XUÂN TRONG TRÁI TIM CỦA

KHOA HỌC - THƠ - VĂN


 

UYÊN HẠNH

E-Mail: uyenhanh@khoahoc.net

31 tháng 01 năm 2008

Chữ xuân gợi đến cảm tưởng của một sự gần gủi và những mong đợi đón chờ, tuy rằng năm nào cũng có xuân, với những ngày cuối năm bận rộn và những ngày đầu năm rộn ràng mừng xuân đến. Không khí của những ngày đầu xuân luôn cho ta cảm giác nhẹ nhàng đầy nỗi hân hoan. “Chất Xuân” có một cái gì làm lòng ta ấm lại. Dù là người đơn độc đón xuân với cái quạnh hiu của mình, hay là người may mắn hạnh phúc đón xuân với gia đình, không ít thì nhiều chúng ta đều có cảm giác nao nao. Có phải cái tâm trạng khá phức tạp và nỗi cô đơn của con người đã tạo cho ta cái xao xuyến trong hơi hưởng linh thiêng của những ngày mừng Xuân đón Tết.

 

Sao buổi đầu xuân êm ái thế !                    

Cánh hồng kết những nụ cười tươi …                        

Ánh sáng ôm trùm những ngọn cao

Cây vàng rung nắng, lá xôn xao

Gió thơm phơ phất bay vô ý

Đem đụng cành mai sát nhánh đào[1]                                                                          

  

Hoa Đào

Giấc mộng chiều nao vắng bóng anh,
Mắt em như nắng giãi hoang thành.
Hồng lên má phấn, hoa bừng tỉnh,
Xuân với em vừa lả tóc xanh.
[2]  

                                                                                             

                                                                                 Xuân với em vừa lả tóc xanh

                                                                       

Tết Nguyên Đán được gọi là Xuân Tiết. Nguyên có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và Đán là buổi sáng sớm. Tại Việt Nam mùa xuân được tính bắt đầu từ tiết lập xuân, khoảng ngày 5 tháng 2 và kết thúc vào tiết lập hạ, khoảng ngày 5 tháng 5.

Xuân đến rồi kia xuân đến rồi

Hèn nào hoa nở rộ trong tôi

Đào? Mai?

Không, chỉ bừng hoa lựu

Gốc tự miền Nam, đất bỏng sôi  [3]

Trong Thiên Văn Học, mùa xuân bắt đầu từ tiết xuân phân, khoảng ngày 21 tháng 3 ở Bắc bán cầu và ngày 23 tháng 9 ở Nam bán cầu. Mùa xuân kết thúc vào tiết hạ chí, khoảng ngày 21 tháng 6 ở Bắc bán cầu và 21 tháng 12 ở Nam bán cầu. Trong Khoa Khí Tượng, mùa xuân bao gồm toàn bộ các tháng Ba, Tư và Năm ở Bắc bán cầu và tại Nam bán cầu là thời gian của các tháng Chín, Mười và Mười Một. Mùa xuân, trục quay của Trái Đất nghiêng tăng dần về phía Mặt Trời, và các giờ được chiếu sáng được tăng dần lên, bằng hoặc lớn hơn 12 giờ mỗi ngày và tăng nhanh ở các vĩ độ lớn. Bán cầu có mùa xuân bắt đầu được sưởi ấm ở một độ khá ấm áp làm cho cây cối đâm chồi nở hoa.

Trước năm 1967, Việt Nam lấy giờ Bắc Kinh làm chuẩn cho âm lịch. Ngày 8 tháng 8 năm 1967, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành đổi lịch dùng múi giờ GMT +7 làm chuẩn. Vì thế hai miền nam bắc Việt Nam đón Tết Mậu Thân hai ngày khác nhau (miền bắc ngày 29 tháng 1 trong khi miền nam thì ngày 30 tháng 1). Hiện nay, vì chênh lệch một giờ giữa Việt Nam (UTC +7) và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (UTC +8), đôi khi Tết của Việt Nam không trùng ngày với Tết của Trung Quốc. Từ năm 1975 đến năm 2100, có 4 lần không trùng; đặc biệt năm 1985, Tết Việt Nam lệch với Tết Trung Quốc khoảng một tháng, do năm 1984 âm lịch Việt Nam không có tháng nhuận trong khi lịch Trung Quốc nhuận tháng 10. (Theo MBKTT)

Cúng đưa Ông táo về Trời: Theo truyền thống của người mình, kể từ 23 tháng chạp trở đi bắt đầu việc chuẩn bị đón năm mới. Ngày 23 tháng chạp mọi nhà cúng "đưa ông Táo về trời". Đây là một nghi thức tiễn đưa thần bếp lên chầu Ngọc Hoàng. Ngoài hương, nến, hoa quả, vàng mã còn có hai mũ đàn ông, một mũ đàn bà và con cá chép. Cá chép sẽ đưa ông Táo vượt qua Vũ Môn để lên Thiên đình gặp Ngọc Hoàng trình mọi việc suốt một năm qua ở Hạ giới.

Áo quần mới: Thời gian một tuần trước Tết thiên hạ đua nhau nô nức mua sắm thức ăn, vật dụng, đặc biệt là quần áo mới. Chợ búa phố phường trong việc buôn bán của dịp Tết thường sẽ chấm dứt đúng buổi trưa ngày 29 hoặc 30 tháng chạp. Đây là lần đầu tiên trong suốt một năm chợ búa phố phường trở nên vắng vẻ và các sạp hàng sẽ trống không. Tại các bến xe tấp nập những người xa quê vội vả mua vé xe để trở về đoàn tụ cùng gia đình sau những tháng năm dài tha phương cầu thực. Không khí Tết nhộn nhịp hơn và người người nô nức rộn ràng chuẩn bị đón xuân.

Sơn quét nhà cửa: Tết là dịp hội hè vui chơi sau một năm dài làm việc vất vả, là dịp để những người tha phương tìm về sum họp với gia đình, cúng bái, thăm mộ hay nhà thờ tổ tiên, tưởng nhớ cội nguồn. Đối với người Việt chúng ta vào ngày Tết mọi thứ đều phải mới, vì vậy khoảng mười ngày trước Tết người ta thường sơn, quét vôi nhà cửa lại. Sắm sửa quần áo mới để mặc trong dịp Tết. Trong nhà thường tổ chức ba lễ lớn đó là Tất Niên, Giao Thừa và Tân Niên.

Cúng Tất Niên: cúng tạ ơn Thổ Thần tức Thần Đất đã phù hộ cho công ăn việc làm của một năm qua. Lễ này thường được cúng vào các ngày từ sau 23 đến 29 hoặc 30 Tết. Giao Thừa là thời điểm giao tiếp giữa năm cũ và năm mới. Cúng Giao Thừa là cúng tiễn đưa năm cũ và đón mừng một năm mới đến. Giao Thừa cũng còn gọi là trừ tịch. Ý nghĩa của lễ này là đem bỏ hết đi những điều xấu của năm cũ để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến. Lễ trừ tịch còn là lễ "khai trừ ma quỷ".

Tối ba mươi, khép cánh càn khôn, ních chặt lại, kẻo ma vương đưa qủy tới. Sáng mồng một, lỏng then tạo hóa, mở toang ra, cho thiếu nữ đón xuân vào (Hồ xuân Hương)

Tục đạp đất: Ba ngày Tết chúng ta có tục lệ xông đất. Miền Trung gọi là đạp đất. Người Việt quan niệm ngày mồng Một Tết, nếu mọi việc xảy ra suông sẻ, may mắn thì cả năm cũng sẽ được tốt lành thuận lợi. Người khách đến thăm nhà đầu tiên trong một năm cũng vì thế mà quan trọng. Thường chúng ta mong bà con, bạn bè, hay láng giềng có tính vui vẻ, nhanh nhẹn, đạo đức và thành công đến xông đất trong ngày đầu năm.

Chúc Tết: Sáng Mồng Một Tết con cháu tụ họp ở nhà tộc trưởng để lễ Tổ Tiên và chúc tết ông bà, các bậc huynh trưởng. Theo quan niệm, khi Tết đến, mỗi người tăng thêm một tuổị. Vì thế ngày Mồng Một Tết là ngày con cháu chúc thọ ông bà và các bậc cao niên. Ngày xưa, các cụ thường không nhớ rõ ngày tháng sinh nên chỉ biết Tết đến là thêm 1 tuổi.

Lì xì: Trong ba ngày Tết để lấy hên đầu năm người lớn thường cho trẻ em tiền bỏ trong một bao giấy đỏ, với những lời chúc mừng ăn no, chóng lớn, học giỏi. Tiền lì xì đem lại sự may mắn trong năm.                                                                      

Xuất hành và hái lộc: Xuất hành là đi ra khỏi nhà trong ngày đầu năm. Trước khi xuất hành, người ta phải chọn ngày, giờ và xem phương hướng hợp với tuổi của mình để mong gặp được tài thần, hỉ thần... Nếu xuất hành đến chùa, sau khi lễ bái, người Việt còn có tục hái lộc có nghĩa là bẻ lấy một "cành lộc" để mang về nhà lấy sự may mắn đầu năm.                                                                      

Với không khí rộn ràng của ngày Tết chúng ta thường trở nên vui vẻ ôn hòa, ”từ bi” và hào phóng hơn. Trong những ngày Tết thường phải kiêng cữ không nóng giận, cãi cọ. Tết là dịp để mọi người ngồi lại với nhau, hàn gắn những hiềm khích nếu có. Mọi người thăm nhau và chúc nhau những lời tốt đẹp. 

Hoa trái ba ngày Tết: Ba ngày Tết nhà nhà chưng đầy hoa, tùy theo ý thích của mỗi nhà, mỗi miền. Các lọai hoa được chưng bày ba ngày Tết thường là hoa Mai, hoa Đào, Thủy tiên, Vạn thọ, Thược dược, Hồng, Cúc, Cúc đại đóa... Hoa đào nở vào ngày Tết rất được ái mộ ở miền bắc Việt Nam. Miền Trung, đặc biệt xứ Huế, mọi nhà đều có một cành mai vàng nở rộ cắm vào một chiếc ché lớn đặt trong phòng khách, treo đầy thiệp chúc Tết của bà con bạn bè và những người mình giao dịch buôn bán làm ăn. Trong ngày Tết màu đỏ được xem là màu đem đến sự phát tài và may mắn. Trong những ngày đầu năm của cái Tết Việt Nam ngập tràn màu đỏ: dưa hấu đỏ, câu đối đỏ, bao lì xì mầu đỏ, hạt dưa đỏ, quyển lịch đỏ, và hoa trước sân nhà, hoa chưng trong phòng khách, trong chậu kiểng là những loại hoa sắc hồng đỏ.

Hoa mai, hoa đào: Sau Giao Thừa, qua đến sáng Mồng Một Tết, nếu hoa mai nở thêm nhiều và đầy đặn, đặc biệt mai có hoa 5 cánh, thì đó là một điềm may. Và may mắn hơn nữa khi có một hoặc vài bông hoa 6 cánh. Nếu cây hoặc cành đào có nhiều cánh hoa kép 3 lớp trên đài hoa và có hình dáng như bông hồng thì sẽ có nhiều phúc lộc nguyên năm.             

Cây kim quất: chưng trước sân nhà hay trong phòng khách nếu có nhiều chồi xanh mọc thì năm đó sẽ có nhiều lộc. Nếu có đủ Tứ quý: quả chín, quả xanh, hoa và nụ thì sẽ may mắn và thành đạt cả năm.

Câu đối: Để trang hoàng nhà cửa và để thưởng Xuân. Tục treo câu đối đỏ nhân ngày Tết vẫn còn được trọng. Những câu đối này được viết bằng chữ Nho, chữ Việt (viết theo Thư pháp), mầu đen hay mầu vàng, trên những tấm giấy đỏ.

Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa. Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà. (Nguyễn Công Trứ)

Khai bút: Ngày đầu xuân thường có tục lệ khai bút. Đặt bút viết trong ngày đầu xuân của một năm mới phải là những gì viết về nguồn sống đẹp, niềm hy vọng tươi vui và tình người ấm cúng.

 

Hôm nay là một trong những ngày cuối năm, tục khai bút phải được làm đúng vào ngày Mồng Một Tết. Vì chưa phải là ngày đầu xuân nên chưa khai bút. Nhưng trong không khí bàng bạc hương xuân hôm nay, chúng ta hãy nhìn trở lại một năm vừa qua của tờ báo khoahoc.net, để nhìn thấy được tình người dẫy đầy trong những bài vở giá trị văn học, bài vở chuyên ngành, cùng những tư vấn về ngành nghề và sức khỏe, của các cây bút đang cộng tác với tờ báo nầy.

 

Cụ thể như Tiến sĩ Mai Thanh truyết, một người đã cho khoahoc.net của chúng ta rất nhiều bài vở giá trị, lại là người cố vấn cho nhiều sinh viên trong nước về việc viết luận án ra trường. Bác sĩ Nguyễn Ý Đức, người cho chúng ta nhiều bài vở hay thực dụng, để chúng ta có một nhận định rõ rệt về vấn đề sức khỏe và bệnh tật. Ông đã hướng dẫn cho rất nhiều người với những thắc mắc về tình trạng bệnh và sức khỏe của họ. Chủ bút khoahoc.net Phương Tôn, hăng say trong việc trả lời thư từ độc giả, nhanh và đầy đủ hữu hiệu, lại là ”gạch nối tình cảm” giữa các thành viên trong Ban Biên Tập, tạo không khí thân mật ấm cúng của một đại gia đình văn bút đúng nghĩa của nó, gồm trên 70 cây bút với cùng một ”sự nghiệp” viết lách. Một tập thể của những đồng hương, có chung một đam mê, tuy ở xa nhau, mỗi người một chân trời góc bể vẫn gần gủi được vì cảm thấy có nhau trong một niềm hạnh phúc bình dị và giá trị: chia sẻ những kiến thức có được, gửi trao những phút giây thư giãn đến mọi người xa gần trên thế giới qua những trang báo của các bài viết hữu ích, bài văn dí dỏm vui vui, dòng thơ, câu chuyện tình đẹp v.v…

 

Trong số bài vở rất phong phú của những tháng cuối năm, tôi đặc biệt chú ý đến những bài viết của Bác sĩ Lê văn Lân [4]. Có thể vì tôi thích thơ văn nên dễ hợp với bài viết của ông. Điểm đặc biệt ở ông đó là, tuy ông là một nhà khoa học ông lại viết nhiều về thơ văn. Với lời văn vui vẻ, những câu thơ lãng mạn trử tình ”ướt át” của cái thời mới lớn, đã làm độc gỉa phải rộn ràng cảm khái và gửi thư thăm hỏi.                        

 Còn vụng dại, thưa vâng, tôi vụng dại

Tôi dại khờ mà vẫn cứ say sưa

Chuyện đời người làm gì có lượng cân đo

Thì tình ái biết đâu mà suy tính

Nên tôi muốn một lòng thành khẩn

Dâng cuộc đời chuyện tình ái đam mê[5]

 

Ông đã viết nhiều về xứ Huế, về thành phố của thời gian ông lớn lên tại đó qua những trích dẫn của rất nhiều câu thơ hay, như những vần thơ của Tế Hanh:

Ta gửi tình ta ở khoảng đường
Bước này tưởng nhớ, bước này thương
Ta đưa ngượng nghịu, hàng mi chớp
Ngực đánh dồn thêm, chân vấn vương
Đi mãi không hề biết mỏi xa
Đi suông không dám ngó vô nhà
Đường thường bỗng hoá trung tâm điểm
Lắm cớ xui mình phải bước qua

 

Và cảm xúc của cái thời còn là học trò xứ Huế, dễ bâng khuâng dễ ”nặng lòng” vì những dòng thơ đầy chất dang dở đau buồn của TTKH:

Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên,
Bỗng ai mang lại cánh hoa tim
Cho tôi ép nốt lòng dư lệ
Rỏ xuống thành thi khóc chút duyên
Đẹp gì một mảnh lòng tan vỡ
Đã bọc hoa tàn dấu xác xơ
- "Cố quên đi nhé, câm mà nín
Đừng thở than bằng những giọng thơ!"

 

Trong bài viết của mình ông đã đưa vào một số kiến thức về y khoa, và lại không quên đưa trái tim của một người chân thành yêu cuộc đời vào đó, dù ông đã một thời trải qua nhiều khó khăn của cuộc sống. Đó là điều tôi đã học hỏi được ở ông, và cũng là điều muốn chia sẻ cùng các bạn. Với bản tính lạc quan vui vẻ ông hấp thụ được nắng gió khí ấm đất trời của ba miền non nước Việt. Văn ông có cái trử tình của một người miền Bắc, cái lãng mạn của xứ Huế, và cái vui vẻ nhiệt tình của niềm Nam.

 

Theo lời kể của ông, ông đã theo bố mẹ vào xứ Huế từ miền Bắc xa xôi. Hồi đó ông chỉ là đứa bé mới ba tháng, còn được ẳm ngữa trong vòng tay mẹ, còn được ngủ vùi như con sâu cuộn tròn trong lòng mẹ bỏ lại sau lưng nơi chôn nhau cắt rốn, bỏ lại những gì ông chưa biết đến để có thể nói được chữ luyến nhớ ngậm ngùi.. Phương tiện di chuyển thời đó đã làm chuyến đi thật sự dài đăng đẳng, nên cũng đã lắm gian truân trong một chuyến đi dài như thế. Rồi ông lớn lên như những thanh niên thiếu nữ của xứ Huế, trong cái tuổi biết rung cảm nhớ thương để nhận định được rằng, Huế là cái xứ của những gì huy hòang thơ mộng nhưng không kém những khắc nghiệt khổ đau. Trên 20 tuổi ông đã làm một cuộc viễn hành xa xôi thứ hai trong đời, đi từ Huế vào Sài Gòn để học thuốc. Theo ông, Huế đã để lại và mãi cho đến bây giờ vẫn thế, một dấu ấn sâu sắc trong lòng ông.

Có thể đời đã đưa tôi vào những giảng đường

Dạy tôi đo hành tinh bằng đường đi ánh sáng

Ðo tình yêu bằng đơn vị tiền tài

Rồi tôi đo hoang vắng của hồn tôi

Bằng những đêm rất rộng[6]  

Sống và lớn lên tại Huế, trong một bối cảnh thơ văn trử tình lãng mạn, làm sao không có những xao xuyến nhẹ nhàng khi phải ”dứt áo” rời xa:

Từ giã hoàng hôn trong mắt em,
Tôi đi tìm những phố không đèn.
Gió mùa thu sớm bao dư vị,
Của chút hương thầm kia mới quen
. [7]

 

Thời gian ở Huế đúng thật đã để lại nhiều ấn tượng và kỷ niệm sâu đậm trong lòng ông, ghi dấu trên những bài viết, dòng thơ, bút khảo của ông về cái xứ của tuổi niên thiếu này. Ông đã nhớ về Huế đến độ gây cho chính tôi, một người sinh ra và lớn lên tại Huế một sự ngạc nhiên về trí nhớ và tình cảm ông dành cho Huế. Ông viết về Huế với từng ngỏ ngách, con đường, hàng cây, bến nước… những nơi ông đã ngày hai buổi đi học ngang qua mấy mươi năm về trước. Khải Định, Đồng Khánh, những câu lạc bộ, những cơ quan trụ sở phường xóm, trường dạy học, luyện thi vào mùa hè, những trung tâm trình diễn kịch nghệ mà tên tuổi của những người làm văn nghệ đã làm Huế đẹp hơn thơ mộng hơn.

Dĩ vãng dầm mưa lén bước về,
Áo trùng, mây tỏa, mặt sầu che
Run tay ấp nửa bàn chân lạnh,
Thương những con đường mưa cuốn đi
[8]
                                  

Đã từng lê gót giầy trên ba miền đất nước Việt Nam, ông từng là thường dân rồi làm lính. Từng là tù nhân trên Đất Mẹ. Ông không là tù nhân như một tội đồ đã gây nên tội ác. Chỉ là khi vật đổi sao dời, khi đất nước Việt Nam đổi thay một thể chế: Tự Do thay bằng Cộng Sản, bác sĩ Lê văn Lân đã phải ngồi tù, ăn cơm mốc trộn sắn khoai hư, nằm đất lạnh. Từ một người ”áo mão cân đai” thóang chốc trở thành một tù nhân khốn khổ, để ông không còn khả năng bảo bọc người vợ ông thương. Từ địa vị một phu nhân thoáng chốc bà trở thành người tay trắng, gánh vác việc thăm nuôi chồng trong lao ngục và nuôi nấng giáo dục đàn con thơ dại.

 

Đời sống cơ cực không làm gãy đổ một tâm tính hiền hòa bình dị và niềm hăng hái với sự sống và cuộc đời. Sau cuộc định cư ở Mỹ, ông vẫn tiếp tục phấn đấu để nuôi vợ đầy đủ nuôi con nên người ở xứ lạ quê xa. Thời gian rảnh rỗi ông viết văn làm thơ, biên khảo và viết rất nhiều về những gì trong đời sống của con người. Tình người, tuổi trẻ, hoa cỏ, cây cối và nét đẹp của thiên nhiên đều được trình bày rất khoa học và hòan mỹ, lẫn với sự dí dỏm vui tính tràn đầy qua nét bút của ông. Đọc văn ông ta thấy được tình ông với cuộc đời, được ông đem chia sẻ với độc giả khắp nơi.

 

Ông có một phong cách riêng biệt, đáng kính, cùng nguồn nắng ấm gần như bất diệt trong ông. Cũng vì thế ông đi vào lòng chúng ta không mấy khó. Tôi viết về ông bằng cảm tình và sự kính mến qua mắt nhìn của một độc giả cũng như của một bút hữu cùng viết bài cho khoahoc.net với ông. Phần lớn bài vở của ông có thể đọc ở phần lưu trữ của khoahoc.net[9]

 

Thời gian gần đây qua bài viết của mình, ông đã đưa độc giả trở về lại những xuyến xao nồng nàn của cái thời ”ngày đó khi ta yêu nhau”. Qua những đọan đường thơ mộng của Huế, ông đã cho ta sống lại phút giây xao xuyến bồi hồi, để cảm nhận được rằng mình đã có lần yêu. Cho ta trở về lại cái ”không gian một thời” và tạm gửi lòng mình chốc lát trong những kỷ niệm đẹp nồng nàn. Thế giới tư tưởng luôn luôn là độc quyền của riêng ta, để ta nương vào đó tìm sự bình yên trong thóang chốc mà quên đi cảm giác lạc lòai làm ta ray rức.

Có phải mùa xuân sắp sửa về

Hay là gió lạnh lúc đêm khuya

Hay là em chọn sai màu áo

Để nắng thu vàng giữa lối đi?

 

Có phải rằng tôi chưa được quên

Làm sao buổi sáng đợi chờ em

Hay từng hơi thở là âm nhạc

Đàn xuống cung trầm, mắt nhớ thương. [10]

 

Hiện giờ ông đã 76 tuổi. Văn thơ ông vẫn trong lành và ấm nắng mai, đã tạo cho ta nhiều phút giây gây thương gợi nhớ. Cá tính dí dỏm của ông ẩn đầy trong bài viết, tình của ông với cuộc sống đã gây xúc động cho người đọc. Dù bận rộn hay mệt mỏi vì tình trạng sức khỏe hiện nay, ông vẫn gửi theo thư trả lời độc giả một nụ cười. Thư trả lời bao giờ cũng nhanh cũng dài và trả lời tất cả những câu hỏi được độc giả đặt ra. Chắc rằng người nhận thư trả lời của ông sẽ vui nhiều khi đọc thư ông. Ông được trời ban cho một nụ cười, và ông đã không ngần ngại chia sẻ cho chúng ta qua lá thư mình.                                 

     

Một chút hương xuân cống hiến cùng bạn đọc. Mùi hương của Xuân bao giờ cũng có cái bàng bạc nhẹ nhàng của một sự gần gủi. Thời gian vui xuân, đón xuân, hưởng xuân là thời gian cho ta có cơ hội dừng lại, tạm thời không làm con thoi chạy mãi chạy hòai, tất bật chạy theo cuộc sống. Một cuộc sống của môi trường, trong đó áp lực việc làm cùng những sự kiện khác làm ta vô tình quên đi chính mình và quên người thương ta. Hạnh phúc là nhu cầu của đời sống, cần thiết để nuôi dưỡng hơi thở bình an, tạo căn bản phát triển trong chiều hướng hữu ích, để con người trở thành một hiện hữu đẹp của thế giới loài người, trong ý nghĩa linh thiêng của sự sống.

 

Định nghĩa về hai chữ Hạnh phúc, có thể đơn giản bằng cách dùng chữ Xuân. Xuân là thời gian gần lại với nhau, xuân là thời gian của những mới mẻ, bỏ đi những cái cũ không đẹp, trong hy vọng và ước muốn một nguồn sống tươi vui. Hy vọng và ước muốn chỉ có thể thành sự thật do từ quyết tâm của chúng ta. Không làm không có kết quả. Thực hiện ước muốn bằng một nỗ lực thì kết quả đem lại sẽ đẹp như một phép mầu.

 

Xuân là thời gian ngồi lại và nhìn lại. Ngồi lại để thâu nhận tình người. Nhìn lại để thấy rõ tình người mà qúy trọng mà gìn giữ. Xuân là hương thơm của tình yêu, có tính cách gần gủi, là những gì không nằm ngòai tầm với. Những gì nằm xa tầm với, dưới mắt nhìn của chúng ta tuy lung linh đầy sắc mầu, nhưng thực chất mỏng manh như bong bóng nước: đẹp mà hư huyễn! Sẽ là những gì xa xôi mơ hồ không nắm bắt được, mà ta chỉ có thể gửi tư tưởng của mình vào trong đó. Nếu chúng ta sống triền miên trong thế giới đầy ắp tư tưởng không thực như thế, chúng ta sẽ sống trong cái thế giới, ở đó một năm sẽ chỉ có 4 mùa đông dài buốt giá. Vì đuổi theo một hạnh phúc mong manh, nên ta cô độc. Hạnh phúc đó phù du, như ý muốn kết những chiếc bong bóng nước muôn mầu thành xâu chuổi trang sức lộng lẫy. Bong bóng nước dễ vỡ, nên bong bóng nước sẽ không là những gì của một bình an và hạnh phúc lâu dài. 

 

UYÊN HẠNH

31/1/2008

Tất Niên Đinh Hợi

Xuân Mậu Tý

 
 


[1] Thơ Xuân Diệu

[2] Thơ Đinh Hùng

[3] Thơ Thế Lữ

[5] Thơ Nguyên Sa

[6] Nguyên Sa

[7] Đinh Hùng

[8] Đinh Hùng

[10] Nguyên Sa

Trở về Trang Chính