|
Chỉ trong một đêm 02 rạng
sáng 03/12/1984, có đến 3,000 người chết; 5,000 người nữa ngã
xuống trong vòng 3 ngày sau đó; và suốt hơn 20 năm sau, không
dưới 15 ngàn người đã được ghi nhận là tử vong. Trong khi đó,
120 ngàn người khác, cho đến nay, vẫn còn bị các di chứng kinh
niên đang ngày đêm phải oằn oại chịu đựng bởi những căn bệnh
hiểm nghèo nhất, trong những điều kiện khốn cùng nhất.
Đó là những con số tử thần
của một thảm họa môi trường xảy ra tại một nhà máy thuốc trừ sâu
ở thành phố Bhopal, Ấn, hơn 20 năm trước đây. Nếu so sánh với
quả bom nguyên tử "Fat Man", tương đương với 21 ngàn tấn thuốc
nổ TNT, đã làm thương vong khoảng 80 ngàn người Nhật ở thành phố
Nagasaki vào năm 1945; thì có thể nói, Bhopal đã phải chịu sự
tàn phá kinh hoàng của một lượng TNT không dưới 4 ngàn tấn.
Như một tiếng chuông cảnh
tỉnh, quả bom nhiều-ngàn-tấn Bhopal đã làm cho thế giới bắt đầu
có ý thức hơn về sự nguy hiểm của hóa chất độc hại, về ảnh hưởng
của công nghệ đối với môi trường cũng như sức khỏe, đời sống và
sinh mạng của con người.
Tuy nhiên, hiện nay cái
ngòi nổ vẫn còn nguyên vẹn cho một thảm họa tương tự có thể xảy
ra, vào bất cứ lúc nào, ở nhiều nơi trên trái đất; đặc biệt là ở
các nuớc nghèo đang phải chấp nhận những dự án đầu tư "bẩn" từ
nước ngoài với hy vọng, hay là ảo vọng, bằng mọi cách, vực dậy
nền kinh tế, bất chấp các vấn đề nghiêm trọng về an toàn lao
động và an ninh môi trường.
Theo TS Wigman, Trưởng
khoa an toàn lao động, Đại học UCLA, Mỹ, cho biết, cách đây
không lâu, thì "tình hình thực tế hiện nay cho thấy, không có
nghi ngờ gì cả, 100% là một thảm họa tương tự như ở Bhopal sẽ
xảy ra; dù mực độ lớn nhỏ có thể sẽ khác nhau chút ít, nhưng
chắn chắn là nó sẽ xảy ra, không chỉ một lần mà sẽ là nhiều lần
như thế nữa..."
Cho đến ngày nay, nhiều
người nhìn lại thảm họa kỹ nghệ lớn nhất trong lịch sử nầy,
không khỏi bàng hoàng trong xúc động tột cùng; và có người xem
đó, không gì khác hơn, là một tội ác chống lại nhân loại.
Chuyện gì đã xảy ra ở
Bhopal mà hậu quả của nó lại tồi tệ đến như thế?
Nhà
máy thuốc trừ sâu
Bhopal là thủ phủ của bang
Madhya Pradesh nằm ở một vị trí địa lý như là trung tâm của nước
Ấn. Nhắc tới thành phố nầy, ít ai khỏi liên tưởng đến Taj Mahal
nổi tiếng nguy nga, thu hút rất nhiều du khách đến chiêm ngưỡng,
mà vua Shah Jahan, thuộc triều đại Mughal, đã xây dựng suốt hơn
20 năm để tỏ lòng yêu quí và nhớ thương người vợ thứ ba của
mình, bà Mumtaz Mahal, qua đời vào năm 1631, khi hạ sinh cho ông
người con thứ 14. Đó là câu chuyện tình lãng mạn, vợ-chồng,
vua-chúa và lăng tẩm, ở Bhopal, vào thời giữa thế kỷ thứ XVII.
Ngày nay, với khoảng 1,5
triệu dân, thành phố lâu đời nầy sản xuất vải sợi, hàng tiêu
dùng điện tử, tư trang vàng bạc đá quí, hóa chất cũng như cơ
khí, và xay xát lúa gạo. Lợi dụng đường xe lửa Bhopal-Ujain đi
qua thành phố; rất thuận tiện cho việc chuyên chở hàng hóa đi
khắp các vùng miền của nước Ấn; nhiều công ty đa quốc gia, có
tầm cỡ, đã tập trung đến đây đầu tư; nổi bật nhất là từ Mỹ (
Procter Gamble, Union Carbide), Thụy sĩ ( VA Tech Hydro) và Nhật
( Fujitsu).
Từ những năm 60 của thế kỷ
trước, chính phủ (CP) Ấn bắt đầu theo đuổi chương trình Cách
mạng xanh nhằm tăng năng suất để có thể tự túc về lương thực.
Thuốc trừ sâu, do đó, được coi là một món hàng không thể thiếu.
Ngặt nỗi, lúc bấy giờ, nước Ấn chưa nắm được công nghệ sản xuất
nên phải nhập cảng với giá rất cao, gây không ít khó khăn cho
túi tiền của nông dân cũng như tính khả thi của chương trình
phát triển nông nghiệp. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi CP Ấn
trải thảm đỏ, kêu gọi Union Carbide India Limited (UCIL) đầu tư
xây dựng một nhà máy sản xuất thuốc trừ sâu ở Bhopal để giải
quyết vấn đề nầy.
UCIL, được thành lập từ
năm 1934, có lúc, có tới 14 nhà máy hoạt động trong nhiều lĩnh
vực khác nhau, với 9000 nhân viên, ở một số thành phố trên nước
Ấn; là một công ty liên doanh, có vốn đầu tư từ nước ngoài, giữa
một số cổ đông thiểu số người Ấn và phần đa số còn lại thuộc về
Union Carbide Corporation (UCC).
Trong khi đó, UCC, một
công ty đa quốc gia, đa ngành, của Mỹ, từng đứng hàng thứ 7 trên
thế giới trong ngành hóa chất, có trụ sở chính ở Houston, Texas.
Khởi nghiệp từ những năm đầu của thế kỷ 20, nghiên cứu và sản
xuất hóa chất; đến năm 1919, lần đầu tiên trên thế giới, UCC đã
thành công trong việc đưa ra thị trường một hóa chất, có tên
Ethylene, mà cho tới ngày nay, vẫn còn được coi như là một trong
những món hàng cột trụ của ngành hóa dầu trên thế giới.
Từ hóa chất, UCC từng bước
nới rộng kinh doanh sang một số ngành nghề khác như khai thác
hầm mỏ, điện tử, hàng tiêu dùng, chế tạo kim loại,... với doanh
số, trong những năm 1980, có lúc lên đến 10 tỷ đôla Mỹ; và thu
dụng hơn 100 ngàn nhân viên ở nhiều quốc gia trên thế giới. Mặt
khác, từ lâu UCC cũng có dính dáng tới ngành quốc phòng cộm cán
của Mỹ, đã từng tham gia mật thiết vào việc chế tạo vũ khí hóa
học trong Đệ nhất thế chiến và vũ khí hạt nhân (chương trình
Manhattan) trong Thế chiến thứ hai.
Với sự ưu ái của chính phủ
Ấn độ, vào năm 1969, UCIL đã xây dựng, tại thành phố Bhopal,
trong một khu đất rộng đến 30 mẫu Anh mà chung quanh là những
khu nhà ở ổ chuột đông người, nhà máy chế thuốc trừ sâu
Carbaryl, có thương hiệu Sevin, làm từ hóa chất Methyl
IsoCyanate (MIC). Ban đầu, MIC, một nguyên liệu đầu vào cực độc
và rất khó bảo quản, được nhập cảng trực tiếp từ Mỹ; tuy nhiên,
kể từ cuối thập niên 70, UCIL bắt đầu tự chế lấy hóa chất nầy
tại nhà máy Bhopal của mình nhằm giảm chi phí sản xuất.
Được biết, mặc dù giới
khoa học, trước đó rất lâu, đã tìm ra được một phương pháp mới,
an toàn hơn, có thể sản xuất thuốc trừ sâu Sevin, không phải
dùng nguyên liệu MIC; mà nhiều công ty hóa chất khác đã áp dụng
một cách thành công; nhưng UCIL đã quyết định không dựa vào
công nghệ nầy vì nó tốn kém hơn nên không thỏa mãn được các tiêu
chí về lợi nhuận của nhà máy.
Bầy quỷ
dữ sổng chuồng
Khoảng 9:30 tối ngày
02/12/1984, các van an toàn, bên trong một đường ống đang được
súc rửa, cùng một lúc bị hỏng, đã làm cho gần 500 lít nước tuồng
vào một bồn chứa hơn 40 tấn MIC, mà không một ai hay biết. Khi
nước hòa vào MIC sẽ tạo ra một phản ứng làm tăng nhiệt, chất MIC
ở thể lỏng bắt đầu bốc hơi ở 39,1 độ C, và do đó, áp xuất trong
bồn chứa sẽ tăng theo. Tuy nhiên, vì thiếu nhân lực, không có
người đi tuần kiểm đủ độ thường xuyên, để theo dỏi kịp thời, các
chỉ số an toàn khác nhau ở nhiều bộ phận trong nhà máy; ban quản
lý đã không biết được rằng đang có sự thay đổi bất thường về
nhiệt độ và áp xuất tại bồn chứa MIC mang số E610 nầy.
Theo nguyên tắc an toàn,
trong trường hợp áp suất bồn chứa tăng cao quá mức cho phép, để
tránh nổ, van an toàn sẽ tự động mở, dẫn khí MIC qua một bộ lọc
dùng Sodium Hydroxide để được trung hòa. Một đường ống sẽ mang
lượng MIC, còn sót lại sau khi lọc, lên một tháp cao, khoảng 30
mét, để được đốt bỏ. Sau đó, phần MIC chưa cháy hết sẽ được một
hệ thống phun sương, phủ trùm tháp đốt một màng nước, làm giảm
nồng độ và tỷ trọng. Cuối cùng, số khí độc còn lại ít ỏi nầy sẽ
theo gió mà phân tán ra xa và lên cao, khỏi vùng sống của sinh
vật, cho nên nguy hiểm sẽ không còn đáng kể nữa.
Tuy nhiên, trong thực tế,
mọi chuyện đã không xảy ra một cách an toàn, theo sách vở, như
thế tại nhà máy Bhopal đêm 02 rạng sáng 03/12/1984; gợi nhớ đến
Murphy's law, mà phần lớn trong chúng ta đều đã có ít nhiều kinh
nghiệm, được hiểu như là "bất cứ điều không tốt nào, nếu nó có
khả năng xảy ra, trước sau gì nó cũng sẽ xảy ra, và nó sẽ xảy ra
trong một hoàn cảnh ngặt nghèo nhất."
Sau hơn một tiếng đồng hồ
âm ỉ, trong vòng xoáy hỗ tương, phản ứng giửa nước và MIC càng
lúc càng nhanh hơn do nhiệt sinh ra càng lúc càng cao hơn. Cuối
cùng, nhiệt trong bồn chứa E610 đột biến vọt lên tới 200 độ C,
áp suất tăng hơn 10 lần cho phép, và van an toàn của nó mở toang
lúc 11 giờ tối cùng ngày. Vì bồn chứa quá đầy cộng với nhiệt độ
quá cao, MIC ở dạng lỏng bị sôi mạnh, trào lên, làm ngập, và do
đó vô hiệu hóa bộ lọc. Trong khi đó, tháp đốt, đang trong tình
trạng bảo trì, chờ thay một đoạn ống dẫn bị rỉ sét, không sử
dụng được. Cùng lúc, hệ thống phun sương của nhà máy lại không
có đủ áp suất để có thể tạo ra một màng nước phủ trùm được tháp
đốt nơi mà MIC đang ồ ạt thoát ra ngoài. Và như thế, chất độc
nầy đã không được lọc, đã không được đốt, và đã không được làm
loãng bằng màng nước như dự kiến.
Được biết, MIC, lúc ở dạng
khí, nhẹ hơn nước nhưng lại nặng gấp hai lần không khí; khi
thoát ra ngoài, nếu còn ở nồng độ cao, có khuynh hướng rơi xuống
thấp, tập trung lơ lửng như sương mù, lẩn quẩn trong vùng sống
của sinh vật, vài ba thước trên mặt đất; và do đó, gây tác hại
rất lớn cho con người trong một thời gian rất dài.
Với hàng loạt hệ thống an
toàn không hoạt động được, bị bất ngờ trước một hình huống chưa
từng thấy, ban quản lý "ca đêm", thiếu khả năng và ít kinh
nghiệm, không nhận thức được đầy đủ thực tế của tình hình, và do
đó đã không có những quyết định thích hợp và kịp thời. Thay vì
cho hụ còi báo động ngay lập tức và tìm cách tốt nhất để hướng
dẫn dân cư (a) di tản nhanh chóng ra khỏi vùng ảnh hưởng của
chất độc, tức vùng dưới chiều gió, nhằm giảm số thương vong (b)
dùng khăn nhún nước che mũi và mắt để làm giảm nồng độ của MIC,
và do đó có thể tránh, hoặc giảm, bị tổn thương; họ lại im lặng,
loay hoay, suốt 3 tiếng đồng hồ, tìm cách ngăn chặn sự phát tán
trong vô vọng.
Mãi đến 2 giờ khuya
03/12/1984, mới có còi báo động. Quá muộn! Gần 40 tấn MIC đã
thoát hết ra môi trường, lan tỏa ra xa đến 8 cây số theo chiều
dưới gió và bao trùm cả một khu vực rộng lớn, hơn 40 cây số
vuông, trong thành phố.
Vậy là bầy quỷ dữ đã sổng
chuồng, vuột khỏi tầm kìm tỏa của tên phù thủy nghiệp dư thiếu
tay ấn, bắt đầu lùng sụt khắp hang cùng ngõ hẻm, trong bóng đen,
gieo rắc kinh hoàng, thương tật và chết chóc cho hơn một trăm
ngàn người dân Ấn ở Bhopal.
Và cũng kể từ giây phút
đó, Bhopal không còn chỉ là một cái tên của một thành phố yên
bình cố hữu với Taj Mahal nguy nga và tráng lệ nữa mà là một
thảm họa kỹ nghệ và môi trường, đầy bức xúc và đau thương, lớn
nhất trong lịch sử của loài người.
Người chết như rạ
Nhiều nạn nhân đã bước
sang bên kia thế giới, mang theo nỗi kinh hoàng trong những giờ
phút lâm chung của cuộc sống mà, với họ, bao giờ cũng rẫy đầy
đói nghèo, mong manh và trắc trở. Trải nghiệm hãi hùng của họ đã
bị chôn chặt, trở thành những bí mật vĩnh hằng, không ai có thể
khám phá được. Trong khi đó, những người may mắn còn sống sót,
chưa kịp hoàn hồn, chỉ có thể hé lộ, để lưu lại đời sau, một góc
rất nhỏ của bức màng đêm tăm tối, một địa ngục trần gian, đã bao
trùm thành phố Bhopal, khuya 03/12/1984.
"Khoảng nửa đêm, tôi tỉnh
giấc vì nghe đứa con nằm kế bên bỗng nhiên khóc ré lên. Nó ho
khan, thở hổn hển như bị thiếu hơi. Đèn đóm lờ mờ, tôi vẫn thấy
những màng khói màu trắng xám bay tùm lum khắp cả nhà. Rồi tất
cả mọi người trong xóm la toáng lên: "chạy, chạy". Thấy rát cổ,
tôi cũng ho sặc sụa lên, mỗi hơi thở nó nóng như là hít phải
lửa. Cay xé mắt như có ai xát ớt...tôi hoảng hồn bồng con chạy
ra đường, theo dòng người đang náo loạn,..."
"Tôi có cảm giác như là bị
tẩm ớt cay, nước mắt nước mũi chảy ràn rụa, sùi cả bọt mép.
Nhiều người vừa chạy vừa ho hùng hục, mặt mày nhăn nhó trông như
đau đớn lắm. Họ chạy nhưng không biết chạy đi đâu, chắc là họ
không thấy đường, người nầy chạy đầu nầy người kia chạy đầu
khác, không ra làm sao, cứ lẩn quẩn vì ở đâu cũng toàn là khói
cay. Cay không chịu nổi, mọi người ùn ùn chạy, chen lấn, giẫm
đạp lên nhau. Có người chỉ mặt đồ lót, có người chẳng có quần áo
gì, trần truồng, cứ đâm đầu mà chạy. Điều sợ hãi nhất là không
ai biết điều gì đang xảy ra, không có ai thông báo hoặc hướng
dẫn gì cả..."
"Người ta la hét, ói mửa,
động kinh, co giật,...rồi ngả lăn ra chết như rạ chung quanh
tôi. Con lạc cha, vợ lạc chồng, không ai biết ai ở đâu, không ai
chờ ai, không ai tìm kiếm ai cả. Mọi người cứ đâm đầu mà
chạy..., súc vật cũng thế,..."
"Khói độc làm bỏng mắt,
người ta như mù; làm tổn thương phổi và não bộ, họ không còn
kiểm soát được cơ thể của chính họ nữa. Nhiều người chạy mà nước
tiểu và phân rơi vãi xuống chân; phụ nữ bị sẩy thai ngay trong
khi đang chạy, máu me đầm đìa, thật là kinh khủng..."
Còn
sống là vô phúc!
Những ngày sau đó, Bhopal
đã trở thành một bãi tha ma khổng lồ; ở đâu cũng có xác người và
cả xác thú vật; sình chương, la liệt. Trong nhà, nhiều người
chết trên giường, ngay trong giấc ngủ, mà không hề hay biết
chuyện gì đã xảy ra. Người ta phải gấp rút chôn 5 - 3 xác
người, không quan tài, vào chung một hố; phải hỏa thiêu hết đống
nầy đến đống khác, hàng chục, hàng trăm xác người một, ngay trên
đường phố để phòng tránh dịch bệnh lây lan.
"Khi trời hừng sáng, đã có
hơn 3 ngàn người chết ngay trong đêm qua, nằm ngổn ngang, trong
mọi tư thế trên đường phố; quân đội phải gom lại, mang đi chất
thành đống trong các khu rừng gần đó. Trên con sông Betwa thì có
quá nhiều thây người, nghẹt cả chân cầu. Xác người, xác thú vật,
trâu bò, chó mèo, đàn bà, đàn ông, trẻ con, ... ở đâu cũng có.
Người ta nhặt xác đem bỏ lên xe, nhiều người khác xúm lại tìm
kiếm, níu kéo, kêu la thảm thiết..."
"Nhiều gia đình chết cả
nhà nên không còn ai để nhận diện họ. Quá kinh hoàng. Những
người chết đêm qua là may, chính những người còn sống mới là vô
phúc vì phải chứng kiến tận mắt một cảnh tượng quá hãi hùng như
thế nầy..."
Chiến
dịch nhiễu tin
Nhiều chục ngàn nạn nhân,
trong hoảng loạn, đổ xô tới các bênh viện đang bị quá tải; họ
phải nằm co quắp, rên la, trong đau đớn và tuyệt vọng, không
giường chiếu, dưới đất, bên hành lang, trong sân, tràn ra cả
ngoài hàng rào, để chờ được cứu chữa.
Mắt của họ bị rát, phỏng,
mờ, mù. Phổi của họ bị tổn thương, đau nhức, tràn dịch. Họ ho
sặc sụa ra máu. Họ động kinh, co giật, ói mửa, tiểu tiện không
kìm giữ được. Nhiều người bất tỉnh, như những cái xác không hồn,
đang thoi thóp. Từng giây từng phút, MIC làm một việc mà nó làm
tốt nhất, tàn phá tế bào của con người một cách rất có hiệu quả.
Và hàng loạt nạn nhân, không chịu đựng được nữa, lần lượt ... ra
đi trong đau đớn, không kịp một liều thuốc.
Trong khi đó, các bác sĩ
người Ấn thì không có đủ thông tin về chất gì và cách nào, đã và
đang phá hủy thân thể và gây ra chết chóc cho các bệnh nhân của
họ, nên không có phương cách điều trị hữu hiệu nào.
Về phía UCC, thay vì thành
khẩn hợp tác để cứu chữa, giúp làm giảm thương vong; họ lại bắt
đầu một chiến dịch nhiễu tin nhằm thoái thác trách nhiệm, và bảo
vệ hình ảnh cũng như uy tín của mình. Công ty nầy chỉ lập lờ
thông báo cho các cơ quan y tế Ấn rằng "có thể dùng thuốc ho và
thuốc nhỏ mắt thông thường để điều trị cho các nạn nhân." và
nhiều lần khẳng định "không có chất độc nào liên quan, chỉ là
một chất hơi cay, chẳng có gì là nguy hiểm cả, có thể dùng nước
lã để rửa sẽ khỏi."
Ít lâu sau khi thảm họa
xảy ra, một nhóm 4 người, được gọi là "chuyên gia hàng đầu" của
Mỹ, đến Bhopal để xem xét tình hình. Mặc dù biết rất rõ và đã
thấy tận mắt bệnh tình của các nạn nhân, nhóm chuyên gia tay
trong của UCC nầy vẫn đánh trống lảng: " không có gì là nguy hại
cả, các nạn nhân rồi sẽ tự khỏi trong một thời gian ngắn". Tuy
nhiên, lần đầu tiên, họ nêu chính danh tên của chất hóa học đã
phát tán ra từ nhà máy, khi tuyên bố rằng: " chất MIC không phải
là loại khí độc, chỉ gây rát cổ, chảy nước mắt soàng như hơi cay
mà thôi."
Sau khi MIC được đề cập
tới; một chuyên gia về chất độc người Đức, TS Max Daunderer, ở
Munich, ngay lập tức đề nghị dùng chất Sodium thiosulphate tiêm
vào máu để giải độc cho bệnh nhân. Và chính một BS người Ấn,
Bipin Awasia, lúc bấy giờ đang làm việc cho UCC, cũng đã nhanh
chóng có ý kiến, như Max Daunderer, sử dụng Sodium thiosulphate
trong phát đồ điều trị. Tuy nhiên, ngay sau đó, dưới áp lực của
UCC, và trước đông đảo báo chí, BS người Ấn nầy phải rút lại lời
đề nghị của chính mình, viện dẫn đó là một sự nhầm lẫn; chỉ vì,
công ty không muốn, vô hình trung, thừa nhận rằng chất MIC lại
có thể ngấm vào máu của các nạn nhân, và do đó gây tổn thương
trầm trọng cho họ.
Lo ngại bị qui trách
nhiệm, UCC cứ khăng khăng là không có bất cứ chất hóa học nào,
đã phát tán ra từ nhà máy của họ, là độc hại, có thể gây nguy
hiểm đến sức khỏe cũng như tính mạng của nạn nhân. Và công ty
nầy cũng thẳng thừng từ chối, ngay từ đầu và cho đến tận ngày
nay, thông báo cho các chuyên gia Ấn tài liệu mà UCC sở hữu được
từ các nghiên cứu ở ĐH Carnegie Mellon, Mỹ, vào những năm 1963
và 1970, liên hệ đến (1) thành phần hóa học chính xác của MIC
(2) tác hại của MIC đối với con người (3) phát đồ điều trị sau
khi bị nhiễm MIC; viện lý do bí mật thương mại! Đã có lúc không
khí "bí mật" bao trùm đến mức làm cho một số người không ngần
ngại đưa ra một nghi vấn cho rằng thảm họa Bhopal, thực chất, là
một cuộc thử nghiệm vũ khí hóa học; đã được toan tính và dàn xếp
từ trước; nhằm lượng định sự tác hại thực nghiệm tại hiện trường
của MIC và một số hóa chất không được tiết lộ khác, trong đó, có
thể có Phosgene và Hydrogen cyanide; đối với một thành phố đông
người.
Theo BS Satpathy, làm việc
ở bệnh viện Hamida, Bhopal, thì "Đến bây giờ, chúng tôi vẫn chưa
biết phải điều trị như thế nào cho bệnh nhân hít phải khí MIC;"
mặc dù, qua nhiều cuộc giảo nghiệm cho thấy rằng hầu hết các tử
thi đều có chung các đặc điểm (a) máu ngả màu bầm tím, đặc sệt
(b) phổi có màu xám tro, đầy dịch và (c) cuống phổi thì khô như
bị sấy bằng hơi nóng.
Việc UCC không những bưng
bít mà còn cố tình gây nhiễu thông tin đã làm cho ngành y tế Ấn
thật sự lúng túng, không phát huy được năng lực để cứu chữa kịp
thời và hiệu quả cho làn sóng bệnh nhân tràn ngập các nơi thu
dung; làm thương tật của họ trở nên trầm trọng hơn; và hàng loạt
người đã phải mất mạng một cách oan uổng.
Nguyên
nhân gần
Trong một thời gian khá
dài sau 1984, hàng loạt vấn đề liên quan đến nhà máy thuốc trừ
sâu nầy ở Bhopal được các nhà nghiên cứu về môi trường và an
toàn lao động, ở nhiều nơi trên thế giới, đặt lên kính hiển vi,
thu thập dữ liệu, điều tra, mổ xẻ và phân tích rất tỉ mỉ; trong
đó, một phần không nhỏ, đề cập đến một số nguyên nhân chính trực
tiếp dẫn đến thảm họa.
1- Xây dựng nhà máy sản
xuất hóa chất độc hại ngay trong khu dân cư đông đúc là một rủi
ro không thể chấp nhận được.
2- Thanh tra không phát
hiện được những sai phạm của nhà máy; khi phát hiện được, đã
không có các biện pháp chế tài kịp thời và thích đáng; có thể là
do được bao che. Được biết, Ô. Arjun Singh, Tổng trấn bang
Madhya Pradesh lúc bấy giờ, lại có văn phòng làm việc riêng của
mình tại trụ sở chính của UCIL ở Bhopal.
3- UCIL không thông báo
cho chính quyền địa phương biết chính xác về các loại hóa chất
độc hại được chế tạo và tồn trữ trong nhà máy; ảnh hưởng của
chúng ra sao đối với sức khỏe của con người; và các phương pháp
cứu chữa hữu hiệu trong trường hợp bị phơi nhiễm.
4- Không có sự phối hợp
giữa nhà máy, dân cư chung quanh và chính quyền địa phương để đề
ra các kế hoạch nhằm báo động, di dời, cứu chữa và cứu trợ nạn
nhân kịp thời trong trường hợp khẩn cấp.
5- Nhân lực của nhà máy
thiếu cả về số lượng lẫn trình độ; họ không được huấn luyện đầy
đủ khi nhận việc, nhất là ở cấp quản lý. Tất cả các cẩm nang kỹ
thuật điều hành đều được in bằng tiếng Anh trong khi hầu hết
nhân viên trong nhà máy là người Ấn.
6- UCIL vi phạm nhiều
nguyên tắc cơ bản về an toàn trong lúc vận hành nhà máy:
a/ Bộ lọc dùng Sodium
hydroxide quá nhỏ, không tương xứng với lượng MIC quá lớn trong
bồn.
b/ Hệ thống phun sương
không đủ mạnh để có thể tạo ra một màng nước phủ trùm được tháp
đốt.
c/ Nhiệt kế và áp kế của
bồn E610, từng được biết là không chính xác, đã không được thay
mới.
d/ Thay vì 4,5 độ C theo
qui chuẩn, nhiệt của bồn nầy thuờng xuyên được để ở 20 độ C nhằm
tiết kiệm điện.
e/ Tuy giới hạn an toàn
không quá 50%, nhưng vào lúc thảm họa xảy ra, bồn E610 đã chứa
tới 80% dung tích của nó. Sử dụng một bồn chứa lớn đến 40 tấn,
trong khi theo tiêu chuẩn của Âu châu, không được có quá 1/2 tấn
MIC trong mỗi bồn nhằm giảm mực độ nghiêm trọng tới mức tối
thiểu trong trường hợp tai nạn xảy ra.
f/ Không thiết kế và xây
dựng, như tiêu chuẩn an toàn qui định (1) bồn liên thông
để-trống; khi bồn chính bị "sôi", MIC dạng lỏng có nơi thoát qua
an toàn, không tràn ra ngoài (2) tháp đốt thứ hai; khi một tháp
không sử dụng được, tháp khác thay thế ngay.
Nguyên
nhân xa
Ngoài ra, một số nguyên
nhân, sâu xa và có tính hệ thống, có thể được coi là tiền đề cho
một thảm họa không thể tránh khỏi; cũng đã được đem ra ánh sáng.
1- Chính quyền trải thảm
đỏ cho nhà đầu tư một cách mù quáng. Do thiếu thông tin và không
nắm vững về kỹ thuật, các viên chức Ấn, đã mắc mưu, khi nghe
theo lời hứa suông của nhà đầu tư về công nghệ "tiến tiến" và độ
"an toàn tuyệt đối" của nhà máy. CP Ấn chỉ nhắm vào tăng trưởng
kinh tế và số lượng đầu tư, chỉ chú ý đến giải quyết một số vấn
đề được cho là cấp bách trước mặt, mà quên hẳn hệ quả của tình
trạng mất an toàn lao động và an ninh môi trường trong tương
lai.
2- Ngay từ đầu, khi thiết
kế nhà máy, UCC đã chọn một công nghệ lỗi thời nhằm tiết kiệm
vốn đầu tư và giảm giá thành của sản phẩm. Khi xây dựng, đã
không lắp đặt đầy đủ các bộ phận cần thiết để bảo đảm an toàn
theo đúng tiêu chuẩn qui định. Ở Mỹ, một nhà máy được xây dựng
như thế sẽ không có phép hoạt động.
3- Dân cư xung quanh nhà
máy, phần lớn mù chữ và nghèo khó, không ý thức được quyền hạn
dân sự của mình được sống trong một môi truờng lành mạnh. Họ
không thấy được rằng sinh mạng của họ đang bị đe dọa nên không
chủ động có những hành động cần thiết để buộc nhà máy phải tuân
thủ các tiêu chuẩn an toàn.
4- Xã hội, nói chung, ngay
cả các nhà chính trị cũng vậy, chưa hiểu rõ về tầm quan trọng
của an ninh môi trường và an toàn lao động.
"Chưa
thấy quan tài chưa đổ lệ"
Từ năm 1975, Giám đốc quy
hoạch thành phố Bhopal đã thấy được mối nguy của một cơ sở sản
xuất hóa chất độc hại ngay bên cạnh những khu cư dân đông đúc,
nên đã ký lệnh buộc UCIL phải di dời nhà máy. Không những không
chấp hành mà công ty nầy còn làm áp lực với chính quyền địa
phương thuyên chuyển ông nầy đi nơi khác.
Trong khi đó, công đoàn,
đại diện cho nhân viên làm việc trong nhà máy, đã nhiều lần phân
phát tài liệu cho cư dân trong vùng bị ảnh hưởng, cảnh báo về
những nguy hiểm có thể xảy ra. Có nhân viên phải chịu bị đuổi
việc khi tuyệt thực nhằm phản đối phương cách vận hành nhà máy
không an toàn của ban quản lý. Năm 1982, đã có 5 nhân viên phải
nhập viện sau khi tiếp xúc với khí độc nhưng không có cuộc điều
tra nào để làm rõ vụ việc.
Nổi bậc nhất có lẽ là một
loạt bài viết nẩy lửa, vào năm 1982, của nhà báo Raj Keswani
dưới hàng tít "Hãy cứu thành phố của chúng ta"; qua đó, ông ta
đã cảnh báo như một nhà tiên tri rằng: "Bhopal đang đứng trên
miệng núi lửa", "Bhopal bên bờ vực của một thảm họa", và "Nếu
chúng ta không ý thức được vấn đề nầy thì chúng ta sẽ bị tiêu
diệt."
Ngay cả nghị viện của bang
Madhya Pradesh, năm 1983, cũng đã đưa ra một nghị quyết yêu cầu
di dời nhà máy nầy đến nơi ít dân cư hơn; nhưng UCIL, như thường
lệ, vẫn một mực từ chối; viện lý do quá tốn kém, không chịu nổi
chi phí.
Sau khi có nhiều phản ứng
gay gắt từ báo chí và các nhà lập pháp Ấn; UCC, từ Mỹ, đã cử một
nhóm chuyên viên sang Bhopal để kiểm tra tình hình thực tế. Họ
đã đưa ra một bản báo cáo chỉ rõ 61 điểm vi phạm về an toàn,
trong đó có 30 điểm bị coi là nghiêm trọng và 11 vấn đề đặc biệt
nguy hiểm. Nhóm nói trên cũng không ngần ngại kết luận rằng nhà
máy nầy "đang hoạt động trong những điều kiện không an toàn và
một tai nạn, qui mô lớn, có thể xảy ra bất cứ lúc nào."
Tuy vậy, bộ sậu của UCC
lại âm thầm xếp tài liệu nầy vào loại "mật", không được công bố;
và chẳng những không có biện pháp gì để chấn chỉnh mà còn cắt
giảm hơn 300 nhân viên để tiết kiệm 1,25 triệu đôla, với lý do
đang gặp lổ lả; làm tình trạng an toàn của nhà máy trở nên tồi
tệ hơn.
Như thế, rõ ràng là thảm
họa Bhopal, không phải là một tai nạn bất khả kháng, bỗng nhiên
mà xảy ra. Nó đã được báo trước, không nhầm lẫn, qua một thời
gian rất dài, từ nhiều phía ở nhiều mực độ với nhiều hình thức
khác nhau; nhưng không một ai có thẩm quyền chịu quan tâm để
giải quyết một cách thỏa đáng.
Trớ trêu hơn nữa, chính
nhà máy nầy đã được trao giấy chứng nhận an toàn về môi trường
chỉ vài ngày trước khi thảm họa xảy ra!
Châu
chấu thua xe
Warren Anderson, Chủ tịch
(CT) của UCC, sau khi hay tin, đã tức tốc bay sang Bhopal để
chữa cháy. Ông ta liền bị quản chế tại nhà khách của công ty,
trong khi cơ quan tư pháp Ấn tiến hành thủ tục truy tố về tội
ngộ sát và một số tội danh liên quan khác. Song, với áp lực ngấm
ngầm mà mạnh mẽ của CP Mỹ; sau khi đóng tiền thế chân vỏn vẹn
chỉ có 500 đôla; Anderson được tại ngoại, rồi quay về Mỹ ngay
lập tức. Đây cũng là lần cuối cùng ông ta đặt chân lên đất nước
Ấn.
Phải 3 năm sau, chiếu theo
đạo luật "Sự kiện rò rỉ ga ở Bhopal" (1985), CP Ấn, là đại diện
duy nhất cho tất cả các nạn nhân, mới làm xong các thủ tục, vào
năm 1987, yêu cầu UCC bồi thường thiệt hại trước một tòa án liên
bang của Mỹ, ở New York; tuy nhiên, tòa nầy không chịu thụ lý hồ
sơ, viện dẫn lý do sự vụ nầy xảy ra tại Ấn nên tòa án Ấn mới là
nơi tốt nhất để phân xử.
Về phần mình, Tòa tối cao
Ấn dù nhận đơn khởi kiện nhưng đã không đưa ra một phán xét nào;
chỉ khuyến cáo, vào năm 1988, rằng hai bên nên đàm phán để đi
đến một thỏa thuận chung.
Theo ước tính của nhiều
chuyên gia có kinh nghiệm, thảm họa Bhopal đã gây thiệt hại
không dưới 4 tỷ đôla Mỹ cho các nạn nhân, nhưng sau một năm
thương thảo đầy kịch tính, năm 1989, CP Ấn đành chấp nhận (1)
UCC trả 470 triệu tiền bồi thường (2) miễn trách nhiệm cả dân sự
lẫn hình sự cho UCC và mọi nhân viên liên hệ (3) CP Ấn chịu
trách nhiệm giải quyết mọi kiện cáo sau nầy phát sinh từ vụ
việc.
Như thế, UCC đã được CP Ấn
cho phủi tay sau khi đồng ý chi 470 triệu đôla. Với số tiền nầy,
thừa kế của mỗi nạn nhân tử vong có thể được trả khoảng 2000
đôla, còn những người bị thương tật khác sẽ nhận được một số
tiền ít hơn rất nhiều. Đó là chưa trừ các "lệ phí" mà các nạn
nhân phải trả, vì tình trạng nhũng nhiễu của các cơ quan hành
chính liên hệ, để nhận được tiền bồi thường.
Một so sánh đã làm nhiều
người hết sức ngạc nhiên. Trong sự cố tràn dầu từ con tàu Exxon
Valdez, ngày 23/03/1989, ở bờ biển tiểu bang Alaska, Mỹ; mỗi con
rái cá biển bị dính dầu được cứu hộ và chăm sóc tốn 40 ngàn
đôla. Hằng ngày, mỗi con rái cá "bị nạn" nầy, trong thời gian
"điều trị" tại các trạm cấp cứu, tiêu thụ một lượng tôm hùm mất
không dưới 500 đôla, được chở tới bằng máy bay.
Tức giận trước việc (a)
không có một ai có trách nhiệm bị đem ra tòa án để xét xử (b)
sinh mạng của người dân Ấn bị coi rẻ hơn con rái cá biển của Mỹ;
nhiều tổ chức cộng đồng Ấn, coi đây như là một sự sỉ nhục trắng
trợn đối với các nạn nhân Bhopal, đã kiến nghị Tòa tối cao vô
hiệu hóa thỏa thuận giữa CP Ấn và UCC. Năm 1991, tòa nầy phán
quyết chấp nhận phần bồi thường tài chính và miễn tố dân sự,
nhưng cùng lúc cho rằng UCC và CT Anderson có thể bị quy kết
trách nhiệm hình sự.
Cơ quan công tố một lần
nữa làm thủ tục truy tố, cả hai, với tội danh ngộ sát. Theo luật
Ấn; UCC, như là một công ty, có thể bị phạt tiền không có mức
giới hạn; còn CT Anderson có thể phải chịu hình phạt tối đa 10
năm tù giam; tuy nhiên, không ai chịu ra hầu tòa.
Đến năm 1992, tòa án Ấn
phải phát lệnh truy nã toàn cầu CT Anderson, nhưng với sự làm
ngơ của các cơ quan công quyền Mỹ, ngành tư pháp của Ấn phải bó
tay; mặc dù, ông nầy vẫn ngang nhiên sống vương giả, gần như
công khai, ở Bridgehampton, một trong những khu vực được coi là
có máu mặt nhất ở New York, Mỹ; như tổ chức Green Peace đã lần
ra manh mối vào năm 2002.
Mãi cho tới 2004, tức 20
năm sau ngày xảy ra thảm họa, dưới áp lực mạnh mẽ của nhiều nhân
sĩ và đoàn thể tiến bộ, CP Ấn mới chính thức yêu cầu CP Mỹ dẫn
độ CT Anderson theo một hiệp ước song phương đã có từ nhiều năm
trước; và CP Mỹ, vẫn như cũ, âm thầm làm ngơ, không trả lời. Lo
ngại rằng nhiều nhà đầu tư nước ngoài sẽ bỏ đi hoặc không đầu tư
thêm vào nền kinh tế nước Ấn nữa, nên CP nầy không có những bước
đi kế tiếp nào cứng rắn hơn.
Cuối cùng, nhằm cắt đứt
liên hệ tới thảm họa Bhopal một cách dứt khoát, UCC đã thương
lượng để trở thành công ty con của Dow Chemical Limited (DCL),
một tập đoàn hóa chất tầm cỡ khác của Mỹ, vào năm 2001. Và kể từ
đó, DCL từ chối mọi trách nhiệm đối với các nạn nhân, cho rằng
nó thuộc về hoạt động của UCC trước kia, không có dính dáng gì
với DCL hiện nay cả.
Giữa cỗ xe của tiền bạc và
quyền lực, với con châu chấu của những người thấp cổ và bé
miệng, quả là một cuộc sống chung không một chút sòng phẳng.
Thái độ
kẻ cả
Đặc biệt, dư luận và báo
chí Ấn đã có lúc hết sức phẫn nộ truớc thái độ ngang ngược và
cung cách áp lực trắng trợn của UCC nhằm (a) tránh bị xét xử bởi
tòa án Ấn (b) thoái thác trách nhiệm và (c) gây khó khăn trong
tiến trình đàm phán với CP Ấn về vấn đề bồi thường.
1/ Lợi dụng việc hầu hết
các nạn nhân là những người ít học, UCC dọa, nếu bị đưa ra tòa,
sẽ không chấp nhận bất cứ ai không biết chữ mà có tên trong danh
sách đòi bồi thường vì họ không hiểu được ý nghĩa của các văn
bản liên quan được nộp lên tòa án.
2/ Biết được số lượng hồ
sơ bên nguyên có thể lên đến hàng trăm ngàn, UCC lại tìm cách
bắt chẹt rằng, nếu bị đưa ra tòa, sẽ gọi tất cả các nạn nhân,
lần lượt từng người một, ra trước tòa án, để xét hỏi và kiểm tra
về mức độ thiệt hại. Một tiến trình, có người tính, phải mất tới
1.500 năm mới có thể hoàn tất.
3/ Tung ra nhiễu tin cho
rằng thảm họa xảy ra là do bị phá hoại bởi một nhân viên làm
việc trong nhà máy, và vì vậy UCC không có lỗi. Tuy nhiên, công
ty nầy đã không có thể đưa ra bất cứ bằng chứng nào, kể cả tên
họ của "kẻ phá hoại" , để củng cố nghi vấn của mình.
4/ Nổi cộm nhất là UCC cáo
buộc rằng chính CP Ấn đã gây ra thảm họa nầy vì, từ lâu, đã biết
được nhà máy có vấn đề về an toàn mà vẫn cho phép nó tiếp tục
hoạt động.
Nồi súp
hóa chất
Thực tế cho thấy rằng nhà
máy thuốc trừ sâu của UCIL ở Bhopal, ngay từ đầu, đã, và còn
đang tiếp tục, tàn phá môi trường xung quanh một cách triệt để.
Nhiều chuyên gia về môi trường không ngần ngại đặt biệt danh cho
khu vực nầy là một nồi súp hóa chất, nơi nguy hiểm nhất trong số
các nơi mà họ từng có dịp kinh qua trong các hoạt động nghiên
cứu.
Một điều tra cho thấy nhà
máy nầy, từ năm 1969 đến 1984, đã thải ra môi trường 22 loại hóa
chất độc hại khác nhau với trọng lượng không dưới 2.000 tấn;
trong đó, 500 tấn Ortho-idichlorobenzene, 500 tấn Carbon
Tetrachloride, 500 Chloroform, 100 tấn Methylene Chloride,...làm
cho đất đai, không khí và nước ở ao hồ sông rạch xung quanh bị ô
nhiễm một cách trầm trọng. Khốn nỗi, hầu hết các báo cáo của cơ
quan thanh tra Ấn lúc bấy giờ, đều "chứng nhận" không có bất cứ
vi phạm nào đến môi trường!
Nhiều nghiên cứu khác cũng
chỉ rõ (a) Trichloroethene, một chất có ảnh hưởng đến sự phát
triển không bình thường của thai nhi, có độ cao, trong đất, gấp
50 lần mức an toàn cho phép (b) nước ngầm ở khu vực nầy chứa
chất thủy ngân cao từ 20 ngàn tới 6 triệu lần mức bình thường
(c) có các chất chì, thủy ngân, trichlorobenzene,
dichloromethane, chloroform, quá mức an toàn nhiều lần, trong
sữa của các bà mẹ đang có con cho bú.
Đài phát thanh BBC Radio
5, nhân kỷ niệm 20 năm, 1984 - 2004, qua một cuộc điều tra đã
cho biết có đến 9 ngàn tấn các loại chất hóa học khác nhau vẫn
còn vương vãi, không được bảo quản và kiểm soát, trong khuông
viên nhà máy. Số lượng hóa chất độc hại trong nước ngầm ở khu
vực nầy, so với mực độ ở Anh, cao hơn 500 lần! Đáng kể nhất là
các chất Benzene Hexachloride, thủy ngân,...thì ở trong những
thùng chứa không có nắp đậy hoặc đổ tràn trên mặt đất. Ở nhiều
nơi, cường độ hóa chất, cao đến nổi, có thể làm cho một người bị
bất tỉnh chỉ trong vòng 10 phút.
Mặc dù vậy, hiện nay,
khoảng 20 ngàn con người vẫn còn cư trú xung quanh nhà máy
bỏ-hoang nầy. Ngày và đêm, phải sống chung với hàng loạt hóa
chất độc hại như thế; hệ thần kinh, gan, thận,... của họ bị đầu
độc một cách nghiêm trọng. Số người bị ung thư ngày càng tăng.
Nhiều phụ nữ mới 30 - 35 tuổi là đã bị tắc kinh; có chứng khó
thở; sinh con bị dị tật về cơ thể, tâm thần và khả năng trí tuệ.
Hơn nữa, có sự thay đổi rất lớn về gien di truyền mà ảnh hưởng
của nó đến các thế hệ tương lai không thể lường trước được.
Trong khi đó, các cơ quan
công quyền Ấn lại có ý kiến trái ngược nhau về cách giải quyết
vấn đề. Bộ Hóa chất Và Phân bón cho rằng Dow Chemical Limited
phải có trách nhiệm và phải chi khoảng 25 triệu đôla Mỹ để làm
sạch môi trường trong vùng nầy. Tuy nhiên, theo Bộ Tư pháp, vấn
đề trách nhiệm thuộc về ai còn phải được "nghiên cứu và làm rõ"
từ hợp đồng chuyển nhượng tài sản giữa UCC và DCL vào năm 2001.
Và như thế, nồi súp hóa
chất thuốc trừ sâu Bhopal vẫn còn tồn tại chưa biết đến bao giờ.
Nó thản nhiên tiếp tục làm một công việc mà từ trước tới nay nó
vẫn làm, và làm một cách rất có hiệu quả như mọi người đều biết,
... giết dần mòn những con người ... đói, nghèo, ... nhỏ nhoi và
yếu đuối.
Chiếc
vòng thòng lọng
Ngay sau khi thảm họa xảy
ra, nhiều người Ấn tiến bộ, có tấm lòng, với phương tiện eo hẹp
của họ, đã lập ra các cơ sở từ thiện để giúp đở về tinh thần
cũng như vật chất cho các nạn nhân Bhopal dưới nhiều hình thức
và phương cách khác nhau.
Đáng chú ý nhất là Ô.
Sunil Kumar, vào lúc 13 tuổi, người duy nhất còn sống sót trong
một gia đình, có hai anh trai, ba chị em gái và cả cha lẫn mẹ
đều bị thiệt mạng vào khuya 03/12/1984. Được hỏi khi thấy có quá
nhiều người chết, nhất là cả gia đình bị tiêu diệt như thế, ông
có sợ hãi không; ông ấy đã cho biết: " không, không thấy sợ là
gì cả, ngay cả khóc tôi cũng không thể khóc được kia mà. Sau một
lúc, trái tim tôi như lặng đi trước những hình ảnh kinh hoàng
đó; trong thâm tâm tôi, có lẽ tôi nghĩ rằng những chuyện nầy là
không có thực, làm sao lại có thực như thế đó được?; cho nên
tôi, như chết điếng, không có phản ứng gì cả, cứ ngỡ là một giấc
mơ, một cơn ác mộng, mà thôi."
Hình ảnh chết chóc siêu
thực đó và nỗi uất hận vô biên kia đã thôi thúc ông dành nhiều
năm dài sau nầy để kiên trì tranh đấu giành công lý cho các nạn
nhân Bhopal như là một lẽ sống duy nhất của đời mình. Theo ông,
phải "tìm ra cho được người có trách nhiệm về thảm họa nầy, và
người đó đáng bị treo cổ."
Ông đã từng đến nhiều nơi
để vận động nhân dân khắp thế giới ủng hộ nạn nhân chất độc MIC.
Trớ trêu là, khi phân phát tài liệu về hậu quả của thảm họa
Bhopal trước một đại hội cổ đông của Union Carbide Corporation
tại thành phố Houston, Texas, Mỹ; ông ta đã bị bắt giam, trong
một thời gian ngắn, vào năm 1989.
Sau nhiều năm tranh đấu,
Sunil Kumar ngày càng bất mãn trước sự thờ ơ của các cơ quan
thẩm quyền Ấn đã không đưa được CT Anderson, người bị coi là có
trách nhiệm chính, ra tòa; căm phẫn nhìn thấy sự thẳng tay từ bỏ
trách nhiệm của UCC và Dow Chemical Limited; bất lực trước nỗi
đau chồng chất về vật chất cũng như tinh thần của nạn nhân
Bhopal vẫn còn dai dẳng; biết rằng công lý đã bị trói chân;
không tìm được một lối thoát khả dĩ nào nữa; Sunil Kumar bất ngờ
bỏ cuộc.
Ngày 26/07/2006, 22 năm
sau thảm họa Bhopal, thêm một nạn nhân nữa đã được ghi vào di
chỉ. Ở tuổi 35, Sunil Kumar tự treo cổ, để lại cho đời một hàng
chữ trên chiếc áo thung, mặc trước khi chết, " No More Bhopals",
thay cho lời vĩnh biệt.
Độc chất MIC đã không giết
được Sunil Kumar; nhưng, trên đường đi tìm công lý cho nạn nhân
Bhopal, ông đành phải chịu thất thủ trước sức công phá dã man
của sự vô cảm của con người.
"Đừng để thảm họa Bhopal
xảy ra một lần nào nữa!", quả là tiếng kêu đoạn trường của một
con người thật, trước giờ phút vĩnh viễn ra đi mà vẫn còn nghĩ
đến sự tồn vong của đồng loại ở lại. Đây là một lời cảnh tỉnh
đầy bi kịch mà cũng đậm tính nhân văn không riêng cho nước Ấn mà
cho cả thế giới, nhất là, cho phần bị gọi là chậm hoặc đang phát
triển.
"No
more Bhopals"
Bảo vệ sức khỏe cộng đồng
trước hiểm họa của bầy quỷ dữ hóa chất độc hại là một trong
những vấn đề cấp bách, và khó khăn gần như nan giải, mà nhiều
nước trên thế giới ngày nay đang phải đối mặt.
Trong chiến tranh trực
diện, người ta nghe được tiếng súng, thấy được bom rơi. Cảnh
chết chóc và sự tàn phá hiện ra trước mặt. Nguyên nhân và hệ
quả, gần kề nhau, nên dễ nhận biết. Chỉ bằng trực giác, con
người cũng có thể thấy được phần lớn nguy cơ mà chủ động tìm
cách đối phó để bảo vệ sinh mạng của chính mình, và cũng có thể
là của người khác nữa.
Trái lại, hóa chất độc
hại trong môi trường, trong thực phẩm và trong đồ dùng là một
cuộc chiến dấu-mặt. Nguyên nhân từ hôm nay nhưng hệ quả của nó
thường không xảy ra tức thời vào ngày mai hoặc tháng tới, mà có
thể sẽ là 10 - 20 năm sau. Và một khi hệ quả bi thảm đến thì mọi
việc đã là quá muộn. Do không nhận diện được nguyên nhân, và
không thấy được hệ quả bằng trực giác; người ta thường hay chủ
quan, không chịu đề phòng và thận trọng. Và cũng do đó, người ta
không ý thức được rằng có những vấn đề cấp thiết, như là nguyên
nhân, cần phải giải quyết, ngay hôm nay, để bảo vệ cá nhân, gia
đình và đất nước, tránh được những hệ quả tàn khốc trong tương
lai gần cũng như xa.
Chính vì vậy mà một vài
nước, từ nhiều năm nay, kể cả Tàu, đã không ngần ngại dùng hình
thức chiến tranh dấu-mặt nầy để làm suy yếu, với hy vọng tiêu
diệt nếu có thể, đối thủ của mình một cách ngấm ngầm mà hiệu
quả. Họ đang tìm mọi cách tung bom hóa học và vi sinh vào dân số
của đối thủ, gián tiếp, bằng các nhà máy với công nghệ sản xuất
"bẩn" để tàn phá môi trường; và, trực tiếp, bằng các loại thực
phẩm, thuốc men, hàng hóa giả hiệu rẻ tiền thiếu chất lượng có
tẩm hóa chất và vi sinh độc hại.
Cho nên, trước hết, ý thức
và giác ngộ, trong mọi tầng lớp của xã hội, về mối nguy cơ to
lớn của loại bom nổ-chậm và vô-hình nầy, là một yếu tố cơ bản
nhất trong việc bảo vệ sức khỏe của cộng đồng.
Mọi nơi chủ động ngăn chặn
nhà máy "bẩn". Mọi người tự giác tẩy chay; không mua bán và
không tiêu thụ; tất cả các loại hàng hóa và thực phẩm, thiếu
chất lượng; đặc biệt, hàng nhập lậu có tẩm hóa chất và vi sinh
độc hại. Từng cá nhân chủ động có những hành vi thiết thực để tự
bảo vệ mình cũng là bảo vệ cho cộng đồng vậy. Đó là một liều
thuốc ngăn ngừa hữu hiệu không thể thiếu.
Sau đó, mới kể đến một vài
việc mà các cơ quan công quyền có thể làm để đối phó với vấn đề.
1/ Không thể dựa vào lời
hứa suông cũng như cam kết miệng của các "chuyên gia" nước ngoài
về tính "tiên tiến" và "an toàn tuyệt đối" của các công nghệ
trong các dự án đầu tư. Những gì họ nói chưa hẳn là sự thật; do
đó, phải được tìm hiểu, điều tra và kiểm chứng một cách cẩn
thận.
2/ Thu hút đầu tư để phát
triển nhưng không chỉ nhắm vào số lượng; các yếu tố về an ninh
môi trường, an toàn lao động, chủ quyền kinh tế và chính trị
phải đồng thời được xét đến. Nếu không; sẽ chỉ "ăn được một",
trong một thời gian ngắn của vài chục năm; rồi sau đó, như kinh
nghiệm ở nhiều nước cho thấy, "phải trả đến mười" nên sự phát
triển của đất nước sẽ bị chửng lại hoặc suy yếu đi, không ngóc
đầu lên được nữa.
3/ Mỗi dự án phải có (a)
bảo hiểm tai nạn đủ để giải quyết hậu quả ngắn và dài hạn, kể cả
làm sạch môi trường sau đó (b) dự trù ít nhất 1 - 3% doanh thu
để đầu tư, nâng cấp và tu sửa thường xuyên hệ thống an toàn của
nhà máy; để cập nhật kiến thức về an toàn; cũng như để huấn
luyện và tái huấn luyện nhân viên.
4/ Có các luật lệ chặt chẽ
về an ninh môi trường, an toàn lao động, hóa chất độc hại, an
toàn công nghệ. Và các luật nầy phải được áp dụng một cách gắt
gao; trừng phạt kịp thời và thích đáng những vi phạm ngay từ
đầu. Khuyến khích, khen thưởng và bảo vệ nhân viên tố cáo các vi
phạm luật lệ trong các nhà máy.
5/ Lập Cơ quan bảo vệ môi
trường, có thẩm quyền độc lập đối với CP, để có thể thực thi có
hiệu quả các luật lệ về môi trường, hóa chất độc hại, và các
lĩnh vực liên quan khác. Nguyên tắc độc lập của cơ quan nầy là
tối quan trọng nhằm hóa giải khuynh hướng của CP chỉ chú ý vào
phát triển kinh tế để lập thành tích nhất thời mà không đếm xỉa
gì đến môi trường và sức khỏe của cộng đồng trong tương lai. Nếu
không, như thường thấy; CP sẽ lấn át ngành bảo vệ môi trường, và
sẵn sàng chấp nhận các dự án đầu tư "bẩn" cũng như vô tư cho
phép các cơ sở sản xuất vi phạm an ninh môi trường tiếp tục hoạt
động tràn lan; chỉ để theo đuổi mục tiêu hẹp hòi và thiển cận
của mình.
6/ Lập một phong trào Xanh
trong quần chúng, tổ chức có quy củ, ở khắp các vùng miền của
đất nước, nhất là tại các vùng có các nhà máy hóa chất, trung
tâm kỹ nghệ và khu chế xuất nhằm (a) phát hiện kịp thời những
vấn đề có liên quan đến môi trường và chất lượng cuộc sống (b)
thúc đẩy các hoạt động thông tin và giáo dục nhằm nâng cao ý
thức của cộng đồng về tác hại khôn lường của các chất độc hóa
học (c) giúp đở dân chúng trong quá trình đấu tranh với các nhà
máy, nhà sản xuất, nhà phân phối, trung tâm kỹ nghệ, khu chế
xuất, cơ quan công quyền,...để đòi hỏi cho bằng được quyền được
sống trong một môi trường lành mạnh; và quyền được tiêu thụ các
sản phẩm sạch.
7/ Tạo cơ hội cho dân cư
xung quanh có tiếng nói trong các hoạt động của nhà máy. Công
khai các loại sản phẩm kinh doanh, phương cách chế tạo và những
rủi ro có thể xảy ra trong qui trình sản xuất. Có phương án phối
hợp; giữa nhà máy, chính quyền địa phương và dân cư; về các vấn
đề báo động, di tản, cứu chữa và cứu trợ; trong trường hợp có sự
cố xảy ra .
8/ Tránh tình trạng có
liên hệ mật thiết giữa các nhà đầu tư, nhất là các công ty tầm
cỡ đa quốc gia, và các viên chức gạo cội có thẩm quyền trong CP,
làm ảnh hưởng đến các quyết định có thể phương hại đến quyền lợi
chung của đất nước.
Và để thay cho lời kết,
xin được phép ghi lại (1) Murphy's law "bất cứ điều không tốt
nào, nếu nó có khả năng xảy ra, trước sau gì nó cũng sẽ xảy ra,
và nó sẽ xảy ra trong một hoàn cảnh ngặt nghèo nhất." (2) lời
vĩnh biệt của một nạn nhân người Ấn, Ô. Sunil Kumar "Đừng để
thảm họa Bhopal xảy ra một lần nào nữa!" và (3) cảnh báo của ký
giả Raj Keswani trước khi cơ sở sản xuất thuốc trừ sâu của UCC
trở thành một nhà máy giết người hàng loạt ở thành phố Bhopal
vào năm 1984 "Nếu chúng ta không ý thức được vấn đề nầy thì
chúng ta sẽ bị tiêu diệt." ./.
Võ đông
Pha
B2,
12/2007
Trở về Trang Chính
|