|
LTS: "...Võ Hương An có
cả sự gần gũi, duyên nợ với Huế cũng như lòng yêu thương mảnh
đất Thần Kinh từ những ngày ấu thơ, khiến cho cuốn sách của ông
không là một tài liệu khảo cứu khô khan mà còn mượt mà như một
bài thơ Huế.
“Huế Của Một Thời”, cho chúng ta
bao nhiêu điều lạ lùng, bí ẩn, nhưng lại gần gũi quen thuộc như
những hình ảnh cũ trong chiếc hộp chạm rồng , sơn son thếp vàng
đã phủ bụi thời gian, vừa mở ra trước mắt...." là những cảm
nghĩ của nhà văn Huy Phương dành cho Võ Hương An và
“Huế Của Một Thời” đứa con tinh
thần vừa ra đời của ông.
Khoahoc.net hân hạnh được giới thiệu đến bạn
đọc bài khảo luân ngắn " 'Huế' có từ khi mô ?" , trích đăng từ
“Huế Của Một Thời” của Võ Hương
An.
* * *
Đôi khi cái vỗ vai bất
chợt cũng rất cần thiết, vì nó giúp cho ta tỉnh giấc lơ mơ. Mới
đây, một anh bạn cũng đã vỗ vai tôi như thế, và hỏi: này, cái
tên Huế có từ khi mô? “Huế” do mô mà ra? Nghe hỏi, chợt ngớ
người ra. Mình là Huế thổ sinh, cái tên “Huế” hiện hữu từ thuở
lọt lòng, tự nhiên như thở khí trời, nên có bao giờ thắc mắc làm
chi, cho tới khi gặp cái vỗ vai. Muốn trả lời hai câu hỏi này
chắc phải đi tìm tới tổ sư Huế học là cụ Cadìere
mà
hỏi mới được.
Thực ra, đề tài chẳng mới mẻ chi,
vì đã được nhiều người đề cập, tuy nhiên, câu trả lời vẫn đang
còn bỏ ngõ .
Sự hình thành của Thuận Hóa,Phú Xuân
Không thể nói tới Huế mà không
nói tới Thuận Hóa hay Phú Xuân. Cả ba cái tên này gắn bó với
nhau như một thực thể bất phân ly, nên trước khi đi vào phần
thảo luận, thiết tưởng cũng cần có đôi dòng về sự thành hình của
Thuận Hóa và Phú Xuân để nắm vững rằng ta đang nói về cái gì và
tại thời điểm nào.
Năm
1306, Công chúa Huyền Trân về làm vợ vua Chiêm là Chế Mân, đổi
lấy hai châu Ô và Rý làm sính lễ.
Năm
1307, vua Trần Anh Tông sai Đòan Nhữ Hài vào tiếp thu vùng đất
mới,và đổi tên làm châu Thuận và châu Hóa.
Việc
gom hai châu này làm một, dưới cái tên phủ Thuận Hóa,
được thực hiện dưới thời nội thuộc Nhà Minh. Đến đời Nhà Hậu
Lê, dù có khi gọi là thừa tuyên, hay xứ hoặc
trấn, Thuận Hóa bao giờ cũng là một đơn vị hành chánh cấp
tỉnh. Thuận Hóa, từ thời Nhà Hậu Lê, cho tới khi Nguyễn Hòang
vào trấn thủ năm 1558 là vùng đất trải dài từ phía nam đèo
Ngang cho đến bắc Quảng Nam ngày nay, gồm hai phủ Tân Bình
(Quảng Bình và bắc Quảng Trị) và Triệu Phong (nam Quảng Trị đến
bắc Quảng Nam). Năm 1604, Nguyễn Hòang đã cắt huyện Điện Bàn
thuộc trấn Thuận Hóa, nâng lên thành phủ, sáp nhập vào trấn
Quảng Nam. Như vậy, có thể nói gọn lại rằng Thuận Hóa dưới thời
các chúa Nguyễn, nghĩa là trong hai thế kỷ 17 và 18, chính là
vùng đất trãi dài từ phía nam đèo Ngang cho tới đèo Hải Vân.
Năm 1558, Đoan Quận Công Nguyễn Hòang (tục gọi
Chúa Tiên), được anh rể là Trịnh Kiểm tiến cử vào trấn thủ Thuận
Hóa. Ông lập dinh tại làng Ái Tử, huyện Đăng Xương ( thuộc
huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị bây giờ.)
Năm 1570, Nguyễn Hòang dời dinh
vào làng Trà Bát, phía nam của Ái Tử (vẫn thuộc Triệu Phong),
gọi là Dinh Cát.
Năm
1626, để chuẩn bị cho việc chống lại họ Trịnh ở phía bắc, Chúa
Sãi Nguyễn Phúc Nguyên dời dinh xa hơn về phía nam, đến làng
Phước Yên (Phúc An) thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên bây
giờ, và đổi Dinh làm Phủ.
Năm
1636, Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan chọn làng Kim Long, thuộc
huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, làm nơi đặt Phủ mới.
Năm
1687, Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Trăn, dời Phủ chúa về làng Phú
Xuân, cũng thuộc huyện
Hương-Trà – tức khu vực đông nam của Kinh thành Huế hiện nay
Năm
1712, chúa Minh Nguyễn Phúc Chu lại dời phủ về phía bắc, thuộc
làng Bác Vọng , huyện Quảng Điền, Thừa Thiên.
Đến
khi Võ Vương Nguyễn Phúc Khóat lên cầm quyền năm 1738 thì phủ
chúa mới trở về lại vị trí Phú Xuân, hơi dịch về phía trái một
chút, và yên vị từ đó cho đến ngày thất thủ (1774) về tay quân
họ Trịnh do Hòang Ngũ Phúc chỉ huy.
Năm
1802, sau khi thống nhất đất nước, vua Gia Long đã “đóng đô ở
Phú Xuân, mới gọi là Kinh sư” (Đại Nam Nhất Thống Chí,
Kinh sư).
“Huế”, theo Thái Văn Kiểm
Học giả Thái Văn Kiểm, một nhà Huế học nổi tiếng từ lâu, trong
bài viết Rồng chầu ngòai Huế, với tiểu mục Nguyên ủy
chữ Huế (THÁI VĂN KIỂM, Việt Nam Gấm Hoa, Làng Văn,
Canada, 1997, tr. 147-149),đã đưa ra những kiến giải sau:
1)
Chữ Huế bắt
nguồn từ chữ Hóa trong địa danh Thuận Hóa. Hóa biến thành Huế
có thể là do việc kiêng tên của một nhân vật quan trọng nào đó
(tổ tiên, thành hoàng), có thể là tên ông Nguyễn Nạp Hóa, cháu 6
đời của ông Nguyễn Bặc -- công thần của Nhà Đinh -- tổ của Nhà
Nguyễn.
2)
Có thể chữ
Huế đã xuất hiện trong thời kỳ Nam Bắc phân tranh, căn cứ trên
những dữ kiện về ngôn ngữ và tự điển. Chẳng hạn:
-Trên
bản đồ Việt Nam in trong tự điển Dictionarii
Latino-Annamitici (tome II) của Taberd, in năm 1838 tại Ấn
Độ, thấy có tên Huế.
-Trong
tự điển Dictionarium Annamitico-Latinum của Pigneau de
Béhaine và J.L. Taberd có giải thích, Huế: provincia regia
Cocincinae.
- Trong
hồi ký Souvenirs de Huế xuất bản năm 1867 tại Paris của
Michel Đức Chaingeau -- con trai của Jean Baptiste Chaigneuau,
tức Đức Thắng Hầu Nguyễn Văn Thắng, một trong những người Pháp
theo giúp vua Gia Long, có công, làm quan tại triều đình Huế --
cái tên Huế nhiều kỷ niệm về Huế hồi đầu thế kỷ 19 đã được ghi
lại một cách rõ ràng.
3) Tác
giả cũng dẫn thêm rằng có thể do kiêng tên bà Hồ Thị Hoa, chánh
cung của vua Minh Mạng (1820-1841), thân mẫu của vua Thiệu Trị
(1841-1847) -- vì Hoa và Hóa đọc na ná -- nên Hóa phải đổi thành
Huế. Bằng cớ là người Huế tránh nói chữ “hoa”, nên gọi hoa là
bông, ba, hay huê, tỉnh Thanh Hoa đổi làm tỉnh
Thanh Hóa.
Thật
vậy, về ý kiến cho rằng chữ Huế là do đọc trại từ chữ Hóa mà ra,
vì lý do kiêng húy của một nhân vật quan trọng nào đó, chẳng
hạn, có thể là húy ông tổ sáu đời của Nhà Nguyễn là Nguyễn Nạp
Hóa, hoặc húy của bà Hồ Thị Hoa, chánh cung của vua Minh Mạng,
thì nghe ra không hợp lý, vì hai lẽ:
-Trong tộc phổ họ Nguyễn, không thấy tên Nguyễn Nạp Hóa là cháu
sáu đời của ông tổ Nguyễn Bặc (
TÔN THẤT HÂN, Genéalogie des Nguyễn avant Gia Long, BAVH,
No3, 1930.) Mặt khác, nếu nói như vậy thì tôi cũng có thể
đưa ra một bằng cớ khác, có vẻ rõ ràng hơn, đó là việc chúa
Thượng có một người vợ mà ông rất cưng quí, người Quảng Nam, họ
Đòan (về sau được truy tôn là Thần Tông Hiếu Chiêu Hòang Hậu),
có mẹ tên là Vũ Thuận Hóa (QUỐC SỬ QUÁN, Đại Nam
Liệt Truyện, Tập 1,Viện Sử học, NXB Thuận Hóa, Huế,1997, tr.
25). Có phải vì vậy mà đọc trại thành Thuận Huế, rồi thành
Huế chăng?! Chúng tôi không tin như thế!
-
Thật ra, không cần thiết phải dẫn những sách vở hay họa đồ của
đầu thế kỷ XIX, như nhiều người đã làm, để chứng minh sự hiện
diện của Huế, vì ngay từ nửa
sau thế kỷ XVIII -- nghĩa là ngay cả
trước khi hồi ký về Huế của Đức Chaigneau ra đời vào năm 1867,
hay tự điển của Taberd xuất bản năm 1838 -- thì cái tên Huế đã
chễm chệ có mặt hẳn hoi rồi.
Chẳng hạn, năm 1787, Le Floch de la Carrière đã vẽ
bản đồ duyên hải Đàng Trong (cho Bộ Hải Quân Pháp) từ cù lao
Chàm-Hội An cho đến Huế, theo dữ kiện thu thập được trong các
năm 1755-1756, trong đó bản đồ đô thành Huế được vẽ một cách
khá rõ và cái tên Huế đã được ghi, như cách người Pháp thường
viết về sau: HUÉ ( BOUDET &
MASSON, Iconographie Historique de l’Indochine Française,
Paris, 1931, Pl. XVI, xem hình) .

Bản đồ này vẽ năm 1787,
trên đó, cái tên HÚE đã được ghi rất rõ
“Huế”, theo L. Cadière, và
“Huế”, theo Nguyễn Hy Vọng
Thời họ
Nguyễn lập nghiệp ở miền Nam thì người Tây Phương cũng bắt đầu
tới lui Đàng Trong ngày một nhiều, sớm nhất là người Bồ Đào
Nha. Khai thác nguồn tài liệu hồi ký và bút lục của các nhà
truyền giáo, các sĩ quan hàng hải, các nhà ngọai giao Tây phương
đã từng đến Đàng Trong, L. Cadière và các hội viên khác đã viết
một loạt bài đăng rải rác trên nhiều số BAVH, lấy tên chung là
Les Européens qui ont vu le Vieux-Hué (Những người Âu châu
đến Huế-Xưa), mỗi số giới thiệu một người, khởi đi từ khi
Huế chưa thành hình, với Cristoforo Borri -- đến Thuận Hóa
trong khỏang 1618-1621 -- cho đến Dutreuil de Rhins,
đến Huế năm 1876, là chấm dứt chuyện Huế-Xưa.
Theo
đó, Cadière đã chia sự thành hình của Huế qua những thời kỳ
khác nhau:
-
Tiền-Huế (pré-Hué), nghĩa là Huế của thời chưa được các chúa
Nguyển chọn làm thủ phủ, Huế trước 1636.
-
Huế-Kim Long, là Huế kể từ lúc chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan
dời phủ từ Phước Yên vô Kim Long vào năm 1636;
-
Huế-Phú Xuân, là Huế kể từ khi chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn
lập phủ ở làng Phú Xuân năm 1687;
-
Và Cuối
cùng là Huế -Gia Long, Minh Mạng, kể từ năm 1802 (CADIÈRE,
Les Européens qui ont vu le Vieux-Hué, BAVH., No.3, 1915,
tr. 231.)
Chính qua
bài giới thiệu về linh mục Alexandre de Rhodes mà ta có thể thấy
được kiến giải của Cadière về “Huế”.
Linh mục A. de Rhodes
(1591-1660), người Pháp, là giáo sĩ dòng Tên, đã đến Đàng Trong
và Đàng Ngòai nhiều lần. Ông để lại nhiều công trình biên khảo,
trong đó, liên quan tới đề tài này là cuốn tự điển Việt-Bồ-La (Dictionarium
Annamiticum Lusitanum et Latinum, xuất bản tại La Mã năm
1651) và cuốn hồì ký Voyages et Missions du P.A. de Rhodes
(xuất bản lần đầu năm 1653, Paris; lần
thứ hai 1884 ). Khi viết về A. de
Rhodes, Cadière đã căn cứ phần lớn vào ấn bản 1884.
Từ Macao, A. de Rhodes đã
đến Đàng Trong lần đầu vào khỏang đầu năm 1625 và ở lại cho đến
tháng 7 năm 1626 thì được lệnh ra Đàng Ngòai. Trong năm đó, ông
đã cùng linh mục de Pina đi từ Quảng Nam ra Quảng Trị để gặp
chúa Sãi, vì bấy giờ Chính Dinh vẫn còn đặt tại Trà Bát. Họ đi
bằng đường bộ và lộ trình bắt buộc phải đi ngang qua Huế (sau
này) mà A. de Rhodes gọi là province de Hoâ (tỉnh
Hoâ)( CADIÈRE, bài đã dẫn,bđd., tr.242.). Năm 1626, chúa Sãi
dời dinh từ Trà Bát vô làng Phước Yên (tức Phúc An, thuộc huyện
Quảng Điền, Thừa Thiên), và đổi Dinh làm Phủ. Không rõ A. de
Rhodes có biết việc này trước khi rời Đàng Trong hay không, vì
không nghe nói tới.
Lần thứ hai, A. de Rhodes đến Huế là trong khỏang
1640-1645. Bấy giờ là thời của chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan
(1635-1648). Khi đó thì phủ chúa đã dời vô làng Kim Long (Hương
Trà, Thừa Thiên), bên bờ sông Hương, được bốn năm. A. de Rhodes
đã có dịp đến phủ chúa ở “cái thành phố mà chúa lập dinh gọi
là Kẻ Huế” (“. . . la ville òu le Roi fait son séjour
s’apple Kehue.” - CADIÈRE, bđd., tr.242.)
vì ông có một con chiên rất ngoan
đạo là Minh Đức Vương Thái Phi (tên Thánh là Maria Madalena), vợ
thứ của chúa Tiên Nguyễn Hòang, nhờ vậy ông có thể ghi lại những
điều mắt thấy tai nghe về Huế-Kim Long lúc bấy giờ. Đại khái đó
là một đô thị đang được xây dựng, có nhiều đường sá, nhà cửa
đông đúc, phủ chúa tuy không nguy nga đồ sộ nhưng đẹp đẽ và tiện
nghi. Ông cũng có cơ hội tham dự một cuộc tiếp khách ngọai quốc
tại phủ chúa, dự kiến một cuộc thao diễn thủy quân trên sông
Hương do chúa Thượng chỉ huy, và một cuộc thao diễn trên bộ,
phối hợp bộ binh và kỵ binh.
Trong tự điển Việt-Bồ-La, A. de
Rhodes đã giải thích chữa “hóa” như sau:

(hình chụp lại từ cột 329 trong tự điển)
Bản dịch của BS Nguyễn Hy Vọng (Từ-Điền
Nguồn Gốc Tiếng Việt,
ấn bản điện tử CD, mục giải thích chữ Huế):
hǒá, kẻ hǒá, thŏân hŏá:
-corte
de Cochinchina que os portugueses chamao Sinua”
“triều
đình của xứ Cochinchina [xứ Đàng Trong] mà người Bồ
đào nha gọi là Sinua”
-regia
Cocincinensis à lusitanis dicta Sinua. kẻ hóe, idem.
“triều
đình của xứ Cocincinensis mà người Bồ đào nha gọi là
Sinùa, kẻ hóe. cũng thế.
(NHV in
đậm và gạch đít)
Căn cứ vào
cách viết của A, de Rhodes về các chữ “hóa”, “hòa” ( ngày nay)
trong tự điển, Cadière cho rằng mấy chữ (province de)
Hoâ và Kehue mà A. de Rhodes ghi lại
trong hồi ký chính là các chữ hǒá và kẻ hóe
trong tự điển, chứ không có gì khác. L. Cadière đã có nhận định
như sau (CADIÈRE, bđd., tr.243):
- Vào thời
của A. de Rhodes, dạng viết Huế như ngày nay chưa
có, vì nếu có thì đã được de Rhodes ghi lại rồi;
- Cái tên Huế vào thời A. de Rhodes là Hóa,
với dạng Hoé mà ngày nay không còn nữa, còn cái tên Huế
thì chưa thông dụng .
Nếu kết
luận như Cadière thì cái tên mà A. de Rhodes đã ghi lại trong
hồi ký, như Kehue, chỉ là một cách ghi âm không chính
xác. Huế đã bắt dầu có từ thời Huế-Kim Long (1636) với cái tên
là Hóa, còn
Hóa
biến thành Huế khi nào và vì sao thi không thấy đề cập. Chúng
tôi sẽ trở lại ý kiến này ở phần sau.
Cùng một
nguồn tài liệu đã dẫn ở trên, BS. Nguyễn hy Vọng lại có một nhận
định khác hẳn. Sau khi trích dẫn tự điển Việt-Bồ-La của de
Rhodes, tác giả của Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt (ấn bản
điện tử dưới dạng CD), khẳng định:
“Như vậy
là hóa, huế, hai âm này đã có, đã nói, đã gọi như
thế, đã viết khác và đọc khác từ trước, đương nhiên là trước
cả năm 1651 nữa.”
Ông cũng
trích dẫn câu văn có chữ Kehue để làm mạnh thêm cái lý của mình
, và ông cũng nhận định rằng “. . . các từ điển về sau, sau đó
187 năm, bắt chước cách viết hue của ông cố đạo A.
de Rhodes” [đó là các từ điển của Taberd, 1838; Pingeau de
Béhaine, 1838; Hùynh Tịnh Của, 1895.]
Khẳng
định đó của Nguyễn hy Vọng cho ta hiểu rằng, Huế đã có tên riêng
là Huế ngay từ trước 1651 (năm xuất bản tự điển Việt-Bồ-La), chứ
chẳng dính gì đến Hóa của châu Hóa hay Thuận Hóa.
Nghiêm Đức Thảo và “thóc Huế”
Trong Đặc san Quảng Trị, Xuân Tân Tỵ 2001
(Virginia, USA), tác giả Nghiêm Đức Thảo, trong bài viết Qua
truông Nhà Hồ đã có một kiến giải rất mới về nguồn gốc của
Huế. Theo đó, vua Lê Thánh Tông (1442-1497) có lẽ là người đầu
tiên nói đến địa danh Huế.
Trong bài
văn nôm Thập giới cô hồn quốc ngữ văn, Lê Thánh Tông đã
viết một câu trong đó có tên Huế rất rõ ràng: “Hương kỳ nam,
vảy đồi mồi, búi an tức, bì hồ tiêu, thau Lào, thóc Huế, thuyền
tám tầm chở đã vạy then. (Thơ Văn Lê Thánh Tông,
Viện Nghiên Cứu Hán-Nôm, Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1981, tr.
134.)
Theo ông,
“Bài thơ này được trích lại từ tập Minh Lương Cẩm Tú,
sáng tác trong năm Tân Mão, 1471, lúc nhà vua vượt đèo Ngang vào
đánh Chiêm Thành . . .”
“Rõ
ràng câu văn của Lê Thánh Tông đã có một căn bản địa lý lịch sử.
Vậy thì tại sao cứ phải gọi Huế là do Hóa trong Thuận Hóa nói
trại ra. Chẳng lẽ một nhà văn một nhà thơ nổi tiếng như vua
Lê Thánh Tông, không đủ cho chúng ta tin, để cứ phải tin vào văn
liệu các nhà ký sự Tây phương viết ra sau đó 156 năm. Có lẽ nào
vua Lê Thánh Tông đã lầm khi viết Huế là một địa danh bên cạnh
địa danh Lào? “ (tr.140-141)
Sau khi
dẫn chứng và lập luận để củng cố kiến giải, ông đi đến kết
luận:
“Cũng vậy, phải nói địa danh Huế có trước khi vua
Lê Thánh Tông ghé đến, ít ra là trước năm 1497. Xóa khai sinh
của một địa danh khi chưa cố gắng tìm ra chứng liệu khả tín
trong kho tàng lịch sử dân tộc; nhận những dòng ký sự Tây
phương như chứng liệu duy nhất, đó là một việc làm thiếu thận
trọng.” (tr.142)
Trong việc tìm về cội nguồn của mình, tôi cũng
rất muốn tin và nghĩ như Nghiêm Đức Thảo nhưng sao vẫn có nhiều
nghi vấn ám ảnh như áng mây mờ.
Hãy nói về hai chữ thóc Huế trong bài văn của Lê Thánh
Tông. Xin hãy lưu ý một điều: chữ Hóa trong Thuận Hóa là chữ
Hán, còn chữ Huế là chữ Nôm. Cả hai chữ Hóa và Huế khi viết
trên giấy trắng mực đen đều có một lối ký tự giống nhau là
化,
và tùy ngữ cảnh (context) mà đọc Hóa hay Huế.
Vậy thì
sao lại chỉ có thể đọc là thóc Huế mà không đọc thóc
Hóa ? Dẫu có đọc thóc Hóa thì nghĩa câu thơ cũng
không có gì thay đổi.
Mặt
khác, đọc là thóc Hóa thì mới đúng với điều kiện sản xuất
tại địa phương hơn. Vì sao? Vì ngay cả Huế bây giờ ( 2004),
rộng lớn và đông dân hơn thời Huế-Lê-Thánh-Tông (?) gấp bội cũng
chưa phải là một nơi sản xuất lúa dồi dào để có tiếng là thóc
Huế, mà phải là cả vùng Thuận Hóa hay châu Hóa, thì mới đủ sức
làm ra thóc Hóa được.
“Huế” có từ khi mô?
Ý kiến của học giả Thái Văn Kiểm cho rằng cái tên
Huế đã xuất hiện trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh không mấu
thuẩn với nhận định của linh mục Cadière. Tuy nhiên, khi cho
rằng “Huế” thành hình kể từ Huế-Kim Long (1636 trở đi) thì thời
điểm của Cadière tương đối xác thực hơn. Tôi hòan tòan tán thành
quan điểm của Cadière.
Khi tới
Huế lần thứ hai (1640-1645), được mục kích Huế-Kim Long, A. de
Rhode đã rất ngạc nhiên về sự quần tụ đông đảo của dân chúng, và
ông đã dùng những chữ như grande ville (đô thị lớn),
grande foule de peuple (đám đông dân chúng) để diễn tả, và
chính điều này đã khiến Cadière nghĩ rằng Huế-Kim Long lúc đó
không phải chỉ đơn giản có làng Kim Long mà thôi mà còn phải kể
đến các làng chung quanh như Xuân Hòa, Vạn Xuân, An Ninh
và Phú Xuân nữa. Chỉ nội với một đòan quân đông đảo hơn 6,000
người cùng với gia đình của họ, thêm vào đó là quan lại và gia
đình, chưa kể dân chúng, thì số người tụ hội sinh sống không
nhỏ, một mình Kim Long không thể dung chứa đủ. Việc kể thêm các
làng chung quanh vào Huế-Kim Long lúc bấy giờ là hợp lý. Điều
này cũng dễ hiểu như về sau này mọi người đều chấp nhận rằng
Huế không phải chỉ gói trọn trong Kinh thành mà còn phải tính
đến cả vùng chung quanh, kéo dài đến Bao Vinh, lên đến Thiên Mụ
và vùng các lăng tẩm, xuống đến Vỹ Dạ, Cửa Thuận, mặc dầu những
vùng này, trước 1975, không thuộc khu vực hành chánh của Huế.
Với uy thế
chính trị mới, với sự quần tụ đông đảo của dân chúng, cái tên
Huế nếu có bắt đầu xuất hiện cũng là điều hợp lý. Khi nói
bắt đầu xuất hiện, nên hiểu theo hai nghĩa : thứ nhất, có
thể là nó chưa có, bây giờ mới được đặt tên; thứ hai, nó đã có
sẵn rồi, nhưng bây giờ, do ở trong một điều kiện khác, mới được
người ta lưu ý và công nhận. Tôi chọn nghĩa thứ hai, lý do như
sẽ trình bày phần tiếp đây.
“Huế” từ mô ra ?
Trong khi
đi tìm giải đáp cho câu hỏi:
Huế” từ mô ra? tôi nhận thấy có mấy điểm đặc biệt sau
đây, mà hầu như chưa có ai quan tâm đề cập:
1)Thứ nhất, trong nguồn sử liệu Việt Nam, không thấy có tài liệu
nào nói tới chữ “Huế” . Tại sao?
Ngọai trừ
Quốc Triều Chính Biên Tóat Yếu (QTCB., ấn bản điện
tử,www.honosoft.com.). Tất cả, khi nói tới Huế, đều dùng cái
tên Phú Xuân hoặc Kinh đô, hoặc Kinh, chứ không dùng cái tên
Huế bao giờ. Trong QTCB, Huế được nhắc đến nhiều lần trong các
trang 172,199,215,216,217 nhân khi nói về mối quan hệ với Pháp.
Sách này do Tổng tài Quốc Sử Quán Cao Xuân Dục soạn năm1908 –
nghĩa là lúc nền bảo hộ của Pháp đã hết sức vững vàng -- sau đó
vua Khải Định (1916-1925) truyền dịch ra quốc ngữ để phổ biến
các trường, năm 1925. Lúc đó thì ảnh hưởng của Pháp đã hết sức
lớn lao, quan lại Việt Nam bắt chước người Pháp-đô-hộ gọi
Kinh đô Phú Xuân là Huế, là chuyện đương nhiên. Bộ Việt Nam Sử
Lược của Trần Trọng Kim ( tập I và II, Institut de l’Asie du
Sud-Est, Paris, 1987,) cũng đi theo hướng đó. Đây là bộ sử đầu
tiên của Việt Nam viết bằng chữ quốc ngữ, và trong khi viết,
ngoài nguồn sử liệu truyền thống, tác giả đã sử dụng nguồn sử
liệu của phương Tây, và thế là cái tên Huế bỗng nương
theo đó, không kèn không trống, xuất hiện một cách rất tự nhiên
(từ trang 254 trở đi của tập II mới có, khi nói về những sự kiện
liên quan đến Pháp).
Một địa phương Việt Nam thường có hai tên, một tên chính thức
bằng chữ Hán, và một tên Nôm do dân chúng đặt. Ví dụ làng Lại
Ân và làng Sình ở Huế là một. Trong trường hợp như thế, sử
sách Nhà Nguyễn có khuynh hướng chỉ ghi tên chính thức, tên
“chữ” (Hán) và thường bỏ qua cái tên thông tục. Đại Nam Nhất
Thống Chí (Kinh sư-Thừa Thiên Phủ) không biết tới cửa Thượng Tứ,
cửa Đông Ba, và cửa Ngăn; còn dân Huế thì không quan tâm tới
cửa Đông Nam, cửa Chính Đông và cửa Thể Nhơn, mà chỉ quen thuộc
với cửa ThượngTừ, cửa Đông Ba và cửa Ngăn mà thôi. Đó là sự
khác nhau giữa sách vở và thực tế. Và đó là lý do cái
tên Huế không có trong sử liệu Nhà Nguyễn, mặc dầu nó vẫn hiện
hữu.
2)
Thứ hai, hầu
như chỉ có thể tìm thấy dấu vết của Huế trong tài liệu của Tây
Phương.
Tại sao?
Thật vậy, tại Đàng Trong, trong hai thế kỷ XVII
và XVIII, có ba địa điểm quan trọng mà Tây phương biết đến
nhiều, là: Huế, Hội An, và Đà Nẵng; trong
đó, Huế là trung tâm quyền lực, Hội An là trung
tâm thương mãi, và Đà Nẵng là cửa ngõ hàng hải.
Rõ ràng cả ba địa điểm
này đều có một đặc điểm giống nhau, ấy là cùng một địa phương
nhưng ông nói gà bà nói vịt, nghĩa là sử liệu Việt Nam không hề
đả động tới những cái tên như Huế, Faifo, và Tourane thì tài
liệu Tây phương cũng hầu như không bao giờ nói tới Phú Xuân,
Hội An và Đà Nẵng, mặc dầu cả hai bên cùng nói về một địa
phương và biết rất rõ về địa phương đó!
Và điều
này đáng cho ta đặt ra câu hỏi tại sao.
Theo
thiển ý, nguyên nhân là thế này: buổi đầu, khi mới đặt chân lên
một địa phương lạ, người Tây phương, trước nhất là các nhà
truyền giáo, thường hỏi dân địa phương để biết nơi đó gọi là
gì. Câu trả lời của dân sở tại thường là cái tên thông tục, chứ
ít khi là cái tên chính thức của nhà nước. Người Tây phương
sẽ ghi lại theo cách nghe, cách hiểu và cách viết của nước họ.
Những cái tên ban đầu ấy sẽ phát triển dần dần theo cách
riêng cho đến khi định hình hẳn. Bản đối chiếu mà tôi cung
cấp tạm thời ở trên về ba địa danh Huế, Faifo, Tourane là một ví
dụ.
3)
Thứ quốc ngữ thời A. de Rhodes là lọai quốc ngữ chưa định hình.
Điều
này là một sự thật hiển nhiên khi đọc những tác phẩm viết bằng
quốc ngữ của A. de Rhode. Khi viết, dĩ nhiên phải dựa trên một
nguyên tắc nào đó mới viết được, nhưng nguyên tắc này vào buổi
sơ khai, khá lỏng lẻo, khá du di. Điều này dẫn đến sự bất nhất
trong cách viết của cùng một chữ; ví dụ cách viết các địa danh
trên bản đồ và trong tự điển, có khi không giống nhau, dù cùng
một tay của A. de Rhodes mà ra. Trong bản đồ Đàng Trong và Đàng
Ngòai xuất bản năm 1653. cái tên Thuận Hóa được ghi là
Thoanoa, trong khi tự điển ghi là
thŏân hŏá; hoặc
bản đồ ghi Haifo nhưng tự điển ghi là hǒài phố,
faifo,v.v. Do đó, kết luận của Cadière, như đã dẫn
ở trên, không lấy chi làm thuyết phục lắm.
Những
suy nghĩ tại các điểm 1); 2); và 3) nêu trên dẫn tôi đi đến
chỗ
4)
Tôi nghĩ rằng Kehue là Kẻ Huế. Huế là từ Kẻ Huế/Kẻ Hóa mà ra.
Từ cầu
Bạch Hổ đi lên chợ Kim Long là vùng đất của hai xã Vạn Xuân và
Kim Long. Con sông đào -- trên đó cầu Bạch Hổ vắt qua để dẫn
đến Vạn Xuân, Kim Long -- nối liền sông Hương ở phía nam và Hộ
Thành hà ở phía bắc, có tục danh là sông Kẻ Vạn
Từ
cửa Hũu đi ra, băng qua đường An Hòa (tức một đọan của QL1 cũ),
khách sẽ qua bến đò Kẻ Vạn, chợ Kẻ Vạn, rồi nhà thờ Kẻ
Vạn.
Khi
đã có Kẻ Vạn ở Vạn Xuân, tại sao lại chối bỏ Kẻ Huế ở Kim Long,
khi A. de Rhode đã ghi rõ ràng rằng “cái thành phố mà chúa
lập dinh gọi là Kẻ Huế “ ?
Tác
giả Nguyễn hy Vọng đã ghi nhận, “Như vậy là hóa, huế,
hai âm này đã có, đã nói, đã gọi như thế, đã viết khác và
đọc khác từ trước, đương nhiên là trước cả năm 1651 nữa.”
.
Sự hiện
hữu của hai âm hóa, huế về cùng một địa phương và có giá trị
như nhau cho phép ta nghĩ rằng vào thời bấy giờ Kim Long còn
có một tên khác là Kẻ Huế hay Kẻ Hóa (kiểu như Vạn Xuân với Kẻ
Vạn vậy), tùy theo cách gọi của dân chúng.
Vì là
cái tên thông tục nên sử sách chẳng ghi nhận làm gì, nhưng với
người ngọai quốc, nhất là các nhà truyền giáo thì khác. Vùng
này thì hẳn A. de Rhodes không lạ lùng gì, vì là đất của bổn
đạo. Khi trở lại Đàng Trong lần thứ hai, mặc dầu đã đến nơi và
biết rõ chúa Nguyễn lập phủ ở Kim Long nhưng A.de Rhodes lại
không đã động gì tới cái tên Kim Long, chỉ ghi nhận cái địa
danh Kẻ Huế. Vì sao? Vì Kim Long là cái tên chính thức, xa
lạ, còn Kẻ Huế mới là cái tên quen thuộc, là nơi trước kia
bổn đạo của ông đã ở nhưng nay phải thiên di chỗ khác cho chúa
lập phủ. Đó là nguyên nhân khiến Kẻ Huế hay Kẻ Hóa không còn
tồn tại như Kẻ Vạn, nhưng tồn tại trong lòng con chiên, và tồn
tại trong hồi ký của A, de Rhodes.
Dẫu cho
con đường của “Huế’ đi có quanh co, gián đọan, nhưng “Huế” vẫn
từ Huế mà ra, và đã trở về vĩnh viễn với Huế./
VÕ HƯƠNG-AN
11/2004
Ý kiến, Phê bình xin gửi về :
vohuongan@khoahoc.net

(Sách
dày 256 trang- Nam Việt xuất bản 2006. Giá bán $15.00, bao gồm
bưu phí gởi đến nhà. Chi phiếu xin đề HANG HO, 14011 Milan St.,
Westminster, CA 92683)
Trở về Trang Chính |