|
Ít có nguyên tố nào được
nhắc đến với một cảm giác e dè lẫn nghi ngại như Uranium. Lần
đầu tiên ra mắt trước công chúng; Uranium, được biết đến, không
như là một nàng công chúa diễm kiều trong một truyện phim tình
lãng mạn; mà là, một sát thủ thật sự, đầy uy lực, trên một chiến
trường đang đẫm đầy máu lửa, hơn nửa thế kỷ trước đây.
Được phe Đồng minh sử dụng
để tàn phá Hiroshima và Nagasaki, với mức độ chưa từng thấy; tên
tuổi của Uranium đã gắn liền với một hình ảnh xấu xa đáng khinh
tởm vẫn còn rõ nét trong tâm khảm của nhiều người. Nó gợi nhớ
những tiếng nổ long trời, những cột khói hình nấm khổng lồ,
những tia phóng xạ vô hình độc hại; cùng bao nỗi hận thù, đau
thương và chết chóc bao trùm đất nước Phù tang, 1945.
Uranium xuất hiện. Chấm
dứt hoàn toàn thế chiến thứ hai; trong đó, sau gần 6 năm vật lộn
với tử thần, hơn 60 triệu sinh linh phải chịu thương vong. Và,
cũng kể từ đó, Uranium nghiễm nhiên đẩy con người vào một kỷ
nguyên mới, kỷ nguyên của nguyên tử, với không ít, nhiễu nhương
cùng hệ lụy của nó.
Suốt bốn thập niên của thế
kỷ thứ 20; chiến tranh lạnh giữa tư bản và cộng sản, đã làm cho
thế giới sống trong sự bất an thường trực. Con người bị ám ảnh
nặng nề bởi một cơn hồng thủy, bất ngờ, có thể nhấn chìm cả nhân
loại. Có lúc, Uranium, được tập hợp, dưới dạng vũ khí, đủ để có
thể làm nổ tung trái địa cầu mong manh như quả trứng và chơ vơ
lơ lửng trong cái vũ trụ bao la nầy.
Và cũng chính nó là nguyên
nhân, thực sự hay là ngụy tạo, của các cuộc chiến tại Trung
đông, cho tới bây giờ, vẫn còn đang dai dẳng.
Hiếm có ngày nào, các
phương tiện truyền thông, trên trang chính hay trong một góc
nhỏ nào đó, mà không có, ít nhiều, bóng dáng của Uranium và vũ
khí tàn phá diện rộng.
Thử nhìn vào quá khứ của
kẻ đồng hành như-lạ-như-quen nầy; để thấy được những bước ngoặc
nào, ngẫu nhiên cũng như định mệnh, đã đưa đẩy nó trở thành một
phần, không thể tách rời, của cuộc sống ngày nay.
Super novae, Uranium và
nước Đức
Với những nét chấm phá
muôn hình vạn trạng, lịch sử có cách rất riêng của nó; có khi,
oái oăm đến độ buồn cười. Nguyên tố Uranium, ký hiệu U, được
dùng để chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến do Đức quốc xã gây ra, lại
do một nhà khoa học, không từ đâu khác hơn là nước Đức, tên
Martin Klaproth, phát hiện lần đầu tiên vào năm 1789; dưới một
dạng Uranium Oxide. Rồi cũng chính những người Đức, Otto Hahn
và Fritz Strassmann, vào 1938, khám phá ra rằng con người có
thể tách vỡ nguyên tử Uranium. Otto Hahn đã mở cái nút thắt, tạo
tiền đề cho các nghiên cứu và thử nghiệm dồn dập sau đó tại Mỹ;
để nước nầy, được cơ, khai sinh bom hạt nhân 1945.
Ngược thời gian. Theo các
nhà thiên văn, Uranium có thể đã khởi nguồn từ một vụ nổ của một
vì sao rất lớn khoảng 6.6 tỷ năm trước đây. Hiện tượng được gọi
là super novae nầy, thường xuyên xảy ra, trung bình mỗi 50 năm
một lần, trong các thiên hà có cùng cở kích như dãy Ngân hà. Hơn
hai tỷ năm sau, hệ thống mặt trời dần dà được thành hình; và 65
triệu năm sau nữa, đến lượt trái đất. Kể từ đó, Uranium hiện
diện rải rác trên địa cầu, và tích tụ nhiều nhất ở một số vùng
địa lý đặc thù dưới dạng hầm mỏ mà người ta biết đến như ngày
nay.
Khoảng 5 triệu tấn Uranium
Oxide, dưới dạng tiêu chuẩn, U3O8, có thể được tinh chế từ các
quặng mỏ thô đã được phát hiện trên toàn cầu. Không quá hiếm như
người ta vẫn tưởng; trữ lượng nầy cao gấp 500 lần so với vàng,
40 lần so với bạc; nhiều hơn thủy ngân, antimony, cadmium; và
cùng mức với thiếc và kẽm.
Với hơn 13 mỏ, nước Úc sở
hữu, nhiều nhất, khoảng 1.3 triệu tấn, chiếm 25% trữ lượng
Uranium toàn cầu. Kazakhstan có 800 ngàn tấn, tức17%; trong khi
đó Canada, 500 ngàn tấn, 10%. Mỹ, Nam Phi, Namibia, Niger và
Nga, mỗi nước, từ 200 ngàn đến 350 ngàn tấn; gộp lại, khoảng
35%. Đặc biệt Tàu, có rất ít, chưa tới 70 ngàn tấn; đã ồ ạt nhập
cảng từ Úc, những năm gần đây, một số lượng rất lớn, để dự trữ
cho mục tiêu lâu dài của chúng. Trong khi đó, Âu châu, nơi sử
dụng rất nhiều Uranium để chạy lò điện, nhất là nước Pháp, gần
như không có quặng mỏ loại nầy.
Năm 2005, nước Úc xuất
cảng 12 ngàn tấn U3O8, thường được gọi là "Bánh Màu Vàng"
(Yellowcake), thu về 600 triệu đôla Mỹ; từ 3 mỏ nổi tiếng là
Ranger, Olympic Dam và Beverly. Canada khai thác được 14 ngàn
tấn, bán hầu hết cho nước ngoài, chiếm 30% thị trường thế giới.
Vùng trũng Athabaska, phía Bắc tỉnh Saskatchewan, được coi là
nơi khai thác tầm cở của Canada, rộng hơn 100 ngàn cây số vuông.
Trong vùng nầy; có quặng McArthur River, lớn nhất thế giới, mà
công ty Cameco đang khai thác, ở độ sâu đến 640 mét trong lòng
đất.
Tách vỡ hạt nhân
Từ năm 1932, việc James
Chadwick, người Anh, khám phá ra hạt Neutron đã giúp giới khoa
học hiểu rõ hơn về các thành phần cấu tạo của nguyên tử.
Một cách đơn giản, nguyên
tử, đơn vị cơ bản của một nguyên tố; gồm hạt Electron (E), có
điện trừ, bay xung quanh một nhân; gồm hạt Proton (P), có điện
cộng, và hạt Neutron (N), không điện. Trong trạng thái bình
thường, không tích điện, số hạt P bằng số hạt E. Mỗi nguyên tố
có số hạt P khác nhau.
Nghiên cứu khoa học, ở góc
độ đời thường của nó, không khác gì những trò chơi tinh nghịch
của những đứa trẻ hồn nhiên, như thường thấy, hay thò thọc và có
óc tò mò. Ra khỏi nhà, thấy một vài hòn sỏi trên đường, lại thấy
cái cửa kính nhà bên cạnh, là mải mê với ý tưởng muốn lấy hòn
sỏi nầy ném vào cái cửa kính kia, thử xem sao. Có ném tới
không?, kính có vỡ không?, có gây tiếng động không?, có ai thò
đầu ra quát mắng gì không?, cảnh sát có đến không?, và có ai
biết được mình chính là thủ phạm không?, làm sao trốn "tội"?,
... Và hoàn toàn không có ác ý gì đối với người hàng xóm dễ
thương nọ!
Hạt N, do không tích
điện, nên được xem như một "hòn sỏi" lý tưởng để "ném" vào nhân
của các nguyên tử, xem có việc gì sẽ xảy ra hay không.
Ở Ý, 1934, Enrico Fermi
dùng hạt N kích vào nguyên tử của nhiều, 63 theo một số tài
liệu, nguyên tố khác nhau; và ghi nhận các phóng xạ phát sinh
như Gamma và Beta, nhưng không tìm được một hiện tượng đáng chú
ý nào khác.
Đến cuối năm 1938, tại
Đức, Otto Hahn và Fritz Strassmann, trong một thí nghiệm, đã
kích các hạt N vào một dung dịch muối Uranium, cho thấy có chất
Barium (Br) xuất hiện và nhiều nhiệt phát sinh. Đây là lần đầu
tiên một nguyên tử được tách vỡ, tạo ra nguyên tử của một nguyên
tố khác. Kết quả Nobel Hóa học (1944) của Otto Hahn được công bố
trên Die Naturwissenschaften, một tập san khoa học tiếng tăm của
Đức, từ số tháng Mười hai năm 1938.
Nắm được thông tin khoa
học có tính đột phá nầy; người Ý Enrico Fermi, đang tị nạn tại
Mỹ; cùng Neil Bohr vừa đến tham quan từ nước Đan; và Albert
Einstein, thuộc ĐH Princeton, người được xem như là cầu nối giữa
các nhà khoa học Mỹ và Âu châu lúc bấy giờ; đã gấp rút phối hợp
với nhiều phòng thí nghiệm (PTN) uy tín để xác định thực hư.
Từ ĐH Columbia và Carnegie
Institute (Washington) cũng như Johns Hopkins Laboratory; vài
tuần sau đó, lần lượt, người ta đã khẳng định được rằng, quả
thật, nguyên tử Uranium có thể bị tách vỡ; tạo ra hai nguyên tố
mới là Krypton (Kr) và Barium (Ba) cùng rất nhiều nhiệt; như
Hahn và Strassmann đã trình bày.
Không lâu sau, Neil Bohr
và Archibald Wheeler, trong một buổi hội thảo khoa học ở ĐH
Columbia, 17/02/1939; đã gợi ý rằng không phải tất cả các nguyên
tử U mà chỉ có nguyên tử U ở dạng U235 mới có thể bị tách vỡ mà
thôi. Lập luận nầy được sự đồng tình của các nhà khoa học Mỹ dù
nó chưa được chứng minh; đơn giản, vào lúc bấy giờ, chưa ai có
thể phân lập được U235.
Được biết, các nguyên tử
của cùng một nguyên tố tuy đều có một số lượng hạt P như nhau,
nhưng số hạt N của chúng, đôi khi, khác nhau; tạo thành các dạng
nguyên tử khác nhau; và mỗi dạng như thế có một số đặc tính
riêng của nó. Cùng là một nguyên tử của U, nhưng dạng U238 (92P,
146N) có 92 hạt P, 146 hạt N; trong khi đó, U235 (92P, 143N)
cũng có 92 hạt P nhưng chỉ có 143 hạt N. Ít hơn 3 hạt N so với
U238 nên U235 nhẹ hơn U238, và như sẽ được kiểm nghiệm sau nầy,
chỉ có U235 mới có thể bị tách vỡ còn U238 thì không. Trong
Uranium nguyên chất hay còn được gọi là tự nhiên, U238 chiếm,
phần lớn, đến 97.3%; 0.7% còn lại là U235; cũng có dạng U234
nhưng với 0.006%, quá ít, nên không đáng kể.
Như vậy, sau khi bị hạt N
kích vào, U235 trở thành U236; một dạng U không ổn định, sẽ tách
vỡ ra trong một thời gian cực ngắn chỉ bằng 1 phần ức giây
(1/(10 lũy thừa 12)); tạo ra:
1. Kr-92, Krypton
(36P,48N)
2. Ba-141, Barium (56P,
81N)
3. Các phóng xạ Alpha,
Beta và Gamma
4. Nhiệt, phần lớn do một
số hạt N "biến mất", chuyển từ thể trọng sang năng lượng.
Hiện tượng tạo nhiệt nầy
phù hợp với lý thuyết, về liên hệ giữa năng lượng và thể trọng,
mà Einstein đã đưa ra vào năm 1905, lúc mới 26 tuổi, E=MCC. Theo
đó, E là năng lượng tính theo Ergs, M là thể trọng tính bằng
gam, C là vận tốc của ánh sáng 300 ngàn km/giây. Đây là một hình
thức giải phóng năng lượng có hiệu quả rất cao. Ước tính, với 1
kgs than đá, nếu có thể sử dụng phản ứng hạt nhân như thế, sẽ
tạo ra 24 tỷ kilowatt/giờ. Trong khi đó, cùng 1 kgs than đá, nếu
được đốt, một hình thức phản ứng hóa học, chỉ cho 18
kilowatt/giờ.
Tuy nhiên, cho tới lúc đó,
người ta chỉ có thể tách vỡ từng nguyên tử Uranium một.
Khả năng về một phản ứng
dây chuyền; nguyên tử nầy tách vỡ kéo theo sự tách vỡ của các
nguyên tử khác, như hiệu ứng domino; vẫn còn nằm trong bóng tối
ở cả Berlin lẫn New York, hai nơi mà nhiều nhà khoa học sáng giá
nhất lúc bấy giờ đang sinh sống và làm việc.
Phản ứng dây chuyền
Vào mùa xuân năm 1939, ở
Paris, Frédéric Joliot-Curie, từng được giải Nobel hóa học
(1935) liên quan đến phóng xạ nhân tạo, đã mở ra được một chân
trời mới cho giới khoa học hạt nhân. Các thí nghiệm của ông ta
cho thấy rằng số hạt N, trung bình 2.47 hạt, phát ra từ một
nguyên tử U235 bị tách vỡ, trong những điều kiện thích hợp, có
thể làm tách vỡ một hay nhiều nguyên tử U235 khác; và do đó có
thể tạo ra một phản ứng dây chuyền.
Các PTN của Mỹ, một lần
nữa, trở nên dậy sóng; xôn xao tìm cách lập lại khám phá mới nầy
của Joliot-Curie; người con rể của, không ai khác hơn, nhà bác
học lừng danh một thời gốc Ba lan, Marie Curie.
Tách vỡ hạt nhân đơn lẻ
gây nhiệt; tách vỡ hạt nhân dây chuyền, như góp gió thành bão,
có thể tạo ra, rất nhanh, một nhiệt lượng rất cao; gây nổ với
sức tàn phá cực lớn; ... một vũ khí lợi hại.
Trước tình hình chính trị
căng thẳng ở Âu châu, phong trào Đức quốc xã đang sôi động, thế
chiến chực chờ bùng nổ; hiên tượng phản ứng dây chuyền hạt nhân
nầy có một ý nghĩa và tầm quan trọng rất to lớn; có khả năng ảnh
hưởng tới vận mạng của toàn thế giới.
Lo ngại Đức quốc xã sẽ
nhanh chân hơn trong việc khai thác khám phá mới nầy để phục vụ
chiến tranh; các nhà khoa học Leo Szilard, Edward Teller và Paul
Wigner liền hối thúc Albert Einstein viết bức thư, đề ngày
02/08/1939, nhờ chuyển đến TT Mỹ, Franklin Roosevelt, nhận được
ngày 11/10/39; trong đó có đoạn:
" Bốn tháng qua, các
nghiên cứu của Joliot ở Pháp, và của Fermi và Szilard ở Mỹ đã
cho thấy rằng người ta có thể tạo ra một phản ứng dây chuyền với
một khối lượng Uranium lớn, làm phát sinh một lượng năng lượng
khổng lồ và nhiều chất liệu khác, tuơng tự, như chất
Radium.....Hiện tượng nầy có thể được dùng để chế bom. Và có thể
là, tuy không chắc lắm, loại bom nầy có sức tàn phá rất lớn. Một
quả duy nhất, loại nầy, được chở giấu trong thuyền, có thể làm
nổ tung cả một bến cảng và vùng phụ cận của nó. Tuy nhiên, loại
bom nầy có thể là quá nặng để có thể được thả bằng máy bay."
Cũng trong thư nầy,
Einstein đã báo cáo rằng " ... (các nhà khoa học Đức) ở Viện
Kaiser Wilhelm, Berlin, đang lập lại các công trình đã nghiên
cứu được của (các nhà khoa học) Mỹ, (trong lĩnh vực nầy)." Ở
đây, Einstein có thể là không khách quan. Lúc bấy giờ (a) Đức là
ngôi sao sáng của Âu châu về khoa học và kỹ thuật, nếu không
muốn nói là của cả thế giới (b) đang có làn sóng các nhà khoa
học từ Âu châu, nhất là Đức, bỏ xứ chạy sang Mỹ; mang theo nhiều
thông tin cho nước nầy (c) nhiều người tị nạn đã từng là học trò
hoặc/và cộng sự của các nhà khoa học tên tuổi Đức; nên có nhiều
khả năng, vào lúc đó, các nhà khoa học Mỹ đang tìm cách bắt
chước người Đức hay/và người Âu châu; thay vì ngược lại, như
Einstein đã nhiễu báo.
Ban cố vấn về Uranium
Bốn giờ 45 phút, rạng
Đông, 01/09/1939, bên bờ biển Baltic; chiến hạm Đức
Schleswig-Holstein bất ngờ phá tan bình yên của biển cả, nã phát
đại bác đầu tiên, tấn công tới tấp vào căn cứ Hải quân Ba lan,
Westerplatte.
Thế chiến thứ hai ở Âu
châu bước vào lịch sử.
Dù chưa tham chiến, không
đầy 2 tháng sau, 21/10/39, TT Mỹ thành lập Ban cố vấn về
Uranium, phần lớn trong đó, gồm các nhà khoa học tị nạn đến từ
Âu châu; nhằm nghiên cứu về Uranium và lượng định khả năng tàn
phá của nó như là một chất nổ. Số tiền 6 ngàn đô la mà Ban nầy
chi, vào ngày 20/02/40, để mua 4 tấn Graphite (C) và 50 tấn
quặng thô Uranium, được coi là những viên gạch đầu tiên làm nền
tảng cho công trình chế tạo bom hạt nhân của Mỹ.
Ngay sau đó, xạ trường
nguyên tử, xây dựng từ 1932, còn được gọi là "máy đập" nguyên
tử, của PTN Lawrence ở Berkeley, California, được trưng dụng làm
phương tiện cho việc nghiên cứu và tìm hiểu về các đặc tính của
phản ứng dây chuyền hạt nhân. Thiết bị nầy, đại khái, chỉ là một
đường ống dài, thường dùng, để phóng, với vận tốc lớn, hạt N từ
đầu nầy tới các mẩu nguyên tử được thí nghiệm ở đầu kia.
Ban cố vấn về Uranium bắt
tay vào việc tìm lời giải cho hai vấn đề mấu chốt.
1. Bằng cách nào để giảm
tốc hạt N, phát ra từ nguyên tử bị tách vỡ, nhằm tăng khả năng
của nó làm tách vỡ được nguyên tử khác.
2. Làm sao phân lập được
U235 ra khỏi U nguyên chất để làm chất nổ.
Được biết, với vận tốc quá
nhanh, khoảng 16,000 Km/giây, hạt N, phát ra từ một nguyên tử bị
tách vỡ, ít có khả năng kích được một nguyên tử U235 khác để tạo
một phản ứng dây chuyền; do đó, cần phải được giảm xuống, tới
mức tối ưu, ước lượng chừng 1.6 Km/giây. Cũng giống như, trước
một đám đông hàng trăm người, muốn tìm vài ba người quen đang
lẫn lộn trong đó; nếu người ta chạy nhanh qua một mạch thì cơ
hội gặp được họ là ít hơn, so với trường hợp đi chầm chậm.
Để giải quyết vấn đề nầy,
các nhà khoa học thường xuyên nhắc tới Graphite (C), Nước nặng
(D2O) và Nước thường (H2O). Các chất liệu nầy đều có đặc tính,
không hấp thụ hạt N, mà đẩy nó trở ra; sau nhiều lần va chạm như
thế, có thể làm giảm vận tốc của hạt N một cách đáng kể; tuy
nhiên, mỗi chất cũng có nhiều ưu và khuyết điểm khác nhau.
Enrico Fermi, sau nhiều
cuộc tham khảo và thử nghiệm, đã thuyết phục được các nhà khoa
học khác; dùng Graphite (C) để giảm tốc hạt N, như là một giải
pháp tối ưu. Ở thể rắn, Graphite tiện lợi hơn trong việc di
chuyển, bảo quản và sử dụng so với các loại nước nói trên ở thể
lỏng. Tuy nhiên, chất Baron trong Graphite tự nhiên phải được
loại ra; nếu không, vì Baron hấp thụ hạt N, số hạt N phát tán sẽ
giảm, có thể làm giảm, thay vì tăng, khả năng phản ứng dây
chuyền. Graphite là một loại than đá giống như than của cây bút
chì, mà đúng ra phải gọi là bút than; bột nhuyễn của nó thường
được sử dụng như một chất phụ gia để sản xuất các loại chất nhờn
làm trơn máy móc.
Trong khi đó, vào tháng
03/1940, Alfred Nier, ĐH Minnesota, với sự hợp tác tận tình của
General Electric Laboratories, đã thành công trong việc phân lập
được dạng U235. Mặc dù số lượng rất ít, chưa tới 1/1000 gam, chỉ
bằng đầu cây tăm, cũng đủ, để chứng minh gợi ý, một năm trước
đó, của Bohr và Wheeler, chỉ có U235 mới có thể bị tách vỡ.
Khám phá Plutonium
Sau hơn nửa năm làm việc,
Ban cố vấn về Uranium đã mang lại những kết quả khả quan, đầy
hứa hẹn. TT Mỹ liền thành lập Hội đồng quốc gia nghiên cứu quốc
phòng, gọi tắc là Hội đồng, vào tháng 06/1940, để nâng mức độ ưu
tiên của hồ sơ hạt nhân lên một tầm cao mới; và cấp ngay 40 ngàn
đô la cho ĐH Columbia, New York, nghiên cứu chuyên sâu hơn về
phản ứng dây chuyền.
Trong nghiên cứu khoa học,
cũng như việc đời, ngoài con đường chủ định, còn có muôn vàn cái
may và cái rủi, đến rồi đi và lại đến, tạo ra những hướng rẽ
không ai có thể lường trước được.
Cuối năm 1940, một may
mắn, không tìm mà gặp, bất ngờ đến với các nhà khoa học Mỹ.
Glenn Seaborg, Joe Kennedy và Art Wahl, trong một PTN ở
Berkeley, California; đã tình cờ thu thập được những bằng chứng
về một nguyên tố mới, tuy không thấy được bằng mắt thường, gọi
là Plutonium (Pu), tích tụ trong một mẩu thử nghiệm Uranium tự
nhiên, sau khi mẩu nầy bị "đốt" bởi phản ứng dây chuyền.
Được biết, khi được hạt N
kích vào, U238 không tách vỡ, như U235, mà hấp thụ hạt nầy biến
thành U239, có hạn bán hủy (HBH) 23 phút; sau đó thành Np239
(Neptunium, HBH 2.4 ngày); và cuối cùng là Pu239 (Plutonium, HBH
24,100 năm), một dạng Pu rất ổn định.
Hạn bán hủy, có thể được
hiểu như, cứ sau một khoảng thời gian nào đó, phân nửa số lượng
của một nguyên tố bị phân hủy hay biến dạng. Với số lượng hiện
nay là 10 kí lô, giả sử nếu nó có HBH 50 năm; 50 năm sau, số
lượng nầy chỉ còn 5 kí lô; 50 năm sau nữa chỉ còn 2.5 kí lô,
.... HBH thường được dùng để biểu kiến mực độ phân hủy nhanh hay
chậm của một nguyên tố.
Mặc khác, Pu239 cũng có
thể hấp thụ thêm một, hai hoặc ba hạt N nữa để trở thành Pu240,
Pu241 hoặc Pu242. Tuy nhiên, chỉ Pu239 và Pu241 có thể bị tách
vỡ và tạo phản ứng dây chuyền như U235 mà thôi.
Số lượng các dạng
Plutonium được tạo ra, và không tách vỡ; sẽ tồn đọng trong, và
chiếm khoảng 1%, khối Uranium còn lại sau khi bị đốt. Trong số
Pu tồn đọng đó, có khoảng 50% Pu239 và 15% Pu241, có thể được
phân lập và sử dụng như U235. Tương tự như, sau khi củi được
đốt, trong những gì còn lại của củi, có một ít than; cũng là một
chất liệu có thể được dùng, sau đó, để đốt như củi.
Quan trọng hơn nửa, việc
phân lập Pu239, từ khối lượng U đã bị đốt, dễ hơn so với, việc
phải phân lập U235 khỏi U238. Phân lập Pu239, tựu chung, là một
qui trình hóa học, chỉ cần tập hợp được các điều kiện cần và đủ,
sau đó phản ứng hóa học sẽ tự động đem đến kết quả. Trong khi
đó, muốn phân lập U235, phải dựa phần lớn vào qui trình cơ học;
cần máy móc tinh vi và chính xác, có nhiều sự tham gia trực tiếp
của con người.
Plutonium, từ đó, được coi
như là một tài năng mới đang lên với nhiều triển vọng; đã làm
thay đổi không nhỏ kế hoạch của Hội đồng, và chiều hướng nghiên
cứu của các nhà khoa học ở Mỹ.
Tìm cách sản xuất U235
và Plutonium
Song song với U235, Hội
đồng đã có thêm một hướng đi mới; dựa vào phản ứng dây chuyền
của U tự nhiên, biến U238 thành Pu239 làm chất nổ. Nhờ đó, có
thể tăng số lượng và giảm thời gian trong việc chế tạo bom. Tuy
nhiên, sản xuất được U235 cũng như Pu239, dù với số lượng nhỏ,
vẫn còn là một bài toán khó cho các nhà khoa học.
Trước tình hình nầy, Hội
đồng đã theo đuổi, song song và ráo riết, ba mục tiêu chính.
1. Điều khiển được phản
ứng hạt nhân ổn định.
Từ đầu năm 1942, Hội đồng
đã giao việc nầy cho Enrico Fermi, đang làm việc tại ĐH
Columbia, cùng với một số nhà khoa học khác của ĐH Princeton.
Theo kế hoạch, họ đã đến ĐH Chicago; phối hợp với Arthur
Compton, người đang nghiên cứu về hạt N ở đây; để thành lập một
PTN luyện kim; với mục đích nghiên cứu, thiết kế và thử nghiệm
một lò phản ứng hạt nhân có thể hoạt động ở mực độ ổn định; và
từ đó sản xuất Plutonium làm chất nổ. PTN nầy, dự trù, cần một
lượng Uranium tự nhiên rất lớn cho công việc của họ.
2. Sản xuất đủ lượng
Uranium tự nhiên.
Dù được biết đến hơn một
thế kỷ trước, Uranium đã bị bõ quên trong một thời gian dài sau
đó; thực ra, người ta chẳng biết dùng nó vào một việc gì quan
trọng cả. Trước 1939, các PTN, cả thế giới gộp lại, không có hơn
1/2 kgs loại nầy. Nước Mỹ chỉ sở hữu trong tay vài kí lô Uranium
tự nhiên vào năm 1941. Nước nầy hầu như không có quặng thô, phải
nhập cảng; trong khi đó, phương pháp tinh luyện vẫn còn lạc hậu
nên chi phí rất cao và mất nhiều thời gian.
Hội đồng đã đến gõ cửa
Frank Spedding, Trưởng khoa hóa học, Iowa State College, một
trường ĐH cộng đồng khiêm tốn, chuyên về chăn nuôi và nông
nghiệp được thành lập để giải quyết nhu cầu lao động và phát
triển kinh tế có tính địa phương. Ít ai, ngoài quân đội Mỹ, biết
được rằng Frank Spedding là một nhà hóa học có hiểu biết rất sâu
rộng trong lĩnh vực kim loại hiếm.
Sau 6 tháng làm việc cật
lực, với sự phối hợp của PTN luyện kim ở ĐH Chicago, từ tháng 02
đến tháng 08/1942; tại PTN Ames của trường ĐH Iowa, Spedding và
các cộng sự của ông đã tìm ra một qui trình mới, được coi là có
hiệu năng và hiệu quả nhất từ trước đến bấy giờ, để tinh luyện
Uranium. Dùng U Tetrafluoride (UF4), nghiền nhuyễn, trộn với bột
Calcium (Ca), cho vào ống kim loại bịt kín hai đầu, nung nóng
đến 1,500 độ C.
Ngay sau đó, với nguồn
quặng thô dồi dào lấy từ một vùng mỏ ở phía Bắc của nước Gia,
được chuyển đến bằng xe lửa; PTN Ames bắt đầu tinh chế U với số
lượng lớn. Từ công suất chỉ có 1/4 kgs mỗi ngày, lên đến 200
kgs/ngày, vào giữa năm 1943; PTN nầy đã cung cấp đầy đủ và kịp
thời cho nhu cầu của PTN luyện kim ở ĐH Chicago, và một số nơi
khác. Cùng lúc Spedding đã giảm chi phí sản xuất Uranium tự
nhiên một cách đáng kể, từ 2000 đôla/kgs xuống chỉ còn 12
đôla/kgs.
3. Phân lập U235 một cách
có hiệu năng và hiệu quả.
Như đã biết, trong Uranium
tự nhiên có đến 99.3% ở dạng U238, dạng U235 chiếm 0,7%; và chỉ
có U235 có thể bị tách vỡ tạo phản ứng dây chuyền. Do đó, muốn
sử dụng làm chất nổ, U235 phải được phân lập khỏi U238.
Tương tự, trong một chum
gạo tẻ, như thường thấy; có gạo tấm, hạt nhỏ, với số lượng ít ;
và gạo cội, hạt dài, chiếm phần lớn. Để có thể nấu cơm tấm, gạo
cội phải được loại ra, để tăng tỷ lệ gạo tấm cần thiết.
Với 5 kgs U tự nhiên
(trong đó, thông thường, có 0.7% U235), nếu 4 kgs U238 được loại
ra, sẽ làm cho 1 kgs U còn lại có 3.5% U235. Và muốn có 1 kg U
với 91% U235, để có thể chế tạo bom, phải cần tới 130 kgs U tự
nhiên; từ đó, 129 kgs U238 phải bị loại ra.
Alfred Nier, từ tháng
03/1940, đã phân lập được U235. Tuy nhiên, phương pháp của ông
ta, có tính thủ công, quá nhiêu khê và mất nhiều thời gian; nếu
dựa vào nó, phải mất đến hàng ngàn năm mới có được một gam U235
thuần dạng! Hội đồng đang cần hàng trăm, hàng ngàn kí lô U235 để
chế bom, càng sớm càng tốt! Vì vậy, tìm ra những phương cách
phân lập U235 hiệu năng và hiệu quả hơn là một việc làm rất cấp
bách; và là tâm điểm của nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học
Mỹ, dưới sự thúc đẩy của Hội đồng, suốt những năm 1940, 1941 và
1942.
Dựa vào sự khác biệt về
thể trọng giữa hai dạng U235 và U238; như đã biết, với 143 hạt
N, U235 nhẹ hơn so với U238, có đến 146 hạt N; ba phương cách
khác nhau đã được đề cập tới.

a. Thẩm thoát: Harold Urey
và John Dunning, ĐH Columbia, dùng áp suất đẩy UF6, thể khí, qua
một màn chặn có các lổ cực nhỏ. Do thể trọng nhẹ hơn, U235 lọt
qua màn chặn nầy dễ hơn so với U238. Sau nhiều lần lọc, thành
phần U235 sẽ tăng. Cuối cùng, UF6 có tỷ lệ U235 cao, vẫn còn ở
thể khí, được chuyển qua thể lỏng, cho nguội dần, và đông đặc
trở lại.
b. Điện từ: Cách nầy được
thử nghiệm ở xạ trường nguyên tử Lawrence, California. Lấy
Uranium Tetrafluoride (UF4), thể đặc, nung nóng cho bốc hơi;
kích hạt E vào, tạo ra các nguyên tử tích điện U+. Sau đó, tăng
tốc các U+ nầy lên hàng ngàn km/giây, cho bay qua một vùng từ
trường mạnh; các nguyên tử tích điện có khuynh huớng quay vòng
trở lại, độ cong tùy theo thể trọng của nguyên tử. U235 nhẹ hơn,
cong nhiều, U238 nặng hơn, cong ít; và như thế là U235 được phân
lập. Tuy nhiên, chỉ có phân nửa U235 được thu hồi bằng phương
pháp nầy; phần còn lại phát tán mất, không kiểm soát được.
c. Ly tâm: Cho UF6, thể
khí, vào một dụng cụ hình khối tròn quay với vận tốc lớn; nguyên
tử có thể trọng nặng có khuynh hướng tách ra xa trung tâm trục
quay hơn so với nguyên tử nhẹ. Sau đó, phần UF6 ở trung tâm có
nhiều U235 hơn, được chiết ra, cho vào dụng cụ quay khác. Lập
lại nhiều lần để tăng tỷ lệ U235. Đây là phương pháp mà nước
Iran hiện nay, như báo chí thường loan tải trong những lúc gần
đây, dùng để phân lập U235 trong chương trình hạt nhân, nếu còn
và có thật, của họ.
Các cách phân lập U235,
nói trên, đều sử dụng Uranium dưới dạng UF4 hay UF6; vì chúng có
thể được chuyển đổi qua các thể lỏng, đặc hoặc khí một cách dể
dàng. Để có được, trước hết, dùng Uranium Oxide Concentrate
(U3O8), hòa với Nitric Acid, cho ra dung dịch Uranyl Nitrate
(UO2(NO3)2). Lấy tinh chất Uranyl Nitrate phối hợp với Ammonia
để tạo ra Ammonium Diurannate ((NH4)2U2O7). Từ đó, dùng Hydrogen
để tách ra Uranium Dioxide (UO2); rồi phối hợp nó với
Hydrofluoric Acid (HF) để có UF4. Từ UF4, phối hợp với Fluorine
sẽ cho UF6.
Vào lúc bấy giờ, có khó
khăn trong việc chế tạo được bộ máy có thể quay ổn định, không
bị run, với vận tốc cao; nên phương pháp ly tâm không được chú ý
tới. Mặc khác, cả hai phương pháp còn lại đều nhiêu khê, hao tốn
nhiên liệu và mất nhiều thời gian; cần phải được cải tiến thêm
từng chút một, để có thể sản xuất U235 với số lượng lớn. Tuy
nhiên, Hội đồng cũng tỏ ra lạc quan với những kết quả đã gặt hái
được trong lĩnh vực nầy.
Chương trình Manhattan
Đã tạo được nguồn cung ổn
định Uranium tự nhiên và đã xác định được một số cách phân lập
U235 có tính khả thi cao; Hội đồng, chưa đầy một năm sau kể từ
ngày thành lập, đã không ngần ngại đi đến kết luận rằng " một
quả bom hạt nhân có thể được chế tạo nếu có đủ một lượng U235
cần thiết ... Và nếu chương trình chế tạo bom được đầu tư đúng
mức, chúng ta có thể có một số lượng bom đáng kể trong vòng 3 -
4 năm tới."
Thấy được dáng con mồi đã
lọt vào tầm ngắm, TT Mỹ, Roosevelt, với sự hợp tác của nước Anh,
bèn lập Văn phòng nghiên cứu và phát triển khoa học, gọi tắc là
Văn phòng, ngày 28/06/41; đánh dấu một giai đoạn quan trọng có
tính quyết định, thể hiện quyết tâm chính trị cao nhất của phe
Đồng minh, bằng mọi phương cách khả dĩ và dùng mọi phương tiện
có thể để chế bom hạt nhân.
Anh được coi là yếu tố
quan trọng cho sự thành công của Văn phòng nầy. Tuy không sâu
rộng như ở Mỹ, nước Anh cũng có một số nghiên cứu đáng kể trong
lĩnh vực hạt nhân. Sau khi Đức chiếm Pháp; Joliot-Curie, dù ở
lại Pháp để kháng chiến, đã cho các cộng sự của mình mang các
tài liệu về phản ứng hạt nhân và một lượng gần 200 kgs Nước nặng
sang Anh để giúp nước nầy chống lại Đức; một đối thủ chung.
Mặc khác, nhờ có một hệ
thống tình báo dàn trải khắp các nước Âu châu đang bị chiếm
đóng, Anh đã giải cứu và thu dụng nhiều nhà khoa học tị nạn tầm
cở; và một số, sau đó, đi tiếp sang Mỹ hợp tác trong chương
trình Manhattan. Neil Bohr, nhà khoa học tiếng tăm, người Đan;
được tình báo Anh móc nối, dùng dân quân kháng chiến địa phương
đưa bằng thuyền qua Thụy điển, vào năm 1942; rồi cho máy bay bí
mật chở sang Anh. Không lâu sau, Neil Bohr đến làm việc tại Los
Alamos, PTN bom hạt nhân của Mỹ, dưới một tên giả là Nicholas
Baker.
Sau gần một năm tập hợp
tài năng, tổ chức nhân sự và hoàn chỉnh các vấn đề lý thuyết;
ngày 12/05/1942, Văn phòng bí mật phê duyệt kế hoạch chế tạo bom
hạt nhân, và giao cho Bộ quốc phòng Mỹ thi hành. Phải mất 3
tháng điều nghiên, Bộ trưởng quốc phòng Henry Stimton, vào ngày
14/08/1942, mới chính thức chỉ định Đoàn công binh đang trú đóng
ở khu vực Manhattan, thuộc TP New York, đảm nhận trách nhiệm
nầy. Chương trình (CT) Manhattan bắt đầu từ đó, dưới sự chỉ huy
tổng quát của Tướng hai sao Leslie Groves, mới 42 tuổi; và được
cố vấn về khoa học bởi, TS Richard Tolman, chủ nhiệm các chương
trình sau đại học của California Institute of Technology.
Chicago Pile-1
Không đầy 4 tháng sau, CT
Manhattan đã ghi bàn mở đầu một cách ngoạn mục. PTN luyện kim,
ĐH Chicago, thành công trong việc khởi động và duy trì ổn định
phản ứng dây chuyền hạt nhân.
Trên những khung sàn làm
bằng gỗ; 6 tấn Uranium tự nhiên và 34 tấn Uranium Oxide, trong
những ống tròn bằng nhôm; được xếp xen kẽ với 400 tấn gạch
Graphite; thành một cấu trúc rộng 9 mét và cao 7 mét, gần giống
như một lò gốm. Rải rác trong đống vật liệu nầy có nhiều vòi
nước nhỏ dùng để làm nguội lò khi phản ứng xảy ra.
Trong lúc xây dựng, Enrico
Fermi và các cộng sự của ông phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm;
nhiều lần, làm xong rồi phải dỡ ra để xây lại; mọi thứ ngổn
ngang trông giống như một đống gạch vụn; nên nó thường được gọi
một cách thân thiện là "Đống Gạch" (The Pile). Vì đây là lò hạt
nhân đầu tiên ở Chicago nên còn được gọi là Chicago Pile -1 hay
CP-1.
Ở giữa lò, có một bộ điều
nhiệt, gồm nhiều thanh kim loại bọc Cadmium, được dùng để điều
chỉnh phản ứng dây chuyền, bằng cách kiểm soát số lượng hạt N
phát tán. Muốn gây phản ứng; qua một cửa bên hông, rút bộ điều
nhiệt ra khỏi lò, cho các hạt N làm tách vỡ U235, tạo ra nhiệt.
Khi cắm bộ điều nhiệt trở lại vào trong lò, các hạt N sẽ bị hấp
thụ; không có hạt N, không có U235 tách vỡ; phản ứng sẽ ngưng.
Mặc dù đã được tính toán
cẩn thận, vẫn còn nhiều khả năng phản ứng sẽ vượt khỏi tầm kiểm
soát, không ngăn chặn được, gây cháy và nổ. Do đó, ngoài bộ điều
nhiệt chính còn có một bộ khác, tự động, cắm vào lò ngay tức
khắc, khi số lượng hạt N vượt quá mức ấn định. Để phòng hờ, một
bộ khác nữa được treo bằng dây trên nóc lò; nếu cần, dùng búa
chặt dây treo cho nó rơi xuống; hy vọng sẽ làm ngưng phản ứng
dây chuyền. Ngoài ra, còn có nhiều nhân viên khác túc trực với
những xô dung dịch muối Cadmium, trong trường hợp khẩn cấp, sẽ
dội xối xả vào Đống Gạch để chữa cháy.
Tuy nhiên, vì phương tiện
eo hẹp và thời gian cấp bách; Đống Gạch thô sơ và tạm bợ nầy
không có vách ngăn phóng xạ và không có hệ thống giảm nhiệt; như
các lò phản ứng sẽ được xây dựng, một cách có qui củ hơn, sau
đó. Các nhà khoa học, làm việc tại đây, chấp nhận một rủi ro rất
lớn về sinh mạng trước mắt, lò có thể bị nổ; cũng như về sức
khỏe lâu dài do bị nhiễm phóng xạ.
Đúng 09:54G, Enrico Fermi,
cho bộ điều nhiệt từ từ kéo ra khỏi lò; máy đếm bắt đầu ghi nhận
số hạt N phát tán trong lò, U235 bị tách vở, tạo ra nhiệt. Cả
nhiệt độ lẫn số hạt N tăng dần sau đó.
Đến 11:25G, để kiểm tra,
bộ điều nhiệt được cắm trở lại vào lò. Số hạt N và nhiệt độ giảm
như dự kiến. Sau 10 phút, mọi thứ đều bình thường; Fermi cho
phản ứng bắt đầu một lần nữa.
Sau khi điều chỉnh bộ điều
nhiệt ở vị trí thích hợp, Fermi đã có thể đưa phản ứng vào
ngưỡng ổn định vào lúc 15:25G, ngày 02/12/1942. Đây là lần đầu
tiên con người có thể kiểm soát và điều khiển được phản ứng dây
chuyền hạt nhân như ý muốn.
Đống Gạch nầy tiếp tục vận
hành ổn định như thế suốt 28 phút sau đó; đến 15:53G, vừa ý với
những gì đã xảy ra, Fermi cho bộ điều nhiệt cắm trở lại vào lò.
Máy đếm hạt N chạy chậm lại; và phản ứng dây chuyền dần dà chấm
dứt. Nhiều người tham dự hớn hở, mở rượu, mừng cho thử nghiệm
thành công.
Được biết, nếu một nguyên
tử bị tách vỡ có thể làm tách vỡ, trung bình, được:
1. một nguyên tử khác; gọi
là phản ứng đạt ngưỡng ổn định, nhiệt tạo ra ở mức ổn định.
2. nhiều hơn một nguyên tử
khác; phản ứng trên ngưỡng ổn định, nhiệt càng lúc càng tăng.
3. ít hơn một nguyên tử
khác; phản ứng dưới ngưỡng ổn định, nhiệt càng lúc càng giảm.
4. không nguyên tử nào
khác; phản ứng dây chuyền bị ngưng, không tạo thêm nhiệt.
Đáng chú ý, trong không
gian bao giờ cũng có nhiều hạt N, "không nhà", bay ở mọi phương
hướng; nên chúng có thể kích các nguyên tử U235, mà không phải
qua bàn tay của con người như trong PTN. Các hạt N nầy sẽ gây
phản ứng dây chuyền tự phát nếu gặp một lượng Uranium đủ lớn và
tỷ lệ U235 đủ cao. Tuy nhiên, vào lúc đó, hiểu biết về hiện
tượng tự phát nói trên vẫn còn nhiều hạn chế; mọi tính toán về
số lượng cũng như về tỷ lệ, cần và đủ, của nó đều có tính phỏng
chừng.
Vì vậy, Enrico Fermi, khi
xây lò phản ứng, đã đặt sẵn một bộ điều nhiệt Cadmium, từ trước,
ở giữa lò, để hấp thụ các hạt N; ngăn không cho phản ứng dây
chuyền tự phát, bất ngờ, xảy ra. Chỉ đến lúc, muốn phản ứng bắt
đầu; ông ta mới cho rút bộ điều nhiệt ra khỏi lò mà thôi.
Sau khi chiến tranh chấm
dứt; nhìn lại CT Manhattan, Tướng Groves cho rằng việc Enrico
Fermi thử nghiệm thành công Chicago Pile -1 đạt ngưỡng ổn định
an toàn là một sự kiện khoa học quan trọng nhất trong quá trình
phát triển bom hạt nhân.
(Phần 2, tiếp theo vào kỳ
sau)
Võ đông Pha
B2/1, 01/2008
khoahoc.net
Trở về Trang Chính
|