|
Trước những địa danh
tăm tiếng của Việt Nam trong lịch sử như Hà Nội, Huế, Sàgòn
v.v.thì địa phương mang tên Đà Nẵng có một bề dày thật khiêm
tốn. Ấy thế mà nếu tò mò lần về quá khứ của thành phố biển này
người ta sẽ rất ngạc nhiên khi khám phá ra rằng nó chiếm nhiều
cái “nhất” mà những nơi khác ở Việt Nam không có. Chẳng hạn:
-
Đà Nẵng là nơi
đầu tiên của Việt Nam được gieo giống Phúc-Âm. Chính tại
cửa biển này đạo Thiên Chúa đã truyền đến Việt Nam vào năm
1615, với các giao sĩ Francosis Buzomi và Diego Carvalho đến
từ Macau.*
-
Đà Nẵng là nơi
đầu tiên của Việt Nam xảy ra cuộc thử lửa với Tây Phương.
Tháng 5 măm 1847, do một sự hiểu lầm, hai tàu chiến của Pháp
là Gloire và Victorieuse đã nỗ súng vào các vị trí phòng thủ
và các chiến thuyền của Việt Nam trong vịnh Đà Nẵng, gây
thiệt hại lớn rồi bỏ đi.*
-
Đà Nẵng là nơi
đầu tiên của Việt Nam được Đạo Tin Lành chọn làm cơ sở
truyền giáo ban đầu, vào năm 1911, do công sức của các mục
sư R.A. Jaffray, Paul M. Hostler*.
-
Và bức hình đầu
tiên của Việt Nam, chụp và chế biến bằng kỹ thuật nhiếp ảnh
daguerréotype của thế giới, mới phát minh năm 1839, cũng tại
Đà Nẵng.
Đó là bức hình bạn
đọc thấy ngay sau đây, do Jules Itier chụp vào năm 1845 .
Xuất xứ bức ảnh
Trong tập
san Bulletin des Amis du Vieux Hue (B.A.V.H) số 3 và 4 xuất bản
vào tháng 7 năm 1927, H, Cosserat đã viết bài La Premìere
Photographie d’une site Cochinchinoise, le fort de Non-Nay (Bức
ảnh đầu tiên về một nơi ở Đàng Trong, pháo đài Non-Nay) để
giới thiệu về bức ảnh. Theo đó, H.Cosserat đã tìm được bức ảnh
độc đáo này trong cuốn hồi ký Journal d’un Voyage en Chine en
1843,1844, 1845,1846, (Nhật ký du hành Trung Quốc vào các
năm 1843,1844,1845,1846) gồm 3 tập, của M. Jules
Trong tập san
Bulletin des Amis du Vieux Hue (B.A.V.H) số 3 và 4 xuất bản vào
tháng 7 năm 1927, H, Cosserat đã viết bài La Première
Photographie d’une site Cochinchinoise, le fort de Non-Nay (Bức
ảnh đầu tiên về một nơi ở Đàng Trong, pháo đài Non-Nay) để
giới thiệu về bức ảnh. Theo đó, H.Cosserat đã tìm được bức ảnh
độc đáo này trong cuốn hồi ký Journal d’un Voyage en Chine en
1843,1844, 1845,1846, (Nhật ký du hành Trung Quốc vào các
năm 1843,1844,1845,1846) gồm 3 tập, của M. Jules Itier, do nhà
Dauvin et Fontaine Librairies ở Paris xuất bản vào năm 1853 ,
với chú thích Cảnh pháo đài Non Nay của xứ Đàng Trong (
Vue du fort cochinchinois de Non-Nay).
Năm
1843 -- bấy giờ là đời vua Thiệu Trị của Việt Nam -- vua
Louis-Philippe của Pháp cử một phái bộ sang Trung Quốc để ký
hiệp ước Whampoa (1844). M. Jules Itier là một thành viên trong
phái đòan, đại diện cho Bộ Thương Mãi và Tài chánh Pháp. Khi
xong việc, phái bộ về đến Singapore thì Itier được lệnh sang tàu
Alcmène của Fornier du Plan để khẩn cấp tới Việt Nam can
thiệp về vụ năm giáo sĩ đang bị bắt giam tại Huế.
11 giờ
đêm 30/5/1845, tàu Alcmène đến vịnh Đà Nẵng, nhưng phải
chờ đến sáng hôm sau mới vào bỏ neo trong vịnh. Chính vào dịp
này, Jules Itier đã dùng kỹ thuật nhiếp ảnh mới phát minh ở trời
Âu, gọi là Daguerréotype, để chụp 3 tấm hình về Đà Nẵng nhưng
chỉ công bố trong hồi ký tấm hình nói trên mà thôi. Còn hai tấm
hình kia, một cái chụp cảnh vịnh Đà Nẵng , và một cái chụp cảnh
Ngũ Hành Sơn, thì hồi ký có nói tới mà không thấy in. Đó là điều
không những H. Cosserat lấy làm tiếc mà ngày nay chúng ta cũng
thấy tiếc hùi hụi.

Daguerréotype là kỹ thuật gì?
Trong phiên họp
ngày 10/8/1839 của Hàn Lâm Viện Khoa Học Pháp Quốc, nhà khoa học
Arago loan báo về sự phát minh kỹ thuật chụp ảnh của Daguerre và
gọi kỹ thuật đó là daguerréotype.
Khi nói
tới nhiếp ảnh, phần đông người ta hay nghĩ trước hết tới cái máy
ảnh, và cho rằng người nào phát minh ra máy ảnh là ông tổ của
khoa nhiếp ảnh. Sự thật, không phải vậy. Vào đầu thế kỷ 19,
dựa vào một nguyên tắc căn bản của quang học, ở Âu châu, đặc
biệt là Anh và Pháp, người ta đã biết chế ra một lọai “máy ảnh”
thô sơ rồi, vì kỹ thuật đơn giản, ai khéo tay cũng làm được.
Cái mà người ta quan tâm tìm kiếm là: hình ảnh sau khi vào
máy rồi, thì sẽ được ghi nhận trên cái gì, làm sao bắt giữ được
nó, làm cho nó hiện hình và giữ nguyên như thế mãi mãi. Nói
một cách khác, người ta quan tâm tới vấn đề dùng cái gì để ghi
hình; làm sao cho hình hiện ra; và làm sao cố định được hình ảnh
đó. Sau hơn mười năm tìm kiếm, chính Daguerre đã tìm ra được kỹ
thuật này, mệnh danh là phương pháp của Daguerre,
daguerréotype. Với kỹ thuật này, những tấm ảnh đầu tiên của
thế giới không phải in trên giấy như ngày nay. Hình ảnh hiện
trực tiếp ngay trên một bảng đồng bóng lóang phủ hóa chất bắt
ánh sáng, chứ không phải phim âm bản như bây giờ.
Hòn Mồ Côi ở mô ?
Trong hồi ký,
Jules Itier ghi lại rằng tàu Alcmène đã bỏ neo ở phía nam hòn Mồ
Côi (l’Île de Mo-Koi) -- theo cách gọi của dân địa phương --
dưới chân của “fort de Non-Nay”. Chính nhờ chi tiết này mà
H.Cosserat cũng như chúng ta ngày nay có thể biết chính xác hòn
Mồ Côi ở đâu và fort de Non-Nay là cái gì. Đây chính là hòn
đảo nhỏ nằm về phía đông-nam vịnh Đà Nẵng, được Đại Nam Nhất
Thống Chí (tỉnh Quảng Nam) gọi là đảo Cô, và khi người Pháp xâm
lăng Đà Nẵng đã gọi là l’Îlot de l’Observatoire, hay l’Îlot mà
thôi. Ngày nay, nếu quan sát từ trên không hoặc sử dụng những
bản đồ Đà Nẵng được ấn hành sau 1960 người ta sẽ thất vọng vì
không tìm đâu ra dấu vết của hòn đảo nhỏ này.
Hai cái tên gọi “Mồ
Côi” và “Cô” cho phép chúng ta hình dung hòn đảo nhỏ này nằm trơ
trọi một mình. Theo các bô lão địa phương, vì đảo không xa bờ
nên thời Gia Long, vua đã cho đắp một con đường nhỏ nối đất liền
với đảo để lính tráng tiện đi lại canh phòng. Khi người Pháp
xâm lăng Đà Nẵng , đã chiếm hòn đảo này, phá hũy cơ sở cũ và đặt
một pháo đài ở đó, thì con đường đất đá kia lại được làm cho
rộng rãi và vững vàng thêm (xem hình).

Qua đầu thế kỷ 20,
khi người Pháp thủ đắc Đà Nẵng và dùng hòn Mồ Côi làm trạm khởi
hành của tuyến đường sắt nối liền nơi này với Hội An, thì con
đường lại được mở rộng, qui mô và kiên cố hơn, làm cho người ta
khó nhận diện đâu là hòn Mồ Côi xưa kia nữa, Người Pháp gọi
con đường sắt này là Tramway de l’Îlot
de l’Observatoire à Faifo,
khánh thành vào năm 1905 và bải bỏ vào năm 1916, vì khai thác
không có lợi.
Năm 1966, khi Hải
quân Hoa Kỳ xây dựng cảng sâu Tiên Sa, họ đã lấp luôn cái vịnh
nhỏ ngăn cách hòn Mồ Côi với một mõm đá lớn đâm ra từ bán đảo
Tiên Sa -- mà dân địa phương từng gọi là mủi Mỏ Diều hay núi Mỏ
Diều, và Đại Nam Nhất Thống Chí gọi là Diên Chũy sơn – đã làm
cho cảnh quang thay đổi hòan tòan; đúng là một cuộc bể dâu do
tay người làm nên trong thời đại mới.

Fort de Non-Nay?
Jules
Itier đã nói rõ: fort de Non-Nay nằm trên hòn Mồ Côi. H.
Cosserat sau khi tìm tòi đã phát hiện ra rằng đó chính là Đồn
Hai, nhưng Itier vì nghe phát âm không rõ nên phiên âm sai
thành ra Non-Nay. Vào đầu thế kỷ 20, Cosserat đã xác nhận là
không còn một dấu vết gì của Đồn Hai trên hòn Mồ Côi cả. Nhưng
vì sao lại gọi là Đồn Hai? Vậy thì phải có Đồn Một, và có thể
cả Đồn Ba, Đồn Tư nữa, biết đâu? Muốn trả lời câu hỏi này phải
lần giở lại lịch sử và sách Đại Nam Nhất Thống Chí, tỉnh Quảng
Nam.
Vào cuối
đời vua Minh Mạng (1820-1840), khi được tin về việc Anh đánh
Trung Quốc (Chiến tranh Nha phiến), vua Minh Mạng đã nghĩ đến
việc tăng cường hệ thống phòng thủ các cửa biển, đặc biệt là Đà
Nẵng. Ngoài vấn đề tăng cường hỏa lực (thêm súng đại bác) và
quân số, còn có việc xây thêm pháo đài. Pháo đài quan trọng
nhất tên là Phòng Hải, được Nguyễn Tri Phương xây tại núi Mỏ
Diều.
Đến đời Thiệu Trị
(1840-1847), sau khi xảy ra vụ nổ súng thị uy của hai tàu chiến
Pháp là Gloire và Victorieuse, vua đã cho xây một
lọat bảy pháo đài, đặt tên là Trấn dương thất bảo, để bảo vệ Đà
Nẵng, trong đó, pháo đài thứ hai được biết đặt tại đảo Cô, tức
hòn Mồ Côi. Đến đời Tự Đức, cho tới khi xảy ra cuộc xâm lăng
của Pháp vào năm 1858, thì hệ thống Trấn dương thất bảo chỉ còn
duy trì bốn cái mà thôi, ấy là các pháo đài 1,2,3 và 4.
Như ta
đã biết, Jules Itier chụp hình Đồn Hai vào tháng 5 năm 1845, và
hệ thống bảy pháo đài, trong đó có Đồn Hai, mãi đến năm 1847 mới
có. Vậy thì do đâu mà từ năm 1845 đã có tên Đồn Hai? Sách không
nói rõ chi tiết nhưng căn cứ vào thực tế địa lý và lịch sử, ta
có thể hiểu rằng cái đồn trên hòn Mồ Côi (đảo Cô) là căn cứ có
mặt rất sớm, kế đến năm 1840, khi Nguyễn Tri Phương xây pháo đài
Phòng Hải thì nó xuống vị trí thứ hai và có tên là Đồn Hai. Và
về sau, vào năm 1847, khi vua Thiệu Trị cho thiết lập Trấn dương
thất bảo thì hai căn cứ này trở thành Đồn Một và Đồn Hai. Chỉ
hiểu theo cách đó thì mới phù hợp với những gì nhân chứng và
lịch sử đã ghi nhận.
6/2004
Trở về Trang Chính |