Truyện kể về cuộc đời người thôn nữ bán chiếu ở Tây Hồ, gặp văn
nhân đệ nhất hà thành Lê Ức Trai - Nguyễn Trãi, con người tài
trí xuất chúng. Họ gặp gỡ trong một chiều xuân mưa bay phơ phất
trên phố phường sau Chùa Quán Sứ. Hai người đã ứng khẩu đề họa
thi thơ. Rồi nàng về làm vợ của chàng và đã nhiều năm theo chồng
vào Thanh cùng nghĩa quân suốt mấy năm dài kháng chiến. Người
thiếu phụ tuổi bốn mươi được phát họa qua nét bút của Hà văn
Thùy trong những trang đầu của quyển sách, với trang phục bình
dị vẫn cho thấy một Thị Lộ với sắc đẹp quý phái mà lại lồ lộ
lộng lẫy: ”Cặp chân dài dẻo dai, dáng đi uyển chuyển. Tấm váy
lụa mềm mại cuốn theo mỗi bước đi, để lộ bắp chân trần trắng
muốt. Chiếc thắt lưng hoa lý bay bay phơ phất và tấm áo tứ thân
màu huyết dụ bó sát lấy thân hình nở nang… Nàng vẫn đẹp, quá đẹp
ở tuổi của nàng. Khi bóng nàng khuất trong rừng, không hiểu sao
ông bỗng thấy âm thầm một nỗi lo xa xôi. Tinh hoa phát tiết đến
vậy liệu có bền lâu?!”
Một ngày định mệnh, khi nàng cùng chồng là Quan Hành khiển Đại
phu Nguyễn Trãi đẹp đôi sánh bước đến dự cuộc hội trong cung
đình, khi vị vua đương thời tuổi chỉ bằng nửa tuổi nàng gặp Thị
Lộ, vị quân vương trẻ tuổi liền say mê người đàn bà đẹp lộng lẫy
quyến rũ nầy. Kể từ đó nhà vua ngày đêm thương nhớ tơ tưởng đến
nàng và kiếm cách đưa nàng vào cung. Nàng trở thành Lễ nghi Học
sĩ chấn chỉnh hậu cung của vua Lê Thái Tông tức Lê Nguyên Long
con trai Vua Lê Lợi.
Được vời vào cung giữ chức Lễ nghi Học sĩ, Thị Lộ cho thấy nàng
là con người tài trí thông minh lanh lợi, có cái nhìn sâu sắc,
một óc phân tích để xử kiện phân minh, một con người nhân hậu.
Nàng biết đặt sự đa nghi đúng chỗ để biến đổi cục diện một cách
linh động chu tòan tạo ổn định tình hình rối ren trong cung
đình, lợi ích cho dân cho nước. Từ những tình huống gay cấn nhất
ta thấy được một Thị Lộ biết xếp đặt và tế nhị ứng phó công
việc. Suốt những năm dài ở trong cung Thị Lộ đã giáo dục huấn
luyện cung nữ, một công việc rất khó mà nàng thực hiện được đã
làm thỏa lòng vị quân vương trẻ tuổi tránh cho nhà vua ngày ngày
phải chứng kiến cảnh ”hàng lũ đàn bà suốt ngày ngắm vuốt chưng
diện, ngồi lê đôi mách, bài xích ganh ghét nhau rồi hằng đêm
phấn son lòe loẹt chờ đón ân sủng. Cuộc sống như vậy thật nhàm
chán vô vị, nó làm con người tầm thường, ngu độn đi”.
Vào cung đình làm việc, sự gần gủi và nhiệt tình của vị quân
vương đã làm nàng ngã lòng và nàng rơi vào vòng tay nồng ấm của
người tình mới, tuy nàng rất yêu mến kính phục chồng. Chẳng
trách cho nàng Thị Lộ, bởi vì cái tình của đấng quân vương trẻ
thực sự là một chân tình. Nàng đã bắt được rung động từ vị vua
trẻ tuổi ẩn hiện như ánh chớp sáng lòe trong khóe mắt cử chỉ và
lời nói của vị quân vương. Để rồi trong một buổi tối khi thả
lòng thương nhớ đến người chồng đã cách xa, trong tiếng đàn nói
lên nỗi lòng cô đơn đẩm nước mắt xóay sâu vào đêm tối, nàng đã
đáp lại thịnh tình của vị quân vương trẻ và hai người cùng viết
nên khúc tình ca của những giao cảm đồng điệu.
Thực tế cho thấy, vị vua trẻ nầy có thể dùng uy quyền để chiếm
đọat nàng, nhưng đã không làm vậy. Vị quân vương trẻ đã yêu nàng
Thị Lộ bằng tất cả trái tim mình. Cho dù có hằng trăm cung tần
mỹ nữ, ông chỉ nếm mùi ái ân chăn gối của xác thịt mà chưa hề
biết thế nào là cái cảm giác yêu say đắm, để hai tâm hồn cùng
nhập vào hai cơ thể mà hòa tan trong niềm hoan lạc vô bờ. Tác
giả đã cho ta thấy cái nhìn cởi mở về sự sa ngã của Thị Lộ bằng
một cảm thông rõ rệt, bởi vì với Nguyễn Trãi người chồng tài hoa
của nàng, thì tình của nhau là mối tình ”không nặng xác thịt mà
phưởng phất hương hoa, đạm thanh và sâu sắc”. Hãy nghe Hà văn
Thùy vẽ về cuộc tình gối chăn của vợ chồng Thị Lộ và Nguyễn
Trãi: ”Khi gần nhau người âu yếm nhưng khi nàng chỉ vừa cất cánh
bay khỏi mặt đất thì mọi việc ở chàng đã kết thúc và nàng như
con chim gẫy cánh rơi thê thảm xuống mặt đất trần trụi. Ngay sau
đó chàng chìm vào giấc ngủ mặc cho nàng thao thức”. Và với vị
vua trẻ tuổi thì cuộc ái ân là một chuổi dài của những cảm giác
mãnh liệt nóng cháy của một cuộc tình rực lửa ”Nhưng rồi sau đó
những kìm nén mà nàng cố tình gìn giữ bị phá tung, không cưỡng
nổi bản thân, nàng hưởng ứng cuồng nhiệt. Cơn khát thèm tích tụ
bao ngày đã được thỏa mãn ở lần trước, lần này chàng trai trẻ từ
tốn điệu đàng dẫn nàng vào cuộc vui, đưa nàng lên cực điểm khoái
lạc.”
Với văn phong thanh nhã Hà văn Thùy đã linh động và sâu sắc mỗ
xẻ xúc cảm của người thiếu phụ có chồng khi ở tận cùng đỉnh
khóai lạc mà không quên đưa vào đó những ray rức của mặc cảm tội
lỗi. Hai nghịch chất được ông dùng để rải hương cho câu chuyện
kể thêm nồng. Khi nồng nàn của cuộc ái ân ẩn hiện nỗi đau xót
cùng mặc cảm tội lỗi, làm đậm nét cuộc tình với vị quân vương
trẻ, thì mối tình thi văn cao quý cùng nghĩa vợ chồng với Nguyễn
Trãi cũng lắm đậm đà nên đã gây cho nàng nhiều ray rức khó vơi.
Cái nhìn khách quan của Hà Văn Thùy trong Khối tình Nguyễn Thị
Lộ đã cho ta hình ảnh một người đàn bà hòan hảo. Ngày còn trẻ
Thị Lộ được cha cho học chữ thánh hiền, tứ Thư, ngũ Kinh rồi thi
phú. Lớn lên, nàng xinh đẹp nhất vùng, có tài thơ văn, đối đáp.
Về làm vợ Nguyễn Trãi, bẩm sinh là người thông minh lại hiếu học
nên Thị Lộ trở thành ”tác phẩm hòan mỹ” của ”tác giả” Nguyễn
Trãi, con người tài hoa cháu ngoại quan Tư đồ Trần Nguyên Đán,
con quan Hàn lâm viện học sĩ kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám Nguyễn
Phi Khanh, đỗ thái học sinh, từng giữ chức Ngự sử đài chánh
chưởng thời nhà Hồ. Những tháng ngày bên ông nàng đã được ông
dùng tình yêu giáo dưỡng san sẻ những học hỏi hiểu biết của
mình. Với tình yêu cùng lòng kính trọng chồng Thị Lộ đã làm rạng
danh văn nhân tài danh Nguyễn Trãi. Bẩm chất thông minh nhân hậu
tài hoa, với thời gian 20 năm chung sống cùng người chồng nhân
đức tài danh, một đệ nhất chiến tướng mưu lược, một học giả uyên
bác, một thi nhân lớn của Đại Việt, cùng với sắc đẹp lộng lẫy
Thị Lộ trở thành người đàn bà quyến rũ tài trí tuyệt vời có một
không hai.
Nhờ tình yêu sâu đậm và lòng tôn trọng hướng vào người đàn bà
tuyệt vời Thị Lộ, một ông vua ít học, hành động nông nổi theo
bản năng như Lê Thái Tông, từ khi yêu nàng, từng ngày một nhà
vua trở nên chính chắn hơn, trầm tĩnh, sáng suốt, cứng cáp, nói
năng thận trọng dứt khoát, quán xuyến được công việc quốc gia,
nhìn xa trông rộng. Bên ngoài lo võ bị, bên trong khoan nới sức
dân, mở mang văn học. Thái Tông trở thành một vị minh quân tạo
ấm no cho dân cho nước trực tiếp nhờ công sức của Thị Lộ qua sự
tiếp tay của Nguyễn Trãi. Nông phu cùng trẻ mục đồng đã hát đồng
dao vang vang khắp xóm làng điểm tô những đồng lúa chín phì
nhiêu ”Đời vua Thái tổ Thái tông, lúa má đầy đồng trâu chẳng
buồn ăn”.
Tuy là người tài trí Nguyễn Trãi không trực tiếp
cải đổi được nhiều việc trong triều vì bọn họan quan nịnh thần
đang múa rối bợ đở. Ông đành ôm hòai vọng vì không thực hiện
được những cải cách tốt đẹp cho đất nước trong thời bình. Trong
những năm đầu triều Thái Tông Nguyễn Trãi ê chề vì hoạn quan
Lương Đăng đảm trách Lễ nhạc trong cung đình. Lương Đăng là tên
họan quan ít học, nên sự kiện nầy đối với Nguyễn Trãi là mối
nhục của Đại Việt mà trước hết là mối nhục của ông. Từ khi vào
cung Thị Lộ đã làm được biết bao điều ích nước lợi dân. Nàng đã
làm cho vua Thái Tông hạ bệ Lê Lễ, là tiếng chuông cảnh tỉnh đối
với đám quan lại vô dụng bám vào triều đình, như một thứ phỗng
sành. Nàng đã tập hợp được những danh ca danh cầm lưu lạc trong
thiên hạ để bảo tồn âm nhạc cung đình xây dựng lại nhã nhạc,
chỉnh đốn lễ nhạc bát nháo của Lương Đăng. Làm điều này chính là
nàng đã rửa nhục cho Nguyễn Trãi, cho lương tri cho trí tuệ Đại
Việt. Nàng còn cứu được mẹ con nàng phi Tiệp dư Ngọc Dao, là cứu
dòng giống nhà Lê. Chính con của nàng phi Ngọc Dao nầy về sau là
vua Lê Thánh Tông là người đã cùng nữ sĩ Lan Chi, con nuôi của
Thị Lộ và Nguyễn Trãi, 20 năm sau cái chết oan ức của hai người,
đã giải oan cho vụ án Nguyễn Trãi Nguyễn Thị Lộ. Việc nàng cải
hóa vua Thái Tông từ chàng trai trẻ hoang dã ít học trở thành vị
hoàng đế có tâm, có trí đi trên con đường vương đạo. Đây là một
việc làm đem phúc lớn cho dân cho nước. Một cái việc không ai
dám nghĩ đến vậy mà Thị Lộ đã làm được.
Thị Lộ với chức danh Lễ nghi Học sĩ được sự
trọng dụng của nhà vua vì nàng đã đem hết tâm lực chỉnh đốn hậu
cung. Nhớ lời Nguyễn Trãi về việc ông cần chế ra thứ nhạc mới,
tương xứng với văn hiến Đại Việt, để dần dần thay cho âm nhạc hổ
lốn của tên họan quan nịnh bợ dốt nát và liều mạng như Lương
Đăng, Thị Lộ đã khéo léo thực hiện được công việc đó. Nguyễn
Trãi đã đưa cho Thị Lộ những cuốn sách về nhạc từ nhà Chu đến
nhà Đường để nàng tham khảo. Ông đã ân cần dẫn giải: ”…chỉ tham
khảo thôi bởi nhạc là hồn người. Lương Đăng chết ở chỗ, lúc thì
bắt chước nhạc lễ của người Tàu, chỗ lại dùng nguyên xi nhạc
thôn dã… Cả hai cách đều không ổn. Bắt chước ngoại bang thì bị
ngoại lai, còn rập khuôn nhạc dân dã lại quá thấp, không xứng
nhạc cung đình. Phải là sự hòa hợp, hòa hợp với lỗ tai với cái
hồn người Việt, và vì là nhạc lễ, cũng không được quá nôm na mà
phải nâng cao lên, uy nghiêm, trang trọng. Đây, ta nhớ tên vài
nhạc sư, danh ca danh cầm, nàng cố tìm họ…” Thị Lộ đã gia công
tìm kiếm theo lời chỉ bảo của chồng. Trong các nhạc sư có người
thấu đáo nhạc luật thời Chu thời Hán, thời Đường. Có vị thông
hiểu nhạc luật thời Lý Trần… Thị Lộ đã cùng họ lập nên lễ nhạc
cung đình không theo nhà nào mà góp cái hay của mọi nhà thành
nhạc của Đại Việt thời Lê.
Một đội nhã nhạc của cung đình, một ban ca vũ với âm nhạc xứng
cùng tầm vóc Đại Việt đã làm vui lòng hoàng thượng và bá quan
trong những dịp lễ hội. Họ đã khôi phục điệu múa Chư hầu đến
chầu. Một điệu vũ nhạc của riêng triều Lê dựa trên tinh thần
bài “Đại cáo bình Ngô” của Hành khiển Lê Trãi, lấy tên là
Bình Ngô phá trận. Điệu vũ Hội thề Lũng Nhai thể hiện nỗi
phẫn uất mãnh liệt và không khí bi được đẩy tới tận cùng ở cảnh
Lê Lai cứu chúa.. Cảnh Ải Chi Lăng với chiến công lừng
lẫy quân reo ngựa hý sĩ khí bừng bừng, đầu giặc bêu trên mũi
dáo! Hội thề Đông Quan, diễn đạt được sự chiến thắng của
hòa bình cùng lòng nhân ái. Với sự hướng dẫn của Thị Lộ các nhạc
sư đã nhìn thấy rõ hơn và tạo được chiều sâu của các bản vũ nhạc
mà đưa đến thành công. Để phần nhạc lễ và các điệu múa được hòan
tất không bị phá bởi đám nịnh thần nhất là họan quan Lương Đăng,
Thị Lộ khôn khéo đề nghị nhà vua đứng ra chủ trì việc tập vũ
nhạc, nàng biến nó thành bản ứng chế của thiên tử và lại làm cho
Thái Tông rất vui lòng.
Theo hướng dẫn của Quan Hanh khiển Nguyễn Trãi,
Thị Lộ đã nhắc nhở vua Thái Tông tu chỉnh và thực hiện việc thi
chọn nhân tài nước ta tiếp tục công việc đã làm từ thời Lý, biến
thành lệ ba năm một khoa đã có từ trước vào quy củ. Từ khoa Nhâm
Tuất nhà vua cho viết Văn bia tiến sĩ, đúc bia khắc tên tuổi,
quê quán từng vị tiến sĩ đỗ mỗi khoa vào cùng một bia, đem trưng
ở Văn Miếu. Nhờ ý kiến của Thị Lộ và Nguyễn Trãi mà bảng vàng
bia đá muôn đời vinh danh các tiến sĩ mà cũng là bảng vàng bia
đá ghi công Thái Tông khởi xướng việc lớn của Đại Việt. Trong
vòng một trăm bảy mươi lăm năm Nhà Trần đã xây dựng Đại Việt
thành quốc gia văn hiến. Lê Tiên hoàng lấy nước từ trên yên
ngựa, võ công thì lớn nhưng văn trị chưa nhiều. Thị Lộ đã khuyến
khích và hướng dẫn vua Thái Tông thấy được điều mấu chốt cho sự
thịnh trị là đào tạo nhân tài, do đó nhà vua đã ổn định khoa
thi, các quan lớn trong triều đã giúp nhà vua chung tay xây dựng
cơ đồ Đại Việt thêm rực rỡ.
Thị Lộ đã làm hòan thành hòai bão củng cố xây dựng đất nước của
Nguyễn Trãi. Chính vì nàng thông minh nhân hậu tài trí nên càng
được nhà vua sủng ái mà làm nên nhiều việc tốt đẹp. Nhưng đó
cũng chính là điều đã làm Nguyễn Trãi không khỏi lo lắng. Ông
đã nói với nàng: ”Trong mọi thứ loạn thì loạn từ cung cấm là
đáng sợ nhất!” Cái lo của ông không phải là không đúng. Bởi
chính vì nàng quá đẹp quá giỏi quá được vua sủng ái, và cũng
chính vì nàng nhân hậu quá mà những bà phi họan quan bị mất dần
quyền hành là những kẻ gian ác ganh ghét sắc đẹp và tài đức của
nàng. Lòng họ đã manh nha một sự trả thù hiểm độc mà ta thấy
được trong hồi kết của truyện kể nầy khi gia đình của đại thần
Nguyễn Trãi bị vu oan và bị tru di tam tộc, khi Thị Lộ bị đem ra
chặt đầu cùng chồng là Nguyễn Trãi giữa chợ.
Thị Lộ là người đàn bà nhân hậu thông minh nhưng cũng rất sâu
sắc, nên nàng đã biết cách củng cố tình yêu của mình với vị quân
vương trẻ bằng cách ứng dụng Tố Nữ Kinh tìm thấy trong Tàng thư
các. Với ”công cụ” nầy nàng đã làm cho ái ân của nàng với vị
quân vương trẻ ngày càng nóng bỏng. Nghệ thuật của Tố Nữ Kinh
pha lẫn với sự chín mùi của người đàn bà đẹp quyến rũ ở Thị Lộ
đã tạo sự đam mê vô bờ ở vị vua trẻ tuổi. Người đã say tình đắm
đuối và đó cũng là nguyên nhân tạo cái chết của vua sau nầy. Vụ
đột tử của vì quân vương trẻ tuổi là một vụ phạm phòng. Cái đêm
hoan lạc vua đã cùng Thị Lộ bay cao đến điểm tột cùng hoan lạc
của tình yêu và xác thịt nóng cháy cũng là cái đêm đã chấm dứt
đời ông vua trẻ và một thời vàng son của nàng Thị Lộ, để rồi sau
đó Thị Lộ phải bước vào cuộc sống tối tăm lạnh lẽo tù đày với
oan ức cùng đại hình tra tấn đổ xuống tấm thân vàng ngọc của
người thiếu phụ yếu đuối nầy, cho đến khi nàng bị đưa ra hành
quyết giữa chợ.
Thái Tông chết Bang Cơ lên ngôi và Thị Anh là hoàng thái hậu
chấp chính. Thị Lộ và Nguyễn Trãi là mục tiêu trả thù số một của
bà thái hậu độc ác là cái đích phải triệt hạ để Thị Anh dọn con
đường sắp tới vì không còn Nguyễn Trãi tài đức lừng lững, người
đàn bà xảo quyệt lại đầy tham vọng này sẽ tùy thích làm những
chuyện không lường được. Lê Khả, Lê Thụ, Tham tri chính sự
Nguyễn Xí theo phán quyết của hòang thái hậu Thị Anh đã dùng đại
hình tra tấn Thị Lộ rồi dàn dựng gán ghép Thị Lộ và Nguyễn Trãi
vào tội đại nghịch thí vua và với bản án tru di tam tộc đã chém
đầu 36 người nam của dòng họ Nguyễn Trãi từ những thanh niên trẻ
tuổi đến những đứa bé chập chững biết đi hoặc còn ẳm ngữa đều bị
đem ra chém đầu giữa chợ.
Câu nói của Nguyễn Trãi với Nguyễn Xí năm xưa “Một
triều đại mở ra bằng tắm máu công thần sẽ không khỏi báo ứng”
đã ứng nghiệm. Mười tám năm sau cái án tru di của
Nguyễn Trãi, ngày mùng ba tháng Mười năm Diên Ninh thứ sáu, Lạng
Sơn vương Nghi Dân cùng tay chân đang đêm trèo vào cung, giết
vua Nhân tông và thái hậu Nguyễn Thị Anh. Cung đình nhà Lê thêm
một lần tắm máu mà lần này là máu hoàng tộc, cốt nhục tương tàn.
Chẳng bao lâu sau, Nghi Dân bị phế truất rồi bị giết và một
triều đại mới khai sinh: triều đại Lê Thánh tông. (trích Nguyễn
thị Lộ của HVT)
Thương cho hiền nhân Nguyễn Trãi, tiếc cho con người tài hoa
Nguyễn Trãi! Nguyễn Trãi là người nhân đức bằng chứng cho thấy
nhờ kế công tâm của ông mà Thái Tổ đã tha chết cho hai chục vạn
quân Minh, thu phục nhân tâm mở tình hòa hiếu giữa nước Nam
chúng ta với nhà Minh hùng mạnh ở phương Bắc. Ngày nhà Hồ bị
diệt vong, cùng Phi Hùng đưa cha lên quan ải, Nguyễn Phi Khanh
đã dặn con là người có học, có tài, nên tìm cách rửa nhục cho
nước, trả thù cho cha. Nguyễn Trãi đã rửa nhục cho nước, trả
thù cho cha. Nhân đức tài hoa như thế mà ông không thoát được
cái nạn tru di tam tộc và cái oan trong vụ án Trại Vải để chứng
tỏ lòng trung nơi ông vẫn vằng vặc, xứng với lòng tin cậy của
cha ông.
Mãi cho đến 20 năm sau vụ án Trại Vải dẫn tới
nạn bị tru di ba họ của quan Hành khiển Nguyễn Trãi mới được
giải oan, khi vua Lê Thánh Tông, con bà phi Ngọc Dao, người đã
được Nguyễn Trãi và Thị Lộ cứu bằng cách đưa vào chùa Huy Văn ẩn
nấu cho tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Do từ Mẹ mình là bà Ngọc
Dao, nhà vua biết được nỗi oan của vụ án nên đã giao vụ án cho
quan Lại bộ thượng thư Nguyễn Như Đỗ cùng quan Dự chưởng Hình bộ
Lê Cảnh Huy với chiếu chỉ phải cấp tốc tra xét lại vụ án trên
với lời dặn dò phải làm việc cẩn trọng, chứng cứ xác thực, không
được vì định kiến mà làm sai lạc kết luận vụ án. Kết quả cụộc
điều tra đã rửa sạch oan khiên của Quan đại thần Nguyễn Trãi và
vợ là nữ học sĩ Thị Lộ.
”Theo lời của nữ sĩ Chi Lan, Lê Thánh tông cho
người tới Tàng thư các mang hòm di cảo của Ức Trai về Điện Kinh
Diên. Mấy ngày liền, từ khi thôi chầu trở về, nhà vua trẻ tập
trung vào việc đọc. Trong đêm khuya, phiêu du trên những trang
Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập, Dư địa chí… nhà vua như
mê mẩn trước những áng văn chương trác tuyệt chưa từng có trong
văn hiến Đại Việt. Văn chương Lý Trần tài hoa nhưng không có tác
giả nào đồ sộ như Ức Trai. Ức Trai cũng vượt họ về tầm trí tuệ.
Nghệ thuật thơ quốc âm của ông cũng hơn hẳn người đương
thời…Phải, đó là văn chương của thời Lê ta, là đỉnh cao của văn
hiến Đại Việt! Lòng lâng lâng xúc cảm, Thánh tông quên đi tất
cả, trước chàng chỉ còn là những áng thơ văn… ” (trích Nguyễn
Thị Lộ của HVT)
Nguyễn Thị Lộ, người thôn nữ làng Hải Hồ huyện Ngư Thiên phủ
Tiên Hưng nhỏ bé bên sông Cái cuồn cuộn phù sa, là thiếu nữ bán
chiếu ở Tây Hồ, là người vợ yêu qúy của Hà thành Đệ nhất văn
nhân Nguyễn Trãi, là Lễ nghi Học sĩ, là người tình được vua Thái
Tông yêu say đắm. Nàng đã sống qua những giờ phút hạnh phúc bên
người chồng mà nàng một mực thương yêu qúy kính. Nàng cũng đã
sống qua một cuộc tình sôi nỗi nồng nàn trong vòng tay vị quân
vương trẻ tuổi. Nhưng cái kết thúc của đời nàng Thị Lộ thật quá
tàn nhẫn! Đọc Khối Tình Nguyễn Thị Lộ ta không khỏi bàng hòang
qua những đọan đường lịch sử nữ sĩ Thị Lộ đã đi qua, để ngậm
ngùi tiếc nuối và thầm ngưỡng mộ kính phục một mệnh phụ tài sắc
vẹn tòan.
Tiểu thuyết NGUYỄN THỊ LỘ của Hà Văn Thùy được viết trong bối
cảnh lịch sử. Với văn phong nhẹ nhàng sâu sắc người đọc bị cuốn
hút bởi bố cục chặt chẽ tình tiết mạch lạc. Thật lạ lùng khi
viết về tâm lý của người đàn bà, tác giả đã cho ta sống được
trong vai trò của người đàn bà thông minh nhân hậu Thị Lộ, hoặc
tàn độc gian ác như Thị Anh, yếu đuối như Ngọc Dao trong vụ án
cung đình. Cũng như khi ông cho thấy được cái dốt nát của những
tên họan quan. Hoặc nỗi đau của hiền giả Nguyễn Trãi trong thế
cuộc. Hoặc khi ông mô tả về vị tướng phương phi của đòan Khinh
kỵ Hòang gia Trần Nguyên Hãn, ta thấy rõ cái uy phong và chiến
công của người và đau đớn cho cái chết oan khiên khi người bị
hại vì lòng vị kỷ nhỏ nhoi đầy nghi kỵ của một ông vua. Những
cuộc trà đàm giữa vua Thái Tông và nhân sĩ , tăng sĩ về nguồn
gốc sự phổ biến Đạo Phật, về sự xiển dương Đạo của Thiền sư
Khương Tăng Hội… thật là thích thú!
Hà Văn Thùy góp nhặt thời gian chép nên trang sử và bằng ngòi
bút đượm chút hương tình lãng mạn tác giả đã đưa ta say mê tìm
về và thấy được những oan ức và tình tiết quanh vụ án Nguyễn
Trãi cùng chất vị trử tình trong cuộc đời giai nhân Nguyễn Thị
Lộ.
UYÊN HẠNH
29.11.2007

Tiểu Thuyết NGUYỄN THỊ
LỘ của Hà Văn Thùy
Sách dày 254 trang.
Hiện bán tại
Doanh nghiệp Sách Thành Nghĩa
http://www.sachthanhnghia.com
Điện thọai 84-8 839 2516
288B An Dương Vương – P.4 - Q.5 TP-HCM
Trở về Trang Chính