễn Nhã nói: "Với luận án tiến sĩ này, tôi
thách thức các nhà nghiên cứu các nước, kể cả Trung Quốc, có một
đề tài xác lập chủ quyền Hoàng Sa mang tính khoa học được như
tôi" .
Việc để mất quần đảo Hoàng
Sa tạo nhiều ảnh hưởng xấu cho ngư dân do
vấn đề dự báo khí tượng thủy văn
bị nhiều giới hạn. Vì mất quyền kiểm soát
quần đảo Hoàng Sa Việt Nam đã gặp rất
nhiều khó khăn trong các công tác dự báo
những cơn bão xa, đặt
trạm phát tín hiệu trên Biển Đông
cho công tác cứu nạn các tàu
đánh cá
điển hình như trong
thời gian hoành hành của
cơn bão số 1 Chanchu tháng 5 năm 2006 vừa qua.
Việc Trung quốc tuyên bố thành lập thành phố
Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam ngày 2 tháng 12 năm 2007 để quản trị
một số quần đảo, trong đó có Hòang Sa và Trường Sa đưa việt Nam
vào thế nằm trong gọng kìm lớn là Trung Quốc:
·
Chận đường tiến ra đại dương và
lấy mất hết nguồn thủy sản khoáng sản phong phú cần có để nuôi
sống dân tộc Việt Nam.
·
Chiếm được hai quần đảo này Trung
Quốc dễ dàng khống chế Việt Nam về mặt an ninh, quân sự khi họ
đã đặt những căn cứ quân sự như phi trường và đồn lính.
·
Trung quốc dễ dàng tấn công Việt
Nam từ mặt biển và đất liền.
Ngòai việc chiếm lãnh một
nguồn tài nguyên phong phú như hải sản, cá, dầu và khí đốt,
chiếm được Hòang Sa và Trường Sa Trung quốc chiếm được rất nhiều
lợi thế về mặt quân sự. Với lực lượng quân sự đặt tại đây, họ có
được tầm kiểm sóat rộng, cụ thể trong việc kiểm sóat tàu Mỹ lưu
hành trên Biển Đông và nhòm ngó dễ dàng vào các nước khác như Mã
Lai, Brunei, Indonesia, Phi Luật Tân.
Chúng ta không chấp nhận
việc mất Hòang Sa và Trường Sa. Những tên giặc Trung quốc không
thể dùng sức mạnh của chúng ngang ngược chiếm cứ những gì không
thuộc về chúng. Chúng ta sẽ tranh đấu cho đến cùng để đòi chủ
quyền của chúng ta ở hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa. Thế
giới phải thấy được rằng chúng ta không chấp nhận việc lấn đất
cướp lãnh hải của giặc Tầu. Trung quốc là nước láng giềng, và
hành động của họ đơn giản có thể nhìn thấy như sự việc người
láng giềng sống bên cạnh nhà chúng ta ỷ vào địa vị quyền lực từ
sự giàu có của họ, lấy mạnh hiếp yếu bỏ mất công bằng và quyền
lợi của người khác, ngang nhiên mở cửa bước vào nhà chúng ta để
dành căn nhà chúng ta đang sống. Chúng ta không thể cúi đầu lủi
thủi bước ra khỏi căn nhà mình đang sống để nhường nhà cho chúng
ở.
Không nói lên lời phản
kháng, không bước xuống đường biểu tình chống đối, thì với sự im
lặng chúng ta gián tiếp chấp nhận hành động ngang ngược của
giặc.
UYÊN HẠNH
12/2007