|
Trong
kho tàng ca dao Việt Nam, nếu lựa ra, sẽ tìm thấy rất nhiều châu
ngọc, vì có những câu, những bài đã thăng hoa lên hàng nghệ
thuật. Trong số châu ngọc đó, ai không biết câu hát Mười thương?
Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền,
Bốn thương răng láng, hạt huyền kém thua.
Năm thương cổ yếm đeo bùa
Sáu thương nón Thượng quai tua dịu dàng.
Bảy thương nết ở khôn ngoan,
Tám thương ăn nói dịu dàng thêm xinh.
Chín thương cô ở một mình,
Mười thương con mắt có tình với ai.
Đó là chân dung người đẹp lý
tưởng của thanh niên đầu thế kỷ 20 trở về trước. Trong mười
thương đó, dẫu cho đã giả từ thế kỷ 20 để bước sang thế kỷ 21
lâu rồi nhưng xem ra vẫn còn nhiều cái thương chưa lỗi
thời. Chẳng hạn cái thương số hai, số ba, và bảy , tám,
chín, mười. Ngọai trừ những chàng mắc bệnh tâm thần hoặc một
ngày nào đó cái giống đàn ông bị kỹ thuật sinh hóa làm biến đổi
con người đi nên mới chê các tiêu chuẩn vừa nói, chứ thử hỏi ai
gặp người má lúm đồng tiền, ăn nói mặn mà có duyên, đang
hơ hớ ở một mình, lại thêm con mắt hữu tình với ai, mà
lại bỏ đi răng đành?
Bên cạnh những cái thương gần như
bất biến đó, còn có non một nữa cái thương khác trở thành những
tiêu chuẩn khó hiểu khó cảm với các chàng trẻ ngày nay. Chẳng
hạn, Bốn thương răng láng hạt huyền kém thua . . .
Ngay cả người viết ở cái tuổi gần
cổ lai hi mà còn không mê nổi cái răng láng hạt huyền
này, huống chi đám thanh niên, mặc dầu có bà mẹ nhuộm răng và
thuở ấu thời đã từng nhiều lần đạp xe ra chợ Đông Ba để mua
thuốc xỉa cho mẹ.
Tục
nhuộm răng, cùng với việc ăn cau trầu, là hai nét đặc trưng của
dân Việt Nam từ thời lập quốc. Hầu như mọi người đều đồng ý rằng
nhuộm răng là hệ quả của việc ăn cau trầu. Chả lẽ để hàm răng
nhếch nhác với nước cốt trầu bám vào, trông chẳng thẩm mỹ chút
nào, chi bằng nhuộm đen cho nó tiệp màu. Cái sáng kiến của một
người nào đó khi đem ra thực hành, không ngờ được nhiều người
tán đồng và hưởng ứng rộng rãi khắp nơi, lại được truyền từ đời
này qua đời khác, thế là tục nhuộm răng thành hình.
Trong
khi trầu cau vẫn còn, dù không phồn thịnh như xưa, vì lễ nghi
cưới hỏi còn bắt buộc, thì việc nhuộm răng đang dần dần biến
mất, nhất là từ nửa sau thế kỷ 20. Sống cạnh nước Tàu to lớn,
người Việt chịu ảnh hưởng đủ thứ, nhưng cái tục nhuộm răng lại
là một nét đặc biệt mà Tàu không có. Thời xưa, đàn ông, đàn bà
đều nhuộm tuốt, trai, gái tới cái tuổi choai choai (tuổi teen)
đã bắt đầu nhuộm rồi, hễ ai không nhuộm, để răng trắng thì bị
chê là răng trắng ngư răng Ngô. Ngô ở đây không phải
bắp đâu, là chữ các cụ xưa dùng để chỉ người Trung Quốc. Thậm
chí, còn bị chê răng trắng như răng bò, đâu biết rằng
hãng phô-mai (cheese) Con bò cười (La vache qui rit) của
Pháp nhờ chọn logo cái đầu bò cái đeo khuyên, cười nhe hàm
răng trắng nhởn, làm thương hiệu mà ăn nên làm ra, nổi tiếng
khắp thế giới.
Ngày nay việc tẩy răng trắng đang
là một thời trang. Nhiều hãng mỹ phẩm đã chế ra những cái băng
thuốc để người dùng dán vào răng ban đêm, giúp tẩy trắng răng mà
không mất thì giờ. Ngày xưa, khi nhuộm răng, người ta cũng làm
tương tự, nhưng vì không có plastic nên người ta bôi thuốc
nhuộm lên một mảnh nhỏ lá dừa, lá cau hay lá chuối để dán vào
răng ban đêm. Việc nhuộm răng luôn luôn thực hiện vào ban đêm
vì đó là thời gian cái miệng được nghỉ, không ăn, không nói, cái
răng được nằm yên cho thuốc dễ ngấm vào.
Trong
Việt Nam phong tục , cụ Phan Kế Bính nói rằng muốn nhuộm
răng thì người ta dùng cánh kiến tán nhỏ, vắt nước chanh vào,
đậy kín, để bảy ngày rồi đem phết vào miếng lá dừa hay lá cau để
dán vào hai hàm răng, vào ban đêm. Làm như vậy bảy ngày thì
răng ngã sang màu đỏ cánh gián, bấy giờ mới bôi thuốc đen vào để
thực nhuộm. Thuốc đen làm bằng cánh kiến nấu với phèn đen. Sau
khi răng đã đen rồi, để có màu bóng đẹp và giữ màu cố định,
người ta dùng mảnh sọ dừa để trên con dao mà đốt cho chảy nhựa
ra và dùng thứ nhựa đen đó để phết vào răng. Đây là giai đọan
“giết răng”, nghĩa là răng đã đi vào tình trạng cố định màu sắc,
không sợ phai nữa.
Trong
thời kỳ nhuộm răng, việc ăn uống rất trở ngại, người nhuộm không
được nhai, không được uống, vì thức ăn và nước sẽ làm thuốc phai
màu đi. Do đó, không phải ăn và uống mà chỉ có nuốt. Để nuốt
cho dễ thì thức ăn phải được làm cho mềm cho trơn để trôi tuột
vào cuống họng. Nước cũng uống theo cái kiểu đó. Ở Huế có món
bún gạo, rất thích hợp trong trường hợp này. Chỉ sau khi qua
giai đọan “giết răng” thì mới trở lại ăn uống bình thường, không
sợ răng phai màu nữa.

Cụ già
với hàm răng đen
Thực
ra, cách nhuộm răng theo như cụ Bính trình bày không phải là
cách duy nhất. Bác sĩ Sallet, trong một bài nghiên cứu công
phu về việc nhuộm răng của người Việt, đăng trong tập san Đô
Thành Hiếu Cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hue, No4, 1928), đã
đưa ra một số toa thuốc nhuộm răng, từ lọai dân gian, gia
truyền, cho tới lọai của giới cung đình.
Đây là toa thuốc bình dân ở
Vinh:
Ngũ bội
tử: 1 lạng
Phèn đen (sulfat đồng): 1
lạng
Vỏ thạch lựu: 5 đồng cân
Bột lọc
: 3 đồng cân
Về toa thuốc nhuộm răng, có hai
lọai, lọai bột, để chà vào răng, gọi là thuốc tán; và lọai nấu
thành cao, gọi là thuốc dán. Bs. Sallet sưu tập được nhiều toa
thuộc lọai này, trong đó có hai toa thuộc lọai gia truyền ở Huế:
- Cố
xỉ tán:
Thanh phàn 1 lượng
Hắc phàn 1 lượng
Ngũ bội 1 đồng
cân
Cam thảo 5 đồng
cân
Bình lang 5 đồng
cân
Tế tân 2
đồng cân
Bạch chỉ 2
đồng cân
Tam lăng 2 đồng
cân
Nhũ hương 2 đồng
cân
- Cố
xỉ cao:
Thanh phàn 1 lượng
Hắc phàn 1 lượng
Ngũ bội 1 đồng
cân
Cam thảo 5 đồng
cân
Tế tân 2
đồng cân
Bạch chỉ 2
đồng cân
Tam lăng 2 đồng
cân
Nhũ hương 2 đồng
cân
Bạch tật lê 5 đồng
cân
Cánh kiến 5 đồng
cân
Mộc được 2 đồng
cân
Đương qui 3 đồng
cân
Ý kiến, Phê bình xin gửi về :
vohuongan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |